Thứ tư 13/05/2026 01:55
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định pháp luật về quyền bề mặt

Ở nước ta, quyền bề mặt là quyền mới được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015. So với các quyền khác đối với tài sản như quyền đối với bất động sản liền kề, quyền hưởng dụng thì quyền bề mặt được xem là quyền khá mới trong nghiên cứu khoa học pháp lý.

Ở nước ta, quyền bề mặt là quyền mới được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015. So với các quyền khác đối với tài sản như quyền đối với bất động sản liền kề, quyền hưởng dụng thì quyền bề mặt được xem là quyền khá mới trong nghiên cứu khoa học pháp lý. Tuy nhiên, trước những thay đổi của đời sống xã hội, những tranh chấp phát sinh liên quan tới quyền bề mặt cũng ngày càng nhiều đòi hỏi chúng ta phải có những nghiên cứu về vấn đề này. Chính vì vậy, trong phạm vi bài viết, tác giả phân tích quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến quyền bề mặt, chỉ ra những điểm còn bất cập và từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện.
1. Về khái niệm quyền bề mặt và căn cứ xác lập quyền bề mặt
Quyền bề mặt là một trong những quyền khác đối với tài sản[1] bên cạnh quyền đối với bất động sản liền kề và quyền hưởng dụng. Theo đó, “quyền bề mặt là quyền của một chủ thể đối với mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất mà quyền sử dụng đất đó thuộc về chủ thể khác” (Điều 267 Bộ luật Dân sự năm 2015). Quyền bề mặt có đặc điểm của một vật quyền mà đối tượng của nó là đất đai. Nói cách khác, quyền bề mặt cũng là một vật quyền phát sinh từ quyền sở hữu, chủ thể quyền bề mặt không những có quyền khai thác, sử dụng mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước mà còn có quyền khai thác, sử dụng lòng đất thuộc quyền sử dụng đất của người khác để xây dựng công trình, trồng cây, nuôi trồng thuỷ sản,… Quyền bề mặt có hiệu lực từ thời điểm chủ thể có quyền sử dụng đất chuyển giao mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất cho chủ thể có quyền bề mặt, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác. Quyền bề mặt có hiệu lực đối với mọi cá nhân, pháp nhân, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
Theo Điều 268 Bộ luật Dân sự năm 2015, quyền bề mặt được xác lập theo quy định của luật, theo thỏa thuận hoặc theo di chúc. Đối với căn cứ xác lập theo quy định của luật và theo di chúc thì còn có cơ sở, tuy nhiên, căn cứ dựa trên cơ sở “thỏa thuận” của các bên thì quy định này còn mang tính chất chung chung, gây khó khăn cho quá trình áp dụng pháp luật. Theo nội dung điều luật trên có thể hiểu, “thỏa thuận” ở đây là việc các bên trong hợp đồng tự nguyện thể hiện ý chí của mình trong việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự nhưng lại khó có thể xác định đó là loại hợp đồng chuyển nhượng, cho mượn, tặng cho hay cho thuê.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 175 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì người có quyền sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng trong khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng của mình. Như vậy, quyền bề mặt thực chất là quyền phát sinh từ quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, so với các loại tài sản thông thường khác thì quyền sử dụng đất là một tài sản đặc biệt nên ngoài quy chế pháp lý điều chỉnh chung về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng được xác lập đối với quyền sử dụng đất còn được điều chỉnh bởi Luật Đất đai năm 2013, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, Luật Nhà ở năm 2014 và các văn bản bản hướng dẫn thi hành. Đơn cử như đối với trường hợp xác lập hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất giữa các bên, nếu theo Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 thì thời điểm các bên bị ràng buộc pháp lý hoàn toàn khác với thời điểm do Luật Đất đai năm 2013 quy định nên khi xảy ra tranh chấp sẽ khó khăn trong việc áp dụng văn bản pháp luật[2].
Bên cạnh đó, chủ thể có quyền sử dụng đất chỉ bao gồm các chủ thể có quyền sử dụng đất do được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất hoặc nhận chuyển quyền sử dụng đất quy định tại Điều 5 Luật Đất đai năm 2013. Trong khi đó, chủ thể quyền bề mặt được xác định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 lại mở rộng hơn, có thể dựa trên “sự thỏa thuận” của các bên như phân tích ở trên. Hệ quả của sự khác nhau này có thể dẫn tới hiện tượng “lách luật” khi một số chủ thể theo pháp luật đất đai không được sử dụng đất nhưng có thể thông qua “quyền bề mặt” để khai thác và sử dụng đất một cách hợp pháp mà không phải chịu các điều kiện khắt khe của pháp luật đất đai.
Trên thực tế cũng xảy ra tình huống khác như sau: Công ty A được giao/cho thuê hai thửa đất, trên mỗi thửa đất đầu tư xây dựng một tòa tháp cao, ngăn cách giữa hai thửa đất là con đường giao thông công cộng, vì vậy, Công ty A muốn xây một cầu nối giữa hai tòa tháp này có cấu tạo bằng vách kính để đảm bảo kết nối giao thông giữa hai tòa tháp. Theo quy định của Luật Xây dựng năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), công trình phải được cấp giấy phép xây dựng, bao gồm cả hạng mục cầu nối trên cao. Tuy nhiên, để Công ty A được cấp giấy phép xây dựng thì phải có các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 53/2017/NĐ-CP ngày 08/5/2017 của Chính phủ quy định các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyết định giao đất, hợp đồng thuê đất... Đối với hạng mục cầu nối trên cao, do nằm phía trên khoảng không của đường giao thông do Nhà nước quản lý nên Công ty A không được giao đất/cho thuê đất, dẫn đến thiếu giấy tờ hợp pháp về đất đai và không đủ điều kiện cấp giấy phép xây dựng. Để triển khai dự án, Công ty A đề xuất được thuê khoảng không gian phía trên đường giao thông công cộng với đơn giá thuê đất thương mại, dịch vụ nhưng pháp luật đất đai hiện hành chưa có quy định về cho thuê phần không gian phía trên bề mặt của công trình công cộng nên đề xuất của Công ty A không thể thực hiện được trên thực tế.
Hiện nay, Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi (Dự thảo) đã đề cập đến vấn đề phân loại đất theo không gian sử dụng, theo đó, đất đai được phân loại theo các khu vực, bao gồm khu vực không gian ngầm và không gian trên không. Dự thảo quy định không gian sử dụng đất theo tầng bao gồm đất tầng bề mặt, đất xây dựng công trình ngầm, đất xây dựng công trình trên không... Dự thảo cũng quy định việc xác định diện tích không gian sử dụng đất gắn với quản lý, khai thác không gian ngầm, không gian trên mặt đất trong các cấp độ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện). Tuy nhiên, Dự thảo vẫn chưa có quy định cụ thể về “quyền bề mặt” nên chưa bảo đảm tính tương thích với Bộ luật Dân sự năm 2015. Việc nghiên cứu bổ sung các quy định liên quan đến quyền bề mặt trong Dự thảo sẽ là bước tiến mới giúp tháo gỡ vướng mắc cho các trường hợp cá nhân, tổ chức có nhu cầu sử dụng đất trên không hoặc sử dụng đất xây dựng công trình ngầm mà trên bề mặt đất là công trình giao thông hoặc là đất thuộc quyền sử dụng của chủ thể khác[3].
Chính vì vậy, cần sớm ban hành văn bản để cụ thể hóa các quy định mang tính nguyên tắc của Bộ luật Dân sự năm 2015 về quyền bề mặt, trong đó làm rõ các căn cứ xác định quyền bề mặt, hình thức chuyển giao quyền bề mặt, thời điểm phát sinh hiệu lực quyền bề mặt; sửa đổi Luật Đất đai và các quy định khác để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa các văn bản quy phạm pháp luật.
2. Về đăng ký quyền bề mặt
Quyền bề mặt cần phải được đăng ký và đây cũng là quy định được ghi nhận trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới ví dụ như Nhật Bản. Theo đó, Luật Đăng ký bất động sản năm 1887 của Nhật Bản quy định, đăng ký bất động sản là việc cơ quan nhà nước ghi vào sổ đăng ký và thực hiện công khai về tình trạng vật lý như tình trạng tự nhiên của bất động sản, gồm các thông tin về địa chỉ đất, số hiệu, diện tích đất, địa chỉ nhà,... kèm bản đồ, sơ đồ và các quan hệ về quyền lợi đối với bất động sản như quyền sở hữu, quyền thế chấp, quyền bề mặt, quyền cầm cố; đăng ký về quyền lợi, mục đích và ngày đăng ký, họ tên,...)[4]. Mục đích của việc đăng ký quyền bề mặt chính là sự ghi nhận về mặt pháp lý một cách chính thức quyền của chủ thể quyền bề mặt và là biện pháp hữu hiệu để đối kháng với các bên thứ ba.
Tuy nhiên, hiện nay, pháp luật Việt Nam chỉ có quy định về việc đăng ký đất đai, nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất[5] mà chưa có quy định cụ thể nào về việc đăng ký quyền bề mặt (như chủ thể nào thực hiện việc đăng ký quyền, giấy tờ, thủ tục liên quan đến quy trình đăng ký,…), cơ chế công khai quyền này là như thế nào cũng chưa có văn bản hướng dẫn, khiến cho việc áp dụng trên thực tế còn gặp nhiều vướng mắc, đặc biệt là khi phát sinh tranh chấp. Báo cáo tới các đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long cho biết kết quả rà soát các quy định mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập về hợp đồng, trong đó, các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về quyền bề mặt lại thiếu cơ chế đăng ký quyền dẫn đến việc triển khai các quyền này trên thực tế chưa hiệu quả. Bên cạnh đó, điểm m khoản 4 Điều 95 Luật Đất đai năm 2013 quy định về đăng ký biến động đất đai nhưng chưa thể hiện rõ những hạn chế quyền của người sử dụng đất cần phải được đăng ký có gồm quyền bề mặt đối với quyền sử dụng đất đó hay không[6]. Như vậy, chưa có sự thống nhất trong các quy định của pháp luật hiện hành về một số nội dung cơ bản của đăng ký tài sản, cơ chế đăng ký quyền tài sản chưa đầy đủ.
Do đó, cần sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật liên quan đến quyền bề mặt, đồng thời, cần có các văn bản hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục đăng ký quyền bề mặt, xác định cụ thể cơ quan quản lý nhà nước về quyền bề mặt, công khai việc đăng ký quyền bề mặt, tạo nguồn thông tin mở để mọi người có thể tra cứu chính xác, nhanh chóng và thuận tiện các thông tin về quyền bề mặt. Việc công khai thông tin rõ ràng sẽ hạn chế các mâu thuẫn, tranh chấp có liên quan đến quyền bề mặt trên thực tế.
3. Về việc xác định quyền và nghĩa vụ của chủ thể quyền bề mặt
Hiện nay, quyền và nghĩa vụ của chủ thể quyền bề mặt được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 tại Điều 271 về nội dung quyền bề mặt và Điều 273 về xử lý tài sản khi quyền bề mặt chấm dứt. Theo đó, chủ thể quyền bề mặt có quyền khai thác, sử dụng mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất thuộc quyền sử dụng đất của người khác để xây dựng công trình, trồng cây, canh tác nhưng không được trái với quy định của Bộ luật này, pháp luật về đất đai, xây dựng, quy hoạch, tài nguyên, khoáng sản và quy định khác của pháp luật có liên quan. Chủ thể quyền bề mặt có quyền sở hữu đối với tài sản được tạo lập theo quy định trên. Trường hợp quyền bề mặt được chuyển giao một phần hoặc toàn bộ thì chủ thể nhận chuyển giao được kế thừa quyền bề mặt theo điều kiện và trong phạm vi tương ứng với phần quyền bề mặt được chuyển giao.
Bên cạnh quyền, chủ thể quyền bề mặt có một số nghĩa vụ: Một là, khi quyền bề mặt chấm dứt, chủ thể quyền bề mặt phải trả lại mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất cho chủ thể có quyền sử dụng đất theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật; hai là, chủ thể quyền bề mặt phải xử lý tài sản thuộc sở hữu của mình trước khi quyền bề mặt chấm dứt, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp chủ thể quyền bề mặt không xử lý tài sản trước khi quyền bề mặt chấm dứt thì quyền sở hữu tài sản đó thuộc về chủ thể có quyền sử dụng đất kể từ thời điểm quyền bề mặt chấm dứt, trừ trường hợp chủ thể có quyền sử dụng đất không nhận tài sản đó. Trường hợp chủ thể có quyền sử dụng đất không nhận tài sản mà phải xử lý tài sản thì chủ thể có quyền bề mặt phải thanh toán chi phí xử lý tài sản.
Tuy nhiên, theo tác giả, những quy định trên chưa thể hiện một cách đầy đủ, rõ ràng quyền và nghĩa vụ của chủ thể quyền bề mặt. Sự phát triển của khoa học công nghệ khiến chúng ta hiện nay không chỉ đơn thuần chỉ nghĩ đến các giao dịch trên bề mặt đất mà còn hướng đến việc công nhận quyền và hình thành thị trường giao dịch quyền trong tương lai bao gồm “quyền khai thác không gian ngầm, giao thông trong lòng đất, quyền khai thác ga tàu điện ngầm, trung tâm thương mại, giao dịch thương mại trong lòng đất; giao dịch các không gian làm bãi đỗ xe tĩnh, trông giữ xe; trên mặt đất có không gian văn phòng, không gian thương mại, không gian sản xuất kinh doanh...”[7]. Ngoài ra, theo quy định tại Điều 139 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 thì chúng ta đang tổ chức, phát triển thị trường các-bon xây dựng lộ trình từ nay đến năm 2028. Vì vậy, các giao dịch quyền liên quan đến đất đai là quyền phát triển các diện tích hấp thụ các-bon trên mặt nước, cũng như diện tích hấp thụ các bon trong rừng là những đối tượng sẽ được giao dịch trong thời gian tới gắn với quyền bề mặt,…
Chính vì vậy, việc Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ có những quy định kể trên thì dường như đang để lại một khoảng trống khá lớn về quyền và đặc biệt là nghĩa vụ của chủ thể quyền bề mặt.
Một số vấn đề cần trao đổi về quyền của chủ thể quyền bề mặt:
Một là, có ý kiến cho rằng, Bộ luật Dân sự năm 2015 cần bổ sung quy định về chủ thể quyền bề mặt có quyền cầm cố, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp quyền bề mặt để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Theo tác giả, pháp luật không nên quy định việc chủ thể quyền bề mặt có quyền cầm cố, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp quyền bề mặt bởi thực tế cho thấy, quyền bề mặt gắn liền với quyền sử dụng đất của người được cấp quyền sử dụng đất nên nếu quy định về vấn đề này sẽ gây khó khăn cho việc thực hiện trên thực tế (ví dụ, trường hợp quyền sử dụng đất đã bị thế chấp tại ngân hàng thì chủ thể quyền bề mặt làm sao có thể tiếp tục thế chấp quyền bề mặt?…). Bên cạnh đó, hiện nay, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định chủ thể quyền bề mặt có quyền sở hữu đối với tài sản được tạo lập theo quy định tại khoản 1 Điều 271 Bộ luật này. Do đó, chủ thể quyền bề mặt có thể cầm cố, thế chấp, cho thuê, cho thuê lại,… những tài sản này. Quy định như vậy cũng phù hợp với Điều 318 Bộ luật Dân sự năm 2015 về các loại tài sản thế chấp và phù hợp với thực tiễn hoạt động của các ngân hàng khi đánh giá tài sản thế chấp (bởi quyền bề mặt là quyền có thời hạn nên cũng khó để ngân hàng có thể chủ động trong việc quản lý).
Hai là, có ý kiến cho rằng, chủ thể quyền bề mặt có thể tham gia giao dịch trong thị trường các-bon trong thời hạn của quyền bề mặt. Theo tác giả, việc tham gia thị trường các-bon là vấn đề thuộc quyền của người có quyền sử dụng đất nên trường hợp hai bên có thỏa thuận về việc cho phép chủ thể quyền bề mặt tham gia mua bán tín chỉ các-bon thì chủ thể quyền bề mặt mới được phép tham gia.
Ba là, trường hợp chủ thể quyền bề mặt sử dụng lòng đất xây dựng các công trình vào mục đích kinh doanh cũng đồng thời được Nhà nước sử dụng để xây dựng các công trình công cộng (như xây dựng đường ngầm đi bộ, đường sắt,…) thì vấn đề giải quyết giữa chủ thể quyền bề mặt, chủ thể có quyền sử dụng đất và Nhà nước sẽ như thế nào? Nhà nước có cần ban hành quyết định để thu hồi phần lòng đất mà không thu hồi bề mặt tự nhiên trên đất và hỗ trợ bồi thường hay không? Theo quan điểm của tác giả, Nhà nước vẫn phải ban hành quyết định để thu hồi phần lòng đất và bồi thường cho chủ thể quyền bề mặt và chủ thể có quyền sử dụng đất. Việc thu hồi này hiện nay chưa có quy định của pháp luật điều chỉnh nên nếu xảy ra tình huống trên thực tế sẽ phát sinh nhiều bất cập.
Về việc bồi thường cho các chủ thể liên quan, chúng ta có thể học tập kinh nghiệm của Hoa Kỳ. Theo đó, bồi thường đối với việc sử dụng đất, được tách riêng, ngoại trừ đất trong trường hợp chỉ sử dụng không gian và đất ngầm, sẽ được thực hiện theo giá thuê đất thông thường hoặc giá thuê. Còn việc bồi thường đối với việc sử dụng không gian và đất ngầm sẽ được thực hiện với một mức bồi thường tính bằng khoản tính theo quy định nhân với một mức % được xác định dựa trên mức độ gây ra xáo trộn cho việc sử dụng đất. Bồi thường đối với việc hạn chế các quyền (như tước bỏ quyền đánh bắt cá, tước bỏ quyền khai thác khoáng sản, quyền cho thuê khai thác khoáng sản hoặc quyền khai thác đá, tước bỏ quyền sử dụng các suối nước nóng, tước bỏ các quyền sử dụng nước) sẽ được bồi thường với một mức bồi thường được tính bằng khoản tính tại các điều khoản tương ứng nhân với một mức % cụ thể, có xét tới các chi tiết giới hạn về quyền và các yếu tố khác[8].
Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần quy định cụ thể nghĩa vụ của chủ thể quyền bề mặt, những nghĩa vụ này không chỉ xuất hiện khi quyền bề mặt chấm dứt mà ngay trong quá trình thực hiện quyền bề mặt, chủ thể quyền cũng phải thực hiện, cụ thể:
Một là, nghĩa vụ của chủ thể quyền bề mặt đối với chủ thể có quyền sử dụng đất. Theo quy định tại Điều 269 Bộ luật Dân sự năm 2015, quyền bề mặt có hiệu lực từ thời điểm chủ thể có quyền sử dụng đất chuyển giao mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất cho chủ thể có quyền bề mặt, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác. Thời hạn của quyền bề mặt được xác định theo quy định của luật, theo thỏa thuận hoặc di chúc nhưng không vượt quá thời hạn của quyền sử dụng đất. Trường hợp thỏa thuận hoặc di chúc không xác định thời hạn của quyền bề mặt thì mỗi bên có quyền chấm dứt quyền này bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo bằng văn bản cho bên kia biết trước ít nhất là 06 tháng (Điều 270 Bộ luật Dân sự năm 2015). Như vậy, Bộ luật Dân sự năm 2015 không có cơ chế bảo vệ quyền của chủ thể có quyền sử dụng đất đối với chủ thể quyền bề mặt khi họ có hành vi vi phạm (ví dụ như khi có căn cứ cho rằng chủ thể quyền bề mặt cố tình hủy hoại đất, vi phạm các quy định pháp luật về sử dụng đất).
Hai là, việc xây dựng quyền bề mặt trong sử dụng đất sẽ dẫn đến hiện tượng cùng một quyền sử dụng đất nhưng có thể có nhiều chủ thể cùng khai thác, sử dụng trong cùng một thời điểm vì quyền bề mặt cho phép nhiều chủ thể cùng thực hiện khai thác khi phân tách việc sử dụng đất thành khai thác trên mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất và vì vậy, dễ dẫn đến tình trạng “chồng lấn quyền” và dễ nảy sinh tranh chấp.
Ví dụ: Anh A được Nhà nước cấp quyền sử dụng đất đối với mảnh đất X. Anh B được cấp quyền bề mặt nuôi cá và trồng hoa sen trong ao nằm trong mảnh đất X. Anh C được cấp quyền bề mặt xây nhà sàn, kinh doanh ăn uống trên mặt ao. Anh D được cấp quyền xây cầu vượt phía bên trên mảnh đất X. Như vậy, sẽ khó khăn trong việc xác định trách nhiệm bồi thường của B, C, D nếu mảnh đất của A bị ô nhiễm nguồn nước, bởi B, C, D đều thực hiện hoạt động khai thác bề mặt của mảnh đất, vậy B, C hay D sẽ chịu trách nhiệm bồi thường cho A hay liên đới chịu trách nhiệm. Bên cạnh đó, hiện tượng “chồng lấn” quyền bề mặt còn gây khó khăn trong việc xác định trách nhiệm bồi thường, trách nhiệm trong việc quản lý, sử dụng bề mặt giữa các chủ quyền bề mặt khác nhau bởi việc thực hiện quyền của chủ thể này có thể làm ảnh hưởng tới việc thực hiện quyền của chủ thể kia và ngược lại. Trong ví dụ nêu trên, anh C kinh doanh nhà hàng nhưng không được làm hại đến cá và hoa sen trong ao của anh B. Anh B nuôi cá và hoa sen không được gây ảnh hưởng đến kinh doanh nhà hàng của anh C. Anh D thực hiện xây cầu nhưng không gây nguy hại cho hoạt động kinh doanh nhà hàng của anh C; cá và hoa sen của anh B. Những vấn đề đã nêu trên đều tiềm ẩn nguy cơ tranh chấp nhưng pháp luật lại chưa có quy định để đưa ra hướng giải quyết.
Chính vì vậy, theo tác giả, pháp luật hiện hành cần bổ sung các quy định về việc ràng buộc trách nhiệm giữa các chủ thể đối với bề mặt được khai thác và trách nhiệm giữa các chủ thể được cấp quyền bề mặt. Bên cạnh đó, cũng cần bổ sung quy định về ràng buộc trách nhiệm chung của các chủ thể quyền bề mặt đối với việc làm ảnh hưởng đến bất động sản của chủ thể có quyền sử dụng đất bởi theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 nếu người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất thì sẽ bị thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai và điều này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể có quyền sử dụng đất.
Ba là, quy định tại Điều 273 Bộ luật Dân sự năm 2015 về xử lý tài sản khi quyền bề mặt chấm dứt chưa thực sự rõ ràng. Ví dụ: Trường hợp chủ thể có quyền sử dụng đất không nhận tài sản mà phải xử lý tài sản thì chủ thể có quyền bề mặt phải thanh toán chi phí xử lý tài sản. Việc xử lý tài sản ở đây có đồng nghĩa với việc khôi phục lại tình trạng ban đầu khi quyền bề mặt được chuyển giao hay không hay xử lý đến đâu, xử lý như thế nào để tính toán chi phí? Thực tế cho thấy, việc khôi phục lại tình trạng ban đầu của mặt đất, mặt nước hay khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước là rất khó. Do vậy, việc khôi phục lại tình trạng ban đầu của quyền bề mặt phụ thuộc vào hoàn cảnh và thỏa thuận của các bên. Quy định như Điều 273 Bộ luật Dân sự năm 2015 có thể dẫn đến cách hiểu xử lý tài sản và khôi phục tình trạng ban đầu trước khi chuyển giao quyền bề mặt là như nhau trong khi đây là hai vấn đề khác nhau. Vì vậy, cần có văn bản hướng dẫn rõ vấn đề này để tránh phát sinh tranh chấp.
Như vậy, thông qua việc phân tích một số quy định pháp luật liên quan đến quyền bề mặt và đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện, tác giả hy vọng trong thời gian tới, chúng ta có thể tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật để bảo đảm tính khả thi, thống nhất, đồng bộ của pháp luật và hiệu quả triển khai thi hành văn bản quy phạm pháp luật trên thực tế./.

ThS. Vũ Thị Ngọc Dung

Khoa Luật Hành chính, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh


[1] Khoản 1 Điều 159 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Quyền khác đối với tài sản là quyền của chủ thể trực tiếp nắm giữ, chi phối tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác”.

[2] Luật gia Chu Minh Đức, Một số vấn đề về cho thuê quyền bề mặt theo quy định của pháp luật hiện hành, Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, https://thuvienphapluat.vn/banan/tin-tuc/mot-so-van-de-ve-cho-thue-quyen-be-mat-theo-quy-dinh-cua-phap-luat-hien-hanh-6142, truy cập ngày 26/5/2022.

[3] ThS. Nguyễn Văn Đỉnh, Luật Đất đai sửa đổi (Kỳ 5): Cần cụ thể hóa quy định “quyền bề mặt” https://diendandoanhnghiep.vn/luat-dat-dai-sua-doi-ky-5-can-cu-the-hoa-quy-dinh-quyen-be-mat-218832.html, truy cập ngày 30/5/2022.

[4] ThS. Phạm Thị Minh Thủy, ThS. Phạm Thị Lý, Viện Chiến lược, chính sách tài nguyên và môi trường, Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới về việc quy định và thực hiện quyền bề mặt trong quản lý đất đai, https://tainguyenvamoitruong.vn/kinh-nghiem-mot-so-quoc-gia-tren-the-gioi-ve-viec-quy-dinh-va-thuc-hien-quyen-be-mat-trong-quan-ly-dat-dai-cid11584.html, truy cập ngày 26/5/2022.

[5] Khoản 15 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013, theo đó: “Đăng ký đất đai, nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất là việc kê khai và ghi nhận tình trạng pháp lý về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và quyền quản lý đất đối với một thửa đất vào hồ sơ địa chính”.

[6] Hồ Hương, Rà sát các quy định mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập về hợp đồng, https://quochoi.vn/UserControls/Publishing/News/BinhLuan/pFormPrint.aspx?UrlListProcess=/content/tintuc/Lists/News&ItemID=51161, truy cập ngày 27/5/2022.

[7] Mở rộng tiếp cận đất đai với squyền bề mặt, http://tnmttuyenquang.gov.vn/tin-tuc/quan-ly-dat-dai/mo-rong-tiep-can-dat-dai-voi-quyen-be-mat-19877.html, Nguồn: monre.gov.vn.

[8] ThS. Phạm Thị Minh Thủy, ThS. Phạm Thị Lý, Viện Chiến lược, chính sách tài nguyên và môi trường, Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới về việc quy định và thực hiện quyền bề mặt trong quản lý đất đai, https://tainguyenvamoitruong.vn/kinh-nghiem-mot-so-quoc-gia-tren-the-gioi-ve-viec-quy-dinh-va-thuc-hien-quyen-be-mat-trong-quan-ly-dat-dai-cid11584.html, truy cập ngày 26/5/2022.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.

Theo dõi chúng tôi trên: