Thứ ba 13/10/2026 08:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định pháp luật về “Trợ giúp pháp lý tố tụng”

Trong hoạt động trợ giúp pháp lý (gọi tắt là TGPL) bằng hình thức tham gia tố tụng[1], thì hoạt động TGPL tiền tố tụng (gọi tắt là TGPLTTT) đóng vai trò hết sức quan trọng, quyết định chất lượng, hiệu quả quá trình tham gia tố tụng của người thực hiện TGPL trong việc bào chữa, bảo vệ cho các đối tượng được TGPL[2] là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị bắt, người bị tạm giữ

Trong hoạt động trợ giúp pháp lý (gọi tắt là TGPL) bằng hình thức tham gia tố tụng[1], thì hoạt động TGPL tiền tố tụng (gọi tắt là TGPLTTT) đóng vai trò hết sức quan trọng, quyết định chất lượng, hiệu quả quá trình tham gia tố tụng của người thực hiện TGPL trong việc bào chữa, bảo vệ cho các đối tượng được TGPL[2] là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị bắt, người bị tạm giữ (gọi tắt là người bị tình nghi); góp phần đảm bảo các quyền con người, hạn chế tình trạng mớm cung, ép cung, dùng nhục hình; tạo nên phiên tòa xét xử công bằng, khách quan, đúng người, đúng tội và kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đối tượng được TGPL. Mặc dù, TGPLTTT có vai trò, ý nghĩa rất lớn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đối tượng được TGPL tại các cơ quan tiến hành tố tụng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động tố tụng; song, hiện nay trong hệ thống pháp luật về TGPL và tố tụng chưa quy định về TGPLTTT hoặc quy định nhưng không cụ thể, rõ ràng. Trước yêu cầu cải cách tư pháp, đảm bảo quyền con người, quyền công dân, quyền tư pháp được nghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 và quyền tiếp cận TGPL trong tư pháp hình sự theo Hướng dẫn của Liên Hợp quốc ngày 20/12/2014 mà Việt Nam là nước thành viên thì việc nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện quy định về TGPLTTT là hết sức cần thiết. Trong phạm vi bài viết này, người viết xin nêu ra sự cần thiết phải hoàn thiện quy định TGPLTTT theo pháp luật về TGPL, tố tụng hình sự và từ đó đề xuất một số kiến nghị.

1. Khái quát về trợ giúp pháp lý tiền tố tụng

Hiện nay, trong một số văn bản pháp luật về tố tụng ở nước ta tuy có đề cập đến thuật ngữ “tiền tố tụng”, song chưa có một khái niệm cụ thể nào về thuật ngữ này; tuy nhiên, trên phương diện tiếp cận pháp luật về tố tụng hình sự, có thể hiểu: Tiền tố tụng là giai đoạn đầu do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện theo một trình tự, thủ tục nhất định (xác minh, thu thập chứng cứ và áp dụng các pháp hình sự) trước khi ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can.

Tại Điều 3 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 quy định: “TGPL là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được TGPL theo quy định của Luật này, giúp người được TGPL bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật”. Còn theo Điều 3 Dự thảo Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi) đang lấy ý kiến thì “Trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này là việc tham gia tố tụng; tư vấn pháp luật; đại diện ngoài tố tụng, hòa giải, tham gia giải quyết khiếu nại do Nhà nước bảo đảm được cung cấp miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý”. Về bản chất, hai khái niệm này đều khái quát TGPL là việc Nhà nước cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí (tư vấn pháp luật; tham gia tố tụng; đại diện ngoài tố tụng, hòa giải, tham gia giải quyết khiếu nại) cho người được TGPL, giúp họ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Từ phân tích trên, có thể hiểu: TGPLTTT là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí (tư vấn pháp luật, đại diện bào chữa, bảo vệ) cho đối tượng được TGPL là người bị bị tình nghi ở giai đoạn đầu (giai đoạn tiền tố tụng) trước khi cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Vai trò TGPLTTT được thể hiện trong việc đảm bảo các quyền con người, quyền tố tụng và nâng cao hiệu quả hoạt động tố tụng, cụ thể:

Thứ nhất, TGPLTTT đảm bảo các quyền con người, quyền tố tụng

- Tại khoản 4 Điều 31 Hiến pháp năm 2013; Điều 11 (đảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ); điểm d khoản 2 Điều 48 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Điều 16; điểm e khoản 1 Điều 57; điểm g khoản 1 Điều 58; điểm d khoản 2 Điều 59 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì người bị tình nghi có quyền tự mình hoặc nhờ người khác bào chữa, bảo vệ. Do đó, việc cung cấp TGPL cho người bị tinh nghi ở giai đoạn tiền tố tụng là đảm bảo quyền tư pháp của họ theo Hiến pháp, pháp luật tố tụng và Hướng dẫn của Liên Hợp quốc ngày 20/12/2014 (quyền tiếp cận sớm TGPL); ngược lại, nếu không có TGPLTTT, quyền tư pháp của họ dễ bị xâm phạm.

- Theo pháp luật hình sự, bắt người, tạm giữ người là các biện pháp ngăn chặn của các cơ quan tố tụng đối với người bị tình nghi nhằm đảm bảo công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho con người, công dân; tuy nhiên, khi áp dụng các biện pháp này, các quyền về tự do, bất khả xâm phạm về thân thể, tiếp cận thông tin, được pháp luật bảo hộ về danh dự, nhân phẩm… của người bị tình nghi[3] dễ bị tác động, ảnh hưởng tiêu cực. Đặc biệt, đối với người bị tình nghi là người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, trẻ em (người chưa thành niên), người khuyết tật, người nhiễm HIV (đối tượng được TGPL phần lớn là đối tượng yếu thế, hạn chế hiểu biết về pháp luật) thì việc áp dụng các biện pháp hình sự trên dễ gây tổn thương về tinh thần, quyền và lợi ích hợp pháp của họ dễ bị xâm phạm. Do vậy, với việc TGPLTTT, người thực hiện TGPL (Trợ giúp viên pháp lý, luật sư cộng tác viên TGPL) được tiếp cận với người bị tình nghi là đối tượng được TGPL ngay giai đoạn đầu trước khi bị khởi tố (giai đoạn tố tụng), kịp thời hướng dẫn các thủ tục pháp lý hoặc thay mặt (đại diện) họ để bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, giúp họ tránh được việc bị bắt, tạm giữ không đúng quy định của pháp luật[4].

- Việc người bị tình nghi được cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí -TGPLTTT trong quá trình bị tạm giữ sẽ giúp cho họ thực hiện đầy đủ các quyền con người, quyền công dân, quyền tố tụng mà Hiến pháp năm 2013, pháp luật tố tụng hình sự nghi nhận; đồng thời, đảm bảo các cuộc thẩm vấn đối với họ được tiến hành đúng quy trình, tuân thủ pháp luật về tố tụng, hạn chế tình trạng mớm cung, ép cung, dùng nhục hình (đảm bảo quyền bất khả xâm phạm về thân thể) hoặc dùng các biện pháp gây bất lợi trong giai đoạn tố tụng (thời gian qua, vì thành tích phá án nên trong quá trình thẩm vấn, lấy lời khai, các điều tra viên hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan tiến hành tố tụng mớm cung, ép cung, tra tấn, dùng nhục hình hoặc dùng các biện pháp gây bất lợi cho người bị tình nghi dẫn đến oan sai[5]).

Hơn nữa, trong giai đoạn bị tạm giữ, người bị tình nghi gặp khó khăn trong việc tự mình thu thập chứng cứ (tài liệu, đồ vật, thông tin…) để chứng minh mình không phạm tội hoặc phạm tội nhưng tính chất, mức độ nhẹ hơn so với kết quả xác minh, thu thập chứng cứ của cơ quan điều tra. Đối với trường hợp này, việc người bị tình nghi tiếp cận sớm với dịch vụ TGPL sẽ giúp họ trách được sự tạm giữ kéo dài hoặc khởi tố bởi một một tội mà hậu quả pháp lý lớn hơn so với hành vi của họ đã vi phạm pháp luật hình sự.

Bên cạnh đó, trong trường hợp người bị tình nghi phạm tội, thì việc họ được cung cấp dịch vụ TGPL ở giai đoạn tạm giữ (giai đoạn tiền tố tụng) có vai trò hết sức quan trọng và tác động tích cực đến hiệu quả của quá trình trước, trong và sau tố tụng. Đó là trong quá trình tư vấn, hướng dẫn hoặc đại diện, người thực hiện TGPL tạo cho người bị tình nghi sự tin tưởng vào một quá trình tố tụng công bằng, công khai, các quyền của họ được bảo vệ, từ đó giúp họ nhận thức, hiểu biết về hành vi phạm tội của mình cũng như định hướng quá trình tố tụng, hậu quả pháp lý mà họ phải gánh chịu đối với hành vi phạm tội.

- Đối với người bị tình nghi là trẻ em, nạn nhân nạn buôn bán người, tạo lực gia đình (phụ nữ), khuyết tật và người nhiễm HIV (đối tượng được TGPL) thì khi áp dụng các biện pháp hình sự (bắt, tạm giữ) không những ảnh hưởng lớn đến tâm, sinh lý của họ mà tạo nhiều hậu quả tiêu cực cho xã hội (trầm cảm, tự ty, tăng tốc độ lây lan HIV). Vì vậy, việc TGPLTTT đối với họ là cần thiết, giúp họ nhận thức và thực hiện, bảo vệ các quyền đặc biệt mà pháp luật quy định[6], đồng thời hạn chế các tác động xấu ảnh hưởng đến con người và xã hội.

Thứ hai, TGPLTTT nâng cao hiệu quả hoạt động tố tụng

- Việc tham gia TGPL cho người bị tình nghi là đối tượng được TGPL ở giai đoạn tiền tố tụng không những kịp thời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho họ mà còn giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện đúng các quy định pháp luật về bắt, tạm giữ người và ra quyết định khởi tố vụ án nhanh chóng, kịp thời và đúng đối tượng.

- Thông qua TGPLTTT, các cơ quan tiến hành tố tụng trao đổi thông tin về đối tượng bị tình nghi một cách khách quan, kịp thời (có sự phản biện, bào chữa, bảo vệ của người thực hiện TGPL), từ đó đưa ra các quyết định, nhận định về phạm vi, đối tượng phạm tội, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho quá trình tố tụng sau này (nhất là giai đoạn truy tố, xét xử) diễn ra công bằng, khách quan, hiệu suất, hiệu quả và đảm bảo nguyên tắc pháp quyền, tránh oan sai.

- Với vai trò là người bảo vệ công lý, sự tham gia của người thực hiện TGPL ở giai đoạn tiền tố tụng sẽ tác động tích tục đến vai trò, trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc thực hiện quyền và nhiệm vụ trong hoạt động tố tụng như đảm bảo các quyền của người bị tình nghi (quyền thông tin, quyền được giải thích quyền và nghĩa vụ, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, đảm bảo về nhân phẩm, danh dự, tiếp cận sớm TGPL và quyền bào chữa…) và đảm bảo quyền tham gia tố tụng của người thực hiện TGPL.

- Việc đảm bảo các quyền con người, quyền công dân, quyền tố tụng của người bị tình nghi, quyền đại diện bào chữa, bảo vệ của người thực hiện TGPL trong giai đoạn tiền tố tụng và tuân thủ các quy trình, thủ tục về tiền tố tụng sẽ tạo ra sự liên tục, hiệu quả trong các giai đoạn tố tụng (đảm bảo 03 giai đoạn là điều tra, truy tố và xét xử). Điều này giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng tiết kiệm được nguồn lực trong hoạt động tố tụng, hạn chế việc tổ chức xét xử nhiều lần, nhiều cấp.

2. Quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý tiền tố tụng ở nước ta hiện nay

Hệ thống pháp luật một số nước thế giới đã bước đầu ghi nhận quy định về TGPLTTT (quyền có một luật sư từ thời điểm bị bắt, khi tham vấn người bị tình nghi bắt buộc phải có luật sư…), đặc biệt Hướng dẫn của Liên Hợp Quốc ngày 20/12/2014 đã hướng dẫn cụ thể về quyền được tiếp cận sớm TGPL ở giai đoạn đầu của quá trình tố tụng[7]; tuy nhiên, ở nước ta quy định này chưa được quy định hoặc quy định nhưng không cụ thể, làm ảnh hưởng đến quyền con người, quyền công dân, quyền tố tụng của đối tượng yếu thế, nhất là đối tượng được TGPL là người bị tình nghi.

Tại khoản 4 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa” và quyền của người bị tình nghi theo Điều 11, điểm d khoản 2 Điều 48 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 là quyền “tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa”. Đặc biệt, nhằm đảm bảo quyền con người, quyền công dân và quyền bào chữa trong Hiến pháp năm 2013, từng bước hoàn thiện các nguyên tắc tiếp cận sớm TGPL trong tố tụng hình sự theo Hướng dẫn của Liên Hợp Quốc ngày 20/12/2014.

Năm 2015, Quốc hội đã thông Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) và Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam, đây là 02 văn bản tiếp tục khẳng định, cụ thể hóa quyền bào chữa của người bị bắt, người bị tạm giữ; cụ thể: Tại Điều 16 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Người bị buộc tội[8] có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này” và người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền “tự bảo vệ hoặc nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình”, người bị bắt, người bị tạm giữ có quyền “tự bào chữa, nhờ người bào chữa”[9].

Với các quy định trên, thì ở giai đoạn tiền tố tụng, người bị tình nghi là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị bắt, người bị tạm giữ thuộc đối tượng được TGPL có quyền yêu cầu người khác (người thực hiện TGPL) đại diện cho mình để bào chữa, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp chứ không phải chờ tới khi có quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can (giai đoạn tố tụng) mới thực hiện quyền này. Tuy nhiên, do Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành không quy định về hình thức TGPLTTT hoặc có quy định nhưng chỉ nêu “tư vấn tiền tố tụng”, mà chưa có một hướng dẫn hay quy định pháp lý rõ ràng trong văn bản quy phạm pháp luật; vì thế, thời gian qua người thực hiện TGPL phần lớn chỉ tham gia TGPL cho đối tượng được TGPL ở giai đoạn tố tụng (sau khi nhận được quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can) với vai trò người đại diện để bào chữa, bảo vệ quyền mà không tham gia TGPL ngay từ khi người được TGPL bị bắt hoặc bị tạm giữ (giai đoạn tiền tố tụng).

3. Một số kiến nghị

Từ những phân tích nêu trên, để góp phần hoàn thiện quy định về TGPLTTT trong pháp luật tố tụng hình sự, đặc biệt hoàn thiện Dự thảo Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi), tác giả xin có một số kiến nghị như sau:

Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện quy định về TGPLTTT trong pháp luật tố tụng hình sự và TGPL; trước hết, quy định TGPLTTT là quyền cơ bản của người bị tình nghi trong pháp luật tố tụng hình sự; bên cạnh đó, trong các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự cần quy định: Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị bắt, bị tạm giữ là đối tượng được TGPL có quyền tự mình hoặc nhờ người khác bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước khi cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và xem đây là nguyên tắc đảm bảo quyền con người, quyền công dân và quyền tư pháp (không thực hiện là vi phạm tố tụng, trừ khi người bị tình nghi từ chối quyền).

Thứ hai, bổ sung nội dung, hình thức quy định TGPLTTT vào Dự thảo Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi) theo hướng quy định TGPLTTT là một hình thức TGPL cơ bản và được thực hiện liên tiếp sang giai đoạn tố tụng khi có yêu cầu để phù hợp với các quy định về quyền bào chữa của đối tượng được TGPL là người bị tình nghi theo Hiến pháp và pháp luật về tố tụng hình sự.

Thứ ba, nghiên cứu ban hành các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực TGPL và tố tụng nhằm đảm bảo quyền TGPLTTT, cụ thể:

- Xây dựng và ban hành quy định về quyền, trách nhiệm các tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL (trợ giúp viên pháp lý và luật sư); các cơ quan tiến hành tố tụng, điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán đối với việc thực hiện quyền TGPLTTT của người bị tình nghi là đối tượng được TGPL;

- Ban hành cơ chế chính sách đối với người làm công tác TGPL, người trực tiếp tham gia tố tụng nhằm tạo sự ổn định trong công tác, thực hiện nhiệm vụ được giao, hạn chế tiêu cực trong hoạt động tố tụng;

- Xây dựng và ban hành quy định phối hợp thực hiện quyền TGPLTTT giữa người thực hiện TGPL và cơ quan, người tiến hành tố tụng.

- Kịp thời sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 11/2013/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 04/7/2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hướng dân thực hiện một số quy định của pháp luật về TGPL trong hoạt động tố tụng theo hướng đảm bảo quyền tiếp cận sớm thông tin về TGPL, quyền được TGPLTTT của người bị tình nghi.

Có thể nói, TGPLTTT trong pháp luật về tố tụng hình sự có ý nghĩa hết sức quan trọng, là cơ sở đảm bảo các quyền về con người, quyền công dân và quyền tư pháp được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013; đặc biệt TGPLTTT đã tạo niềm tin về một quá trình tố tụng công bằng, công khai, minh bạch và đúng pháp luật đối với nhóm yếu thế dễ bị tổn thương trong xã hội, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động tố tụng… Do vậy, việc xây dựng và hoàn thiện quy định pháp luật về TGPLTTT trong thời gian đến là một yêu cầu hết sức cần thiết, là nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Phạm Thanh Quang
Sở Tư pháp Quảng Ngãi


[1] Một hình thức TGPL quan trọng, được quy định tại khoản 2 Điều 27, Điều 39 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006.

[2] Người nghèo, người có công với cách mạng, đồng bào dân tộc thiểu số, trẻ em, người khuyết tật, người nhiễm HIV, nạn nhân buôn bán người, người già cô đơn và một số đối tượng yếu thế khác theo quy định của pháp luật về TGPL.

[3] Được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 (khoản 1 Điều 16, Điều 20; Điều 25; khoản 4 Điều 31), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (Điều 5,6 và 7; khoản 2 Điều 48), 2015 (Điều 8,9,10 và 11; khoản 1 Điều 58; khoản 2 Điều 59) và Luật Thi hành tậm giữ, tạm giam năm 2015 (khoản 3, 4 Điều 4; khoản 1 Điều 9).

[4] Xem Điều 6 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[5] Vụ án oan Nguyễn Thanh Chấn, Huỳnh Văn Nén…

[6] Xem: Khoản 1 Điều 37 Hiến pháp năm 2013; Nguyên tắc1, 3, 11 và Hướng dẫn 10, 11 Hướng dẫn của Liên Hợp quốc ngày 20/12/2014..

[7] Xem: Sổ tay tiếp cận sớm TGPL trong các quá trình tố tụng hình sự của Liên Hợp Quốc năm 2014.

[8] Xem: Điểm đ khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[9] Xem: Điểm g khoản 1 Điều 58 và điểm d khoản 2 Điều 59 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.

Theo dõi chúng tôi trên: