Thứ hai 19/01/2026 19:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định pháp luật về phá sản doanh nghiệp

Bài viết phân tích thực trạng pháp luật về phá sản doanh nghiệp, đồng thời, chỉ ra những vướng mắc, bất cập và đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về phá sản trong thời gian tới.

Luật Phá sản năm 2014 được ban hành đã tạo ra khung pháp lý vững chắc cho việc phá sản các doanh nghiệp. Tuy nhiên, các quy định pháp luật trong lĩnh vực này vẫn còn tồn tại một số bất cập, gây nhiều khó khăn cho hoạt động của các doanh nghiệp cũng như các cơ quan có thẩm quyền liên quan đến việc giải quyết thủ tục phá sản, nhất là trong tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam có nhiều biến động, xuất hiện các quan hệ xã hội mới và những điều kiện làm thay đổi các quan hệ xã hội liên quan đến quá trình giải quyết phá sản của doanh nghiệp. Đặc biệt, sau đại dịch Covid-19, tình trạng các doanh nghiệp Việt Nam gặp những khó khăn và nguy cơ mất khả năng thanh toán xảy ra ngày càng nhiều. Do vậy, đặt ra vấn đề cần phải có giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật để tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết thủ tục phá sản trong thực tiễn.

1. Một số bất cập trong quy định pháp luật về phá sản doanh nghiệp

Thứ nhất, theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật Phá sản năm 2014 thì: “Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán”. Đây là điều kiện phát sinh quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Trong bối cảnh các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn về mọi mặt, đặc biệt là do hậu quả của đại dịch Covid-19 gây ra thì việc mất khả năng thanh toán và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là điều tất yếu.

Tuy nhiên, Luật Phá sản năm 2014 chưa dự liệu được các quan hệ xã hội phát sinh có liên quan đến hoạt động và khả năng tài chính của các chủ thể kinh doanh nói chung khi xảy ra các tình huống đặc biệt như thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, khủng bố… Thực tế cho thấy, trong khoảng thời gian không dài kể từ khi đại dịch Covid-19 xảy ra, các doanh nghiệp, hợp tác xã, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã gặp rất nhiều khó khăn và ảnh hưởng đến khả năng thanh toán các khoản nợ. Với tinh thần của Luật Phá sản năm 2014, nếu người có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản không nộp đơn thì người có nghĩa vụ vẫn phải nộp đơn. Vì vậy, khả năng các doanh nghiệp phải chịu thêm áp lực, chấp nhận để doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản là rất lớn. Việc nộp đơn yêu cầu giải quyết phá sản hàng loạt sẽ khiến Tòa án khó tránh khỏi tình trạng quá tải, không chỉ để giải quyết các vụ việc phá sản mà còn phải giải quyết các vụ án, vụ việc bị tồn đọng do phải thi hành các quyết định áp dụng các biện pháp nhằm hạn chế hậu quả lây lan của dịch bệnh.

Như vậy, rõ ràng, việc tuyên bố doanh nghiệp phá sản trong hoàn cảnh này về mặt pháp lý không sai nhưng chưa thể hiện được mục đích và tính nhân văn, hợp lý của pháp luật, chưa phản ánh đúng bản chất của pháp luật về phá sản doanh nghiệp.

Thứ hai, tài sản phá sản theo Luật Phá sản năm 2014 chỉ bị giới hạn về thời gian (khối tài sản phá sản tính đến thời điểm mở thủ tục và những tài sản phát sinh trong quá trình giải quyết phá sản); không bị giới hạn bởi không gian tài sản tồn tại, loại hình tài sản, nguồn hình thành tài sản và các danh mục loại trừ. Tư duy pháp lý này làm cho nhiệm vụ quản lý, phân chia tài sản phá sản của doanh nghiệp phá sản bị thiếu tính chính xác, không công bằng cho các chủ thể tham gia thanh lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán.

Về phạm vi lãnh thổ của tài sản, tuy Điều 64 Luật Phá sản năm 2014 không quy định rõ về nguyên tắc đối với trường hợp tài sản không nằm trên lãnh thổ Việt Nam nhưng theo quy định tại Điều 117 về ủy thác tư pháp của Tòa án Việt Nam đối với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, có thể hiểu là, trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản, đối với tài sản không nằm trên lãnh thổ Việt Nam, Tòa án thực hiện ủy thác tư pháp theo hiệp định tương trợ tư pháp mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại.

Thứ ba, Luật Phá sản năm 2014 quy định về quyền đề nghị được thương lượng của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và chủ nợ để được rút đơn. Điều này đồng nghĩa với việc Tòa án phải luôn chấp nhận cho sự yêu cầu được thương lượng của các bên, tuy nhiên có phải trong mọi trường hợp, thỏa thuận rút đơn đều được chấp nhận hay không? Rõ ràng, Luật Phá sản năm 2014 đã cho phép các bên quyền thương lượng về việc rút đơn nhưng lại quy định phải đề nghị Tòa án để được rút đơn là chưa hợp lý.

Thứ tư, sau khi nhận được đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Tòa án sẽ xem xét tính hợp lệ của đơn. Trên thực tế, ngoài những quy định về nội dung và hình thức của đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo Luật Phá sản năm 2014 thì một số Tòa án có những hình thức khác nhau để giải quyết đơn yêu cầu như trong đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải có ký tên, điểm chỉ của người yêu cầu (đối với đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản gồm nhiều trang, người yêu cầu phải ký tên, điểm chỉ từng trang).

Sau khi hoàn thành đầy đủ các thủ tục thì Tòa án sẽ tiếp tục các quy trình tiếp theo giải quyết phá sản. Theo quy định của pháp luật hiện hành, trình tự, thủ tục để yêu cầu mở thủ tục phá sản vốn rất phức tạp thì trên thực tế hiện nay, còn cần phải đáp ứng được những hình thức mà các Tòa đưa ra mới có thể tiếp tục được quy trình.

Ngoài ra, theo quy định của Luật Phá sản năm 2014, ngoài việc xem xét đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là hợp lệ thì còn phải có chứng cứ chứng minh các khoản nợ đến hạn kèm theo. Hay nói cách khác, chủ nợ phải chứng minh được doanh nghiệp mất khả năng thanh toán. Trên thực tế, để chứng minh doanh nghiệp mất khả năng thanh toán không phải là điều dễ dàng, nhất là khi các khoản nợ không phải xuất phát từ các hợp đồng vay, mượn về tài chính mà xuất phát từ khả năng thực hiện thanh toán các hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ.

2. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về phá sản doanh nghiệp

Thứ nhất, cần ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung điều khoản quy định về điều kiện mất khả năng thanh toán. Theo đó, ngoài quy định về trường hợp được xem là mất khả năng thanh toán theo quy định của Luật Phá sản năm 2014, cần quy định thêm về mất khả năng thanh toán trong trường hợp đặc biệt (thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, khủng bố…), thời gian 03 tháng sẽ được tính từ ngày đầu tiên sau khi cơ quan, cá nhân có thẩm quyền tuyên bố kết thúc tình huống đặc biệt đó.

Thứ hai, Luật Phá sản năm 2014 khi liệt kê các loại tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán tại Điều 64 nên ghi rõ ràng tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán không giới hạn trong phạm vi lãnh thổ để các cơ chức năng cũng như những cá nhân có thẩm quyền dễ hiểu, tránh gây suy đoán dẫn đến nhầm lẫn, áp dụng không đúng các quy định của pháp luật.

Thứ ba, cần quy định theo hướng, trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày doanh nghiệp, hợp tác xã nhận được thông báo bị nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có quyền thương lượng với chủ nợ nộp đơn về việc rút đơn không cần phải có văn bản đề nghị được thương lượng gửi cho Tòa án và sau khi thương lượng, các bên có nghĩa vụ gửi kết quả thương lượng về cho Tòa án trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày kết thúc việc thương lượng. Như vậy, sẽ tạo cho các bên chủ động hơn trong việc tiến hành thương lượng, hạn chế chi phí và thời gian. Bên cạnh đó, Luật Phá sản cũng cần quy định rõ hơn thế nào là thỏa thuận trái với quy định của pháp luật về phá sản và hậu quả pháp lý của từng hành vi đó nhằm tạo thuận lợi trong áp dụng, khẳng định việc thỏa thuận, thương lượng rút đơn là quyền nhưng không phải mọi thỏa thuận, thương lượng rút đơn đều được chấp nhận. Tòa án vẫn là chủ thể quyết định cuối cùng sau khi xem xét kết quả thương lượng được các bên gửi đến.

Thứ tư, cần xác định rõ như thế nào là một khoản nợ trong thủ tục phá sản. Theo quan điểm của tác giả, khoản nợ không chỉ là những khoản tiền, tài sản theo các hợp đồng vay, mượn tài sản. Đối với một thương nhân hoạt động thương mại, việc giao kết và thực hiện nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ là việc thường xuyên phải thực hiện. Luật Phá sản năm 2014 không xem khoản tiền chậm thanh toán là một món nợ để làm cơ sở nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mà đó chỉ là một hành vi vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ của các bên. Do vậy, trường hợp này, các bên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng và yêu cầu bên còn lại thanh toán. Tuy nhiên, sau khi có bản án xác định khoản nợ và thời hạn thanh toán cho bên bị vi phạm, thì liệu nội dung bản án có được xem là giấy xác nhận nợ của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán hay không? Nếu chưa có bản án giải quyết tranh chấp về chậm thanh toán thì việc Tòa án trả lại đơn là hoàn toàn phù hợp. Tuy nhiên, nếu như tranh chấp trên đã được giải quyết bằng một vụ án đã có hiệu lực pháp luật và chuyển qua cơ quan thi hành án thì cần phải xem bản án như là một minh chứng cho khoản nợ không có bảo đảm.

ThS. Nguyễn Văn Nam

Viện Nghiên cứu pháp luật phía Nam

ThS. Võ Vinh Hiền

Thanh tra Thành phố Hồ Chí Minh

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 386), tháng 8/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.

Theo dõi chúng tôi trên: