Chủ nhật 21/06/2026 08:24
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định pháp luật về quyền bào chữa của bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam

Pháp luật tố tụng hình sự hiện hành đã có nhiều quy định bảo đảm tốt hơn quyền bào chữa. Tuy nhiên, quy định về quyền bào chữa nói chung, quyền bào chữa của bị cáo nói riêng vẫn còn một số điểm hạn chế cần khắc phục. Bài viết này tập trung đưa ra một số giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về quyền bào chữa của bị cáo.

Quyền bào chữa của bị cáo trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam đã được hình thành từ rất sớm, được hướng dẫn bởi các sắc lệnh. Đây chính là những văn bản pháp lý đầu tiên đặt nền móng cho việc ghi nhận, bảo đảm về quyền bào chữa của người bị buộc tội. Sắc lệnh số 33C ngày 13/9/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa về việc thành lập Tòa án quân sự trong phạm vi cả nước quy định: “Bị cáo có thể tự bào chữa hay nhờ một người khác bênh vực cho mình” (Điều 5) và Sắc lệnh số 46 ngày 10/10/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa về tổ chức đoàn thể luật sư quy định: “Các luật sư có quyền bào chữa ở trước tất cả các tòa án hàng tỉnh trở lên và trước các tòa án quân sự” (Điều thứ 2). Tinh thần này tiếp tục được ghi nhận chính thức trong bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 với nội dung: “Người bị cáo được quyền tự bào chữa lấy hoặc mời luật sư” (Điều 67). Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa trong tố tụng hình sự là nguyên tắc hiến định, được ghi nhận tại tất cả các bản Hiến pháp của Việt Nam. Việc ghi nhận, thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa trong tố tụng hình sự đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, đồng thời giúp các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án hình sự đúng đắn, khách quan, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, góp phần nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp[2]. Các văn bản này quy định cụ thể từng nội dung quyền bào chữa, qua đó là nền tảng lý luận cơ bản và quan trọng để hoàn thiện quyền bào chữa của bị cáo trong Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam.

Đối với quyền bào chữa của bị cáo, so với các bản Hiến pháp trước, Hiến pháp năm 2013 không chỉ quy định vấn đề này ở Chương VIII - “Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân” (tại khoản 7 Điều 103) mà còn được bổ sung và đặt trong Chương II - “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” (tại khoản 4 Điều 31) để khẳng định quyền bào chữa là một trong những quyền con người, quyền công dân quan trọng nhất của người bị buộc tội nói chung và bị cáo nói riêng. Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021 (sau đây gọi là Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) đã ghi nhận nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội tại Điều 16: “Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này”.

Quyền nhờ người bào chữa của người bị buộc tội, trong đó có bị cáo cũng được quy định cụ thể hơn, đó là có thể nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. Trong những trường hợp luật định, nếu bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì các cơ quan nói trên phải yêu cầu, đề nghị chỉ định người bào chữa cho họ. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng nâng cao trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội nói chung và bị cáo nói riêng. Không chỉ có trách nhiệm bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ như trước mà Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã nêu rõ, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trước hết phải thông báo, giải thích đầy đủ cho người bị buộc tội biết về quyền bào chữa của họ, từ đó mới có thể bảo đảm cho họ được thực hiện tốt quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa của mình. Trong phạm vi nghiên cứu, nhóm tác giả nêu ra những nội dung cần hoàn thiện quy định pháp luật sau:

1. Về hoạt động bào chữa của bị cáo

Thứ nhất, bổ sung quy định về quyền của người bị buộc tội là bị cáo có quyền: “Đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa” tại Điều 61 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Quyền này tuy đã được Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định tại điểm i khoản 1 Điều 60, theo đó, bị can có quyền: “Đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa kể từ khi kết thúc điều tra khi có yêu cầu” nhưng lại không quy định cho bị cáo có quyền này. Theo quan điểm của nhóm tác giả, không những bị can mà bị cáo rất cần được nghiên cứu hồ sơ trong tất cả các giai đoạn tố tụng, nhất là giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự để bảo đảm tính khách quan của các tình tiết, chứng cứ có trong vụ án, hơn nữa bảo đảm tính dân chủ, công bằng trong hoạt động bào chữa của bị cáo tại phiên tòa.

Thứ hai, mở rộng hơn quyền đặt câu hỏi của bị cáo tại điểm i khoản 2 Điều 61 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và các quy định khác có liên quan.

Theo quan điểm của nhóm tác giả, việc thực hiện đặt câu hỏi của bị cáo không nên bị giới hạn bởi việc cho phép của chủ tọa phiên tòa mà cần mở rộng theo hướng, bị cáo có quyền đặt câu hỏi đối với những người tham gia tố tụng khác, chủ tọa phiên tòa có quyền cắt những câu hỏi trùng lặp, không liên quan đến vụ án mà bị cáo đưa ra. Quy định như vậy sẽ bảo đảm được quyền tự do trình bày của bị cáo, bảo đảm quyền công bằng, dân chủ đối với bị cáo. Do đó, cần sửa đổi điểm i khoản 2 Điều 61 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 theo hướng, bị cáo có quyền “đặt câu hỏi đối với những người tham gia tố tụng khác, chủ tọa phiên tòa có quyền cắt những câu hỏi trùng lặp, không liên quan đến vụ án”.

Thứ ba, bổ sung quyền được ghi chép, sử dụng các tài liệu theo quy định pháp luật tại phiên tòa cho bị cáo.

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã bổ sung các quyền của bị cáo để tạo điều kiện cho bị cáo thực hiện các hoạt động bào chữa cho mình trong tố tụng hình sự cũng như trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Tuy nhiên, để bảo đảm cho hoạt động bào chữa tại phiên tòa nên cho phép bị cáo thực hiện việc ghi chép lại nội dung, diễn biến vụ án tại phiên tòa mà bị cáo cho là cần thiết để thực hiện việc tranh luận cũng như bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình. Đồng thời, cho phép bị cáo được sử dụng các văn bản quy định pháp luật, các tài liệu liên quan khác để thực hiện hoạt động bào chữa cho mình trong tố tụng hình sự, nhất là tại phiên tòa xét xử. Việc bổ sung quy định này bảo đảm được tính khách quan, dân chủ tại phiên tòa cũng như giúp bị cáo nắm rõ được diễn biến của phiên tòa và nội dung buộc tội của Viện kiểm sát, từ đó thuận lợi hơn cho hoạt động bào chữa của mình. Mặt khác, trong hoạt động tranh tụng thì bị cáo phải tham gia tranh tụng, đối đáp với bên buộc tội là Viện kiểm sát (cơ quan có kiến thức pháp luật và có đầy đủ hồ sơ vụ án) nên có thể thực hiện việc viện dẫn tài liệu, chứng cứ và căn cứ pháp luật dễ dàng hơn. Vì vậy, theo quan điểm của nhóm tác giả, việc bổ sung quyền được ghi chép và sử dụng các tài liệu liên quan tại phiên tòa của bị cáo là cần thiết.

Thứ tư, bổ sung quyền của bị cáo “được biết các kết quả của hoạt động điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự” tại điểm a khoản 2 Điều 61 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tại Điều 60, Điều 232, Điều 238, Điều 245 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định bị can có quyền được nhận các kết quả của hoạt động điều tra bổ sung như bản kết luận điều tra bổ sung, bản cáo trạng bổ sung hoặc các quyết định khác trong hoạt động điều tra bổ sung nhưng lại không quy định cho bị cáo có quyền nhận các quyết định trên. Nếu các quyết định này không được giao cho bị cáo thì trong hoạt động bào chữa của mình, bị cáo không thực hiện được đầy đủ các quyền sẽ ảnh hưởng đến hoạt động bào chữa cũng như việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp cho bị cáo. Vì vậy, nên bổ sung quy định các kết quả của hoạt động điều tra bổ sung của cơ quan tiến hành tố tụng phải được giao cho bị cáo.

Thứ năm, về quyền tự bào chữa của bị cáo: Tuy quyền này được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 61 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nhưng không quy định cụ thể quyền này sẽ được thực hiện như thế nào. Trong trường hợp bị cáo nhờ người bào chữa, người bào chữa có quyền thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật. Vậy, trường hợp bị cáo tự bào chữa thì bị cáo có các quyền đó không, hay chỉ được quyền đưa ra chứng cứ theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 61 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015? Theo quan điểm của nhóm tác giả, cần có các quy định cụ thể về nội dung này theo hướng, bổ sung quyền được thu thập chứng cứ, đồ vật, tài liệu của bị cáo để bảo đảm tốt hơn quyền tự bào chữa của bị cáo.

2. Về hoạt động bào chữa của người bào chữa

Thứ nhất, bổ sung các chế tài tương ứng với các quyền của người bào chữa.

Thực tiễn trong hoạt động bào chữa, luật sư thực hiện các quyền như sao chụp hồ sơ vụ án; gặp, trao đổi với bị can, bị cáo; thu thập tài liệu, chứng cứ… còn gặp khó khăn do có lúc, có nơi, cơ quan tiến hành tố tụng có hành vi cản trở, không hỗ trợ cho luật sư thực hiện công việc. Hoặc có trường hợp khi luật sư đi thu thập tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ án thì cơ quan, tổ chức đang lưu giữ các tài liệu, chứng cứ này không cung cấp các tài liệu, chứng cứ mà họ đang nắm giữ, nhiều trường hợp còn từ chối tiếp nhận yêu cầu cung cấp tài liệu của luật sư. Pháp luật hiện nay chưa có chế tài cũng như quy định về trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, cá nhân, tổ chức khác có hành vi cản trở, gây khó khăn cho hoạt động của luật sư hoặc các hành vi cố tình che giấu, không cung cấp các tài liệu, chứng cứ của các cá nhân, tổ chức khi luật sư bào chữa vụ án liên quan có yêu cầu. Vì vậy, để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được kịp thời, nhanh chóng, khách quan và đúng pháp luật, tránh trường hợp dẫn đến oan, sai trong tố tụng hình sự, cần bổ sung các quy định về chế tài đối với những cá nhân, cơ quan, tổ chức có hành vi cản trở, gây khó khăn khi luật sư thực hiện các quyền để bào chữa cho bị cáo.

Thứ hai, quy định rõ hơn trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc thực hiện việc thu thập chứng cứ, tài liệu khi luật sư không thể thu thập được.

Theo điểm k khoản 1 Điều 73, khoản 3 Điều 81 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về quyền thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa, trường hợp không thể thu thập được thì người bào chữa có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập. Có thể nói rằng, đây là một quy định tiến bộ, tạo điều kiện cho luật sư thực hiện hoạt động bào chữa của mình, tuy nhiên, hoạt động này lại phụ thuộc vào yếu tố chủ quan từ phía cơ quan tiến hành tố tụng. Mặt khác, chưa có quy định về trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc thực hiện hoạt động thu thập tài liệu, chứng cứ khi có đề nghị của luật sư. Cũng như chưa có quy định về việc luật sư đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, tài liệu nhưng không thu thập được do cá nhân, cơ quan, tổ chức đang nắm giữ chứng cứ, tài liệu không cung cấp. Việc không thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ, tài liệu hoặc không thu thập được của cơ quan tiến hành tố tụng có ảnh hưởng không nhỏ đến việc giải quyết khách quan của vụ án, bảo đảm quyền, lợi ích của người bị buộc tội và sẽ dẫn đến oan, sai trong tố tụng hình sự. Nếu cơ quan tiến hành tố tụng gây khó khăn cho người bào chữa hoặc không thực hiện ngay mà kéo dài thời gian hoặc không thực hiện vì cho rằng, tài liệu, đồ vật mà người bào chữa yêu cầu thu thập là không cần thiết. Đồng thời, cơ quan tiến hành tố tụng cũng không có nghĩa vụ phải thông báo kết quả thu thập chứng cứ với người bào chữa vì pháp luật không có quy định. Như vậy, để khắc phục những hạn chế này, cần có các quy định cụ thể về trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc thông báo bằng văn bản cho người bào chữa về kết quả thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật trong trường hợp người bào chữa đề nghị; quy định rõ ràng về chế tài đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân thiếu trách nhiệm, thiện chí, cố ý không cung cấp chứng cứ theo yêu cầu, đề nghị của người bào chữa mà không có lý do chính đáng, trừ trường hợp chứng cứ, tài liệu đó thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác hoặc thuộc trường hợp pháp luật quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân không phải cung cấp. Vì vậy, việc bổ sung các quy định về trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng là cần thiết.

Thứ ba, quy định chi tiết, cụ thể về quyền “gặp, hỏi người bị buộc tội” tại điểm a khoản 1 Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Quy định này còn chung chung đã gây không ít khó khăn cho hoạt động gặp, hỏi, trao đổi với người bị buộc tội của luật sư. Mặt khác, chưa có quy định hướng dẫn về hoạt động gặp, hỏi này được thực hiện theo trình tự, thủ tục hay quy định nào. Ví dụ: Quy định về thời gian, trình tự, thủ tục luật sư gặp người bị buộc tội, việc gặp này là gặp riêng hay có sự giám sát của cán bộ tư pháp và quy định về bảo đảm bí mật thông tin trao đổi giữa luật sư và người bị buộc tội không? Chính việc chưa có quy định về hoạt động này đã gây khó khăn cho luật sư khi thực hiện gặp mặt đối với những người bị buộc tội đang bị tạm giam, tạm giữ theo đúng trình tự của tố tụng. Theo quan điểm của nhóm tác giả, cũng như ở một số nước phát triển, việc gặp gỡ giữa luật sư và người bị buộc tội được tổ chức gặp riêng để bảo đảm bí mật thông tin trao đổi và có quy định về trình tự, thủ tục rõ ràng.

Thứ tư, sửa đổi quy định về sự có mặt của luật sư bào chữa tại phiên tòa.

Tại Điều 291 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “… Nếu người bào chữa vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan hoặc được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án vẫn mở phiên tòa xét xử”. Quy định này chưa phù hợp, bởi vì, mở phiên tòa trong trường hợp này sẽ không bảo đảm được quyền bào chữa cho bị cáo cũng như việc giải quyết khách quan của vụ án. Theo quan điểm của nhóm tác giả, nên quy định luật sư vắng mặt lần thứ hai mà có lý do chính đáng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án quyết định hoãn phiên tòa, trường hợp nếu luật sư đã gửi trước bản bào chữa và bị cáo đồng ý thì Tòa án vẫn mở phiên tòa xét xử bình thường. Vì vậy, nên sửa đổi Điều 291 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 theo hướng: “… Trường hợp người bào chữa vắng mặt lần thứ nhất vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Tòa án phải hoãn phiên tòa và triệu tập lần thứ hai. Nếu người bào chữa vắng mặt lần thứ hai cũng vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Tòa án vẫn tiếp tục hoãn phiên tòa. Trường hợp vắng mặt lần thứ hai mà không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nhưng người bào chữa đã gửi bản bào chữa thì Tòa án vẫn mở phiên tòa xét xử”.

Thứ năm, về quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa: Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Để thu thập chứng cứ, người bào chữa có quyền gặp người mà mình bào chữa, bị hại, người làm chứng và những người khác biết về vụ án để hỏi, nghe họ trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa”. Do vậy, cần đặt ra các quy định về biện pháp, trình tự thu thập chứng cứ của người bào chữa, tránh trường hợp người bào chữa thu thập chứng cứ để bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa nhưng những tài liệu, đồ vật đưa ra lại không được sử dụng làm chứng cứ do không thỏa mãn thuộc tính hợp pháp. Mặt khác, cần bổ sung quy định về mức xử lý đối với hành vi cản trở, cố tình che giấu, không cung cấp chứng cứ hay làm gián đoạn quá trình thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật của người bào chữa nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo.

Thứ sáu, bổ sung quy định về trình tự cử bào chữa viên nhân dân.

Theo khoản 2 Điều 72 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì người bào chữa có thể là: Luật sư, người đại diện của người bị buộc tội, bào chữa viên nhân dân, trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý. Sự mở rộng các đối tượng được tham gia bào chữa cho người bị buộc tội nói chung, bị cáo nói riêng là một trong những điểm tích cực của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tuy nhiên, trên thực tế, người bào chữa chủ yếu thuộc hai nhóm đối tượng là luật sư và trợ giúp viên pháp lý. Về hai nhóm chức danh tư pháp này cũng đã có luật điều chỉnh cụ thể. Tuy nhiên, đối với bào chữa viên nhân dân thì vẫn còn nhiều vướng mắc trong quá trình áp dụng. Theo khoản 3 Điều 72 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì “bào chữa viên nhân dân là công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, trung thành với Tổ quốc, có phẩm chất đạo đức tốt, có kiến thức pháp lý, đủ sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc tổ chức thành viên của Mặt trận cử tham gia bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình” nhưng Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp nào được cử và cử như thế nào thì chưa có quy định cụ thể. Vì vậy, cần phải xây dựng các quy định về trình tự cử bào chữa viên nhân dân.

3. Về bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo

Thứ nhất, bổ sung cơ chế bảo đảm cho việc giải thích quyền, nghĩa vụ cho bị cáo. Theo đó, giải thích quyền, nghĩa vụ cho bị cáo là một quy định bắt buộc của Tòa án. Tuy nhiên, cần lưu ý đây là vấn đề “giải thích” mà không phải “thông báo”. Thực tế cho thấy, các Tòa án chỉ mới thông báo về quyền, nghĩa vụ của bị cáo. Cùng với đặc điểm về hiểu biết pháp luật, tâm lý… của bị cáo nên hầu hết các bị cáo chưa hiểu rõ, hiểu hết những quyền của mình, trong đó có quyền bào chữa. Chính vì vậy, cần có giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động này. Cụ thể, nên bổ sung quy định: “Việc giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị cáo phải được lập biên bản và lưu vào hồ sơ vụ án”.

Thứ hai, bổ sung quy định về việc gửi, thông báo các văn bản tố tụng cho người bào chữa. Hiện nay, pháp luật chưa quy định trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc tống đạt, thông báo cho người bào chữa một số văn bản liên quan đến quyền lợi của bị cáo: Quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ, quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn… Đây là những quyết định ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của bị cáo và cần phải thông báo cho người bào chữa để thực hiện chức năng bào chữa của mình.

Thứ ba, chưa có chế tài trong trường hợp có sự vi phạm quyền của người bào chữa. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã ghi nhận khá đầy đủ về quyền cũng như nghĩa vụ của người bào chữa, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho người bào chữa trong khi tham gia tố tụng. Tuy nhiên, thực tế có trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng đã vi phạm, gây khó dễ cho người bào chữa. Việc này gây ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động bào chữa. Do đó, cần bổ sung chế tài cho việc vi phạm quyền của người bào chữa theo hướng, ghi nhận đây là trường hợp vi phạm thủ tục tố tụng.

Thứ tư, các điều 232, 238 và 245 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định bị can được biết kết quả hoạt động điều tra bổ sung thông qua việc giao nhận kết luận điều tra bổ sung hoặc kết luận điều tra, bản cáo trạng mới mà không quy định cho bị cáo quyền tương tự trong trường hợp Tòa án tự bổ sung, thu thập chứng cứ hoặc yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung (Điều 252, Điều 284). Kết quả điều tra bổ sung chứa đựng những chứng cứ, tài liệu, thông tin mà bị cáo cần phải biết để chủ động trong việc bào chữa. Do đó, nên bổ sung vào khoản 7 Điều 252 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 như sau: “Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án phải được thông báo cho bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có liên quan. Bị cáo, người bào chữa có quyền đọc, ghi chép, sao chụp các tài liệu đó”; đồng thời, bổ sung vào khoản 4 Điều 284 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 với nội dung tương tự.

Thứ năm, hoàn thiện quy định về thủ tục đăng ký bào chữa. Điều 78 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định người bào chữa chỉ cần đăng ký với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, quy định này còn chung chung, chưa xác định rõ trách nhiệm trong việc cấp đăng ký bào chữa là người nào trong các cơ quan tiến hành tố tụng. Điều này dẫn đến những khó khăn cho người bào chữa, nếu có vi phạm cũng không có cơ sở xử lý trách nhiệm đối với cá nhân vi phạm. Mặc dù, việc cấp giấy chứng nhận làm tăng tính chủ động hơn cho người bào chữa khi tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho người bị buộc tội nhưng quy định này vẫn mang tính chất “xin - cho” giữa người bào chữa với cơ quan tố tụng. Nhóm tác giả đồng tình với quan điểm cho phép những người có thể là người bào chữa theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được người bị buộc tội nhờ bào chữa thì đương nhiên có quyền tham gia tố tụng. Nếu thuộc các trường hợp không được bào chữa theo khoản 4 Điều 72 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, người bị buộc tội thuộc trường hợp chỉ định người bào chữa từ chối người bào chữa hoặc có vi phạm pháp luật khi tiến hành bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thông báo dừng việc bào chữa của người bào chữa và nêu rõ lý do theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đồng thời, thông báo để người bị buộc tội lựa chọn người bào chữa khác hoặc được chỉ định người bào chữa khác theo quy định tại Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015[3].

Thứ sáu, trình tự tố tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm và phúc thẩm phải được tiến hành trên tinh thần tôn trọng nguyên tắc bảo đảm tính tranh tụng, dân chủ. Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa (từ Điều 306 đến Điều 304 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) cần được sửa đổi theo hướng tập trung vào hoạt động tranh tụng giữa bị cáo và người bào chữa với bên buộc tội, bảo đảm tốt nhất quyền tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa của bị cáo. Các bên tham gia phiên tòa thực hiện quyền đưa ra các chứng cứ và tiến hành hoạt động tranh luận, đối đáp. Thẩm phán đóng vai trò là trọng tài, điều khiển và định hướng hoạt động tranh tụng giữa các bên diễn ra tại phiên tòa. Trách nhiệm của thẩm phán là xem xét các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, chứng cứ mới được cung cấp tại phiên tòa và quá trình tranh luận giữa các bên để đưa ra phán quyết. Kết luận của cơ quan điều tra và Viện kiểm sát là cơ sở pháp lý ban đầu để đưa ra xét xử, nhưng phán quyết như thế nào thì không chỉ dựa vào kết quả này mà cần phải xem xét quá trình tranh tụng giữa Viện kiểm sát với bị cáo và người bào chữa tại phiên tòa. Điều này đề cao vai trò tranh tụng của các bên, đồng thời nâng cao tính khách quan cho bản án. Tuy nhiên, hội đồng xét xử hoàn toàn không được xem nhẹ quan điểm, lý lẽ và các chứng cứ mà bị cáo, người bào chữa trình bày tại phiên tòa, đó cũng là những yếu tố quan trọng để hội đồng xét xử đánh giá toàn diện, đa chiều và đúng đắn vụ án, từ đó đưa ra phán quyết bảo đảm sự công minh, chính xác.

Thứ bảy, về việc giải quyết đề nghị hoãn phiên tòa để nhờ người bào chữa của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm. Trên thực tế, có trường hợp trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, bị cáo đều không nhờ người bào chữa nhưng tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đề nghị hoãn phiên tòa để nhờ người bào chữa tham gia tranh tụng bảo vệ quyền lợi cho mình. Theo nhóm tác giả, đây cũng là yêu cầu chính đáng của bị cáo, phiên tòa cần phải hoãn để bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 352 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì không đề cập tới căn cứ này nên hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ để hoãn phiên tòa mà vẫn tiếp tục việc xét xử./.

Nhóm nghiên cứu khoa học[1]

[1]. Nhóm sinh viên nghiên cứu khoa học của Khoa Luật, Trường Đại học Mở Hà Nội gồm: Phạm Quỳnh Dương, Nguyễn Ngọc Dung, Nguyễn Vũ Ngọc Hà.

[2].https://lsvn.vn/quyen-bao-chua-cua-bi-can-bi-cao-mot-so-han-che-vuong-mac-va-giai-phap-hoan-thien1629327577.html, truy cập ngày 26/3/2024.

[3]. Vũ Lê Thành Nam, Quyền bào chữa của bị cáo trong tố tụng hình sự từ thực tiễn Thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội, tr. 61.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 402), tháng 4/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: