Thứ bảy 12/09/2026 05:16
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định pháp luật về di chúc có điều kiện

Có thể hiểu, di chúc có điều kiện là sự thể hiện ý chí của người lập di chúc nhằm mang lại lợi ích cho người thụ hưởng trên cơ sở hành động của người này thực hiện điều kiện mà người để lại di chúc đưa ra. Trên thực tế, người để lại di chúc thường giao nghĩa vụ cho người được hưởng di sản theo di chúc và người lập di chúc có quyền xác lập nguyện vọng của mình trong di chúc với điều kiện dành cho bên thụ hưởng. Chính vì vậy, việc quy định cụ thể về di chúc có điều kiện là cần thiết. Tuy nhiên, bên cạnh việc trao quyền thì cũng cần quy định hạn chế quyền của người lập di chúc đưa ra điều kiện, chẳng hạn như không chấp nhận điều kiện mà vi phạm điều cấm của luật hay trái đạo đức xã hội hay không thể thực hiện được... Với bài viết này, tác giả nêu lên thực tiễn xét xử một số bản án liên quan tới di chúc có điều kiện để cho thấy sự cần thiết bổ sung quy định pháp luật về di chúc có điều kiện, đồng thời đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về nội dung này.


1. Thực tiễn xét xử các bản án liên quan tới di chúc có điều kiện

Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể nào về di chúc có điều kiện, nhưng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 thì người lập di chúc có quyền giao nghĩa vụ cho người thừa kế (khoản 4 Điều 626) và quy định “di chúc có thể có các nội dung khác” (khoản 2 Điều 631). Như vậy, chúng ta có thể suy luận các nhà lập pháp “ngầm” chấp nhận di chúc có điều kiện. Do pháp luật chưa quy định cụ thể về di chúc có điều kiện nên hiện nay, về phương diện pháp lý và thực tế, điều kiện di chúc chỉ được chấp nhận và bắt buộc người hưởng di sản thực hiện khi và chỉ khi điều kiện đó không vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội. Do đó, theo tác giả, việc quy định cụ thể về di chúc có điều kiện là thực sự cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Với tính chất “đặc thù” của di chúc nên chúng ta nghiên cứu thông qua một số bản án như sau:

Bản án thứ nhất: Trước khi chết, cụ B, cụ U đã phân chia đất cho các con. Trong đó, con trai 05 công, con gái 03 công, các con đã nhận sử dụng không tranh chấp, phần còn lại có làm di chúc và làm giấy bán ruộng để lại cho ông H với diện tích 7.197 m2 là thật. Ông G không nhận cha mẹ có làm di chúc, giấy viết tay bán ruộng cho ông H là không trung thực. Trên thực tế, sau khi nhận phần đất ông G đang ở, di chúc có điều kiện là ông G phải cúng giỗ cho cụ U sau này, nhưng ông không thực hiện nghĩa vụ. Sau khi cụ U bị bệnh, ông H đã rước về nuôi dưỡng đến khi cụ U chết, làm đám tang và cúng giỗ đến nay (về cụ B, ông H thờ và cúng giỗ, theo di chúc đã thực hiện). Như vậy, có đủ căn cứ xác định ông H được cụ B, cụ U để lại di chúc phần đất 7.197 m2, ông H mua 1.300 m2, tổng cộng là 8.497 m2. Nhưng ông H chỉ được cấp giấy chứng nhận 6.540 m2, hiện đo thực tế phần đất ông H đang sử dụng là 10.036,6 m2, chênh lệch giữa di chúc và diện tích đã mua so với đo đạc thực tế là 1.539,6 m2, so với giấy được cấp là 3.496,6 m2. Theo ý chí của cụ B, cụ U xác định thì chỉ còn 7.197 m2 đã lập di chúc và bán cho ông H.

Tòa án đã xác định tồn tại di chúc có điều kiện trong bản án là ông G phải cúng giỗ cho cụ U sau này, nhưng ông không thực hiện nghĩa vụ. Tuy nhiên, Tòa án lại không đưa ra được căn cứ nào xác định rõ bản án liên quan tới di chúc có điều kiện. Mặt khác, điều kiện xác lập trong di chúc có điều kiện là liên quan tới nghĩa vụ cấp dưỡng. Vậy có phải điều kiện được xác lập trong di chúc có điều kiện có thể là bất cứ một nghĩa vụ nào mà bên hưởng di sản phải thực hiện thì mới được nhận di sản?

Thông qua lời khai của những người có liên quan và người làm chứng thì người được hưởng di sản đã thực hiện đúng điều kiện được xác lập trong di chúc có điều kiện. Tuy nhiên, Tòa án không đưa ra được căn cứ xác định việc hoàn thành điều kiện. Do đó, nếu không có lời khai của những người có liên quan và người làm chứng, thì cơ sở xác định việc người được hưởng di sản hoàn thành điều kiện sẽ dựa vào đâu? Tổ chức, cá nhân nào có quyền xác nhận cho vấn đề này bởi người lập di chúc đã chết?

Như vậy, mặc dù việc nhận định của cơ quan xét xử về di chúc có điều kiện mới chỉ là nhận định chủ quan, nhưng di chúc có điều kiện đã được xác lập trên thực tế, có tranh chấp dù pháp luật chưa quy định cụ thể.

Bản án thứ hai: Bà T và ông N là hai chị em ruột. Cha của hai ông, bà mất sớm nên bà T và ông N được ông nội là cụ V nuôi dưỡng, chăm sóc. Ông nội chết có để lại 287 m2 đất thổ cư thuộc thửa 44, tờ bản đồ 8-3-1 và phần đất ruộng khoảng 4.000 m2 trong đó có thửa 225, tờ bản đồ 8-1 tọa lạc thị trấn Đ. Do bà T hay bị bệnh nên trước khi ông nội chết đã để lại di chúc lập ngày 05/6/1985 có chứng thực của Ủy ban nhân dân thị trấn Đ với nội dung: Giao tài sản cho ông N quản lý với điều kiện ông N phải có trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc bà T và cho bà T ở trên phần đất cùng căn nhà do ông nội để lại cho ông N. Nhưng hiện nay, ông N không thực hiện theo di chúc của ông nội mà la mắng, xua đuổi bà T. Trên phần đất này có 01 căn nhà cấp 4 hiện nay do bà T và con gái của bà đang sinh sống. Ngoài các tài sản trên, cụ V không để lại tài sản nào khác. Nay bà T làm đơn khởi kiện buộc ông N phải chia cho bà 100 m2 đất thổ cư và 500 m2 đất ruộng thuộc một phần thửa 225, tờ bản đồ 8-1 tại thị trấn Đ để bà có nơi sinh sống và có đất canh tác tạo thu nhập.

Giống như bản án thứ nhất, Tòa án cũng không đưa ra được căn cứ phù hợp nào để xác định điều kiện được xác lập trong di chúc có hợp pháp không và sự tồn tại di chúc có điều kiện trên cơ sở nào?

Trong bản án này, ông N cần thực hiện đúng điều kiện được xác lập trong di chúc, nhưng cơ sở để xác định ông N đã hoàn thành điều kiện trong di chúc thì không có quy định. Tòa án căn cứ vào tình hình thực tế và những người làm chứng để xác nhận ông N đã thực hiện đúng điều kiện trong di chúc. Do đó, với việc xác nhận hoàn thành hay không hoàn thành điều kiện trong di chúc cũng là một nội dung cần được quy định cụ thể nhằm bảo vệ quyền lợi của bên thực hiện điều kiện. Điều kiện được xác lập trong di chúc do ý chí của người lập di chúc đưa ra. Di chúc có điều kiện chỉ phát sinh hiệu lực sau khi người lập di chúc chết và điều kiện được hoàn thành. Nhưng khi di chúc có điều kiện phát sinh hiệu lực và người lập di chúc chết thì không có cơ quan hay chủ thể nào có thể xác nhận cho người thực hiện là đã hoàn thành điều kiện. Vì vậy, đây là một trong những nội dung cần quy định cụ thể nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của bên thực hiện điều kiện trong di chúc có điều kiện.

Trên thực tế, người để lại di chúc thường giao nghĩa vụ cho người được hưởng di sản theo di chúc. Người lập di chúc có quyền xác lập nguyện vọng của mình trong di chúc với điều kiện dành cho bên thụ hưởng. Tuy nhiên, có cần thiết phải giới hạn quyền của người lập di chúc thông qua quy định về nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội? Theo tác giả, quy định này là cần thiết nhưng chưa đủ giới hạn quyền hạn của bên lập di chúc đưa ra điều kiện. Bởi với di chúc có điều kiện thì việc được hưởng lợi ích từ di chúc căn cứ vào hành động của người hưởng di sản. Do đó, ở một chừng mực nhất định cũng cần đưa ra những điều kiện nhất định cho phép người lập di chúc được quyền đưa ra điều kiện.

2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về di chúc có điều kiện

Thông qua việc phân tích các bản án trên, theo tác giả, di chúc có điều kiện là một trong những nội dung cần bổ sung, quy định cụ thể trong Bộ luật Dân sự:

Một là, về khái niệm di chúc có điều kiện

Việc không quy định di chúc có điều kiện là một thiếu xót của Bộ luật Dân sự năm 2015. Có thể thấy rằng, tính khác biệt của di chúc có điều kiện đã được thể hiện rõ thông qua các bản án được xét xử tại Tòa án. Do đó, quy định của pháp luật cũng cần kịp thời quy định để bảo đảm quyền của các bên được cân bằng trong giao dịch đặc biệt này. Theo tác giả, trên cơ sở quy định về giao dịch dân sự có điều kiện thì di chúc có điều kiện có thể quy định như sau: “Di chúc có điều kiện được hiểu là sự thể hiện ý chí của người lập di chúc nhằm mang lại lợi ích cho người thụ hưởng trên cơ sở hành động của người này thực hiện điều kiện mà người để lại di chúc đưa ra”.

Hai là, về điều kiện được xác lập trong di chúc

Bản chất của tặng cho có điều kiện và di chúc có điều kiện thể hiện quyền tự định đoạt của người có tài sản. Tuy nhiên, quy định về tặng cho có điều kiện được quy định rõ ràng về điều kiện tặng cho là không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Vì vậy, theo tác giả, điều kiện được xác định trong di chúc có điều kiện cần cụ thể hóa và có thể quy định như sau: “Điều kiện thực hiện phụ thuộc vào một sự kiện chưa chắc chắn. Trong mọi trường hợp, những quy định về điều kiện không thể thực hiện được hoặc vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội được coi là không có”.

Ba là, về hiệu lực của di chúc có điều kiện

Như đã đề cập ở trên, Tòa án khi xử lý các việc dân sự liên quan tới di chúc có điều kiện thường xem xét xác nhận điều kiện không phù hợp với pháp luật, tuyên vô hiệu di chúc có điều kiện và chia di sản thừa kế theo pháp luật. Vậy, cơ quan tài phán thừa nhận gián tiếp hiệu lực của di chúc có điều kiện có sự liên quan tới điều kiện được xác lập trong di chúc có điều kiện đó. Do đó, hiệu lực phát sinh di chúc có điều kiện được xác định khác thời điểm so với di chúc thông thường bởi cần lưu ý tới lợi ích của bên thụ hưởng theo di chúc. Nếu đối chiếu vào các điều khoản được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 thì di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế. Tuy nhiên, với di chúc có điều kiện thì thời điểm phát sinh hiệu lực không xác định được vào thời điểm mở thừa kế bởi có liên quan tới điều kiện được xác lập trong di chúc đó. Do vậy, khi di chúc có điều kiện quy định người hưởng di sản phải thực hiện điều kiện trước hoặc sau thời điểm mở thừa kế thì khi người hưởng di sản thực hiện điều kiện đó thì mới xem như di chúc có điều kiện có hiệu lực dù trên thực tế có thể đã chuyển quyền sở hữu di sản từ người chết cho người thừa kế. Quy định này được Bộ luật Dân sự Nhật Bản năm 1896 quy định tại Điều 985: “Trong trường hợp khi di chúc bị phụ thuộc vào một điều kiện treo và nếu điều kiện này được thực hiện sau khi người lập di chúc chết thì di chúc trở nên có hiệu lực từ khi điều kiện thực hiện”. Bộ luật Dân sự Nhật Bản năm 1896 xác định rõ thời điểm di chúc có điều kiện phát sinh hiệu lực sẽ phụ thuộc vào điều kiện được xác lập trong di chúc có điều kiện đó. Do vậy, theo tác giả, đối với hiệu lực của di chúc có điều kiện cần được cụ thể hóa: “Di chúc có điều kiện có hiệu lực khi điều kiện được thực hiện”.

Bốn là, về hậu quả pháp lý của việc thực hiện điều kiện trong di chúc

(i) Liên quan tới việc xác định điều kiện đã hoàn thành. Tác giả cho rằng, cần thiết bổ sung quy định này. Theo như cách giải quyết của một số Tòa án trong thực tiễn thì căn cứ vào người làm chứng đưa ra lời khai xác định bên thụ hưởng di sản đã hoàn thành điều kiện được xác lập trong di chúc. Tuy nhiên, nếu trường hợp không có lời khai của người làm chứng thì căn cứ cơ sở nào? Theo tác giả, có thể xác định vấn đề này như Bộ luật Dân sự và thương mại Thái Lan năm 1925. Điều 1675 Bộ luật này quy định: “Khi một di sản bị đặt phụ thuộc vào một điều kiện lệ thuộc trước, thì người thụ hưởng theo việc sắp đặt bằng di chúc đó có thể đề nghị Tòa án chỉ định một người quản lý tài sản để lại, cho đến khi điều kiện đó sẽ được hoàn thành hoặc khi việc hoàn thành đó sẽ trở nên không thể thực hiện được”. Như vậy, Bộ luật Dân sự của Việt Nam có thể bổ sung quy định như sau: “Bên hưởng di sản có thể đề nghị Tòa án xem xét chỉ định người giữ di sản và xác nhận điều kiện đã được hoàn thành theo như di chúc có điều kiện”.

(ii) Người thụ hưởng di sản đã hoàn thành điều kiện được giao. Trường hợp này, việc xác định hoàn thành điều kiện của bên thụ hưởng di sản căn cứ vào kết quả của hành động. Do đó, trên cơ sở kết quả của hành động thì người thụ hưởng di sản sẽ được phép hưởng di sản. Trong chế định tặng cho tài sản có điều kiện được Bộ luật Dân sự năm 2015 dự liệu rất rõ các tình huống xảy ra liên quan đến điều kiện. Cụ thể khoản 2, khoản 3 Điều 462 Bộ luật này quy định: “2. Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện. 3. Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại”. Theo tác giả, đối với di chúc có điều kiện cũng cần cụ thể hóa nội dung đó trong Bộ luật Dân sự. Theo đó, trường hợp người thụ hưởng đã hoàn thành điều kiện thì được nhận phần di sản; trường hợp người thụ hưởng đã thực hiện nhưng sau đó không tiếp tục thực hiện thì theo tác giả, trường hợp này được xác định là điều kiện chưa hoàn thành và người thụ hưởng không được nhận di sản. Bởi lẽ, căn cứ vào quy định liên quan tới hiệu lực của di chúc có điều kiện thì hiệu lực chỉ phát sinh khi điều kiện được thực hiện và hoàn thành. Vì vậy, đối với di chúc có điều kiện thì có thể được quy định như sau: “Điều kiện được xác lập trong di chúc có điều kiện được hoàn thành thì bên hưởng di sản được nhận phần di sản được chuyển giao theo di chúc có điều kiện. Trường hợp người hưởng di sản không thực hiện điều kiện hoặc không hoàn thành điều kiện thì sẽ không được hưởng di sản mà di sản sẽ được chia theo pháp luật”.

(iii) Người thụ hưởng di sản bị hạn chế quyền trong việc hưởng di sản, cụ thể như điều kiện trong di chúc được phép sử dụng di sản mà không được chuyển nhượng di sản đó. Thường thì người lập di chúc sẽ đưa ra những điều kiện nhằm ràng buộc “lâu dài” người được hưởng di sản thông qua điều kiện này. Vậy, điều đó có được coi là hạn chế quyền tự do định đoạt của bên thụ hưởng di sản thừa kế? Bởi lẽ, trong mối quan hệ giữa bên để lại di chúc và bên thụ hưởng thì có phần nghiêng theo hướng người thụ hưởng đương nhiên được hưởng lợi ích mà người lập di chúc để lại mà không xem xét ở điều kiện “gây nặng gánh” cho bên thụ hưởng. Ví dụ, Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804 quy định tại Điều 900-1: “Những điều khoản quy định không cho phép chuyển nhượng di tặng chỉ có giá trị nếu chỉ là tạm thời và được chứng minh bằng một lợi ích chính đáng. Ngay trong trường hợp này, người được di tặng có thể được Tòa án cho phép định đoạt tài sản nếu việc cấm chuyển nhượng không cần thiết nữa hoặc mới phát sinh một lợi ích lớn hơn...”. Quy định của Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804 đã hạn chế quyền chuyển nhượng đối với người được di tặng chỉ mang tính chất tạm thời và Tòa án có quyền xem xét và quyết định thời điểm định đoạt tài sản của bên được di tặng.

(iv) Do hoàn cảnh thay đổi, điều kiện được xác lập trong di chúc gây cản trở, khó khăn cho người hưởng di sản. Từ thời điểm lập di chúc đến khi di chúc có hiệu lực thường là một khoảng thời gian khá dài, do đó, trong giai đoạn chờ đợi này vẫn có thể xảy ra những điều kiện làm thay đổi điều kiện ban đầu được xác lập trong di chúc. Quy định liên quan tới tác động của hoàn cảnh thay đổi chỉ được quy định cho hợp đồng theo Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo tác giả, trong trường hợp điều kiện được ghi nhận trong di chúc gây khó khăn hoặc không thể thực hiện thì cơ quan có thẩm quyền cần xem xét lại điều kiện và trách nhiệm kèm theo di sản đó nhằm đảm bảo quyền lợi của người hưởng di sản, bởi đây là yếu tố khách quan không do người hưởng di sản tác động. Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804 quy định tại Điều 900-2: “Người được tặng cho hoặc di tặng có thể đề nghị Tòa án xem xét lại những điều kiện và trách nhiệm kèm theo các tài sản tặng cho hoặc di tặng mà họ đã nhận nếu do hoàn cảnh thay đổi, việc thực hiện trở nên đặc biệt khó khăn hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho họ”. Do đó, theo tác giả, quy định này có thể bổ sung như sau: “Do hoàn cảnh thay đổi, việc thực hiện điều kiện trong di chúc có điều kiện trở nên đặc biệt khó khăn hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho bên hưởng di sản thì người này có thể đề nghị Tòa án xem xét lại những điều kiện và trách nhiệm kèm theo di chúc có điều kiện đó”.

ThS. Phùng Bích Ngọc

Đại học Thương mại Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: