Thứ sáu 16/01/2026 17:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định pháp luật về “Trợ giúp pháp lý tố tụng”

Trong hoạt động trợ giúp pháp lý (gọi tắt là TGPL) bằng hình thức tham gia tố tụng[1], thì hoạt động TGPL tiền tố tụng (gọi tắt là TGPLTTT) đóng vai trò hết sức quan trọng, quyết định chất lượng, hiệu quả quá trình tham gia tố tụng của người thực hiện TGPL trong việc bào chữa, bảo vệ cho các đối tượng được TGPL[2] là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị bắt, người bị tạm giữ

Trong hoạt động trợ giúp pháp lý (gọi tắt là TGPL) bằng hình thức tham gia tố tụng[1], thì hoạt động TGPL tiền tố tụng (gọi tắt là TGPLTTT) đóng vai trò hết sức quan trọng, quyết định chất lượng, hiệu quả quá trình tham gia tố tụng của người thực hiện TGPL trong việc bào chữa, bảo vệ cho các đối tượng được TGPL[2] là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị bắt, người bị tạm giữ (gọi tắt là người bị tình nghi); góp phần đảm bảo các quyền con người, hạn chế tình trạng mớm cung, ép cung, dùng nhục hình; tạo nên phiên tòa xét xử công bằng, khách quan, đúng người, đúng tội và kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đối tượng được TGPL. Mặc dù, TGPLTTT có vai trò, ý nghĩa rất lớn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đối tượng được TGPL tại các cơ quan tiến hành tố tụng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động tố tụng; song, hiện nay trong hệ thống pháp luật về TGPL và tố tụng chưa quy định về TGPLTTT hoặc quy định nhưng không cụ thể, rõ ràng. Trước yêu cầu cải cách tư pháp, đảm bảo quyền con người, quyền công dân, quyền tư pháp được nghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 và quyền tiếp cận TGPL trong tư pháp hình sự theo Hướng dẫn của Liên Hợp quốc ngày 20/12/2014 mà Việt Nam là nước thành viên thì việc nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện quy định về TGPLTTT là hết sức cần thiết. Trong phạm vi bài viết này, người viết xin nêu ra sự cần thiết phải hoàn thiện quy định TGPLTTT theo pháp luật về TGPL, tố tụng hình sự và từ đó đề xuất một số kiến nghị.

1. Khái quát về trợ giúp pháp lý tiền tố tụng

Hiện nay, trong một số văn bản pháp luật về tố tụng ở nước ta tuy có đề cập đến thuật ngữ “tiền tố tụng”, song chưa có một khái niệm cụ thể nào về thuật ngữ này; tuy nhiên, trên phương diện tiếp cận pháp luật về tố tụng hình sự, có thể hiểu: Tiền tố tụng là giai đoạn đầu do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện theo một trình tự, thủ tục nhất định (xác minh, thu thập chứng cứ và áp dụng các pháp hình sự) trước khi ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can.

Tại Điều 3 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 quy định: “TGPL là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được TGPL theo quy định của Luật này, giúp người được TGPL bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật”. Còn theo Điều 3 Dự thảo Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi) đang lấy ý kiến thì “Trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này là việc tham gia tố tụng; tư vấn pháp luật; đại diện ngoài tố tụng, hòa giải, tham gia giải quyết khiếu nại do Nhà nước bảo đảm được cung cấp miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý”. Về bản chất, hai khái niệm này đều khái quát TGPL là việc Nhà nước cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí (tư vấn pháp luật; tham gia tố tụng; đại diện ngoài tố tụng, hòa giải, tham gia giải quyết khiếu nại) cho người được TGPL, giúp họ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Từ phân tích trên, có thể hiểu: TGPLTTT là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí (tư vấn pháp luật, đại diện bào chữa, bảo vệ) cho đối tượng được TGPL là người bị bị tình nghi ở giai đoạn đầu (giai đoạn tiền tố tụng) trước khi cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Vai trò TGPLTTT được thể hiện trong việc đảm bảo các quyền con người, quyền tố tụng và nâng cao hiệu quả hoạt động tố tụng, cụ thể:

Thứ nhất, TGPLTTT đảm bảo các quyền con người, quyền tố tụng

- Tại khoản 4 Điều 31 Hiến pháp năm 2013; Điều 11 (đảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ); điểm d khoản 2 Điều 48 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Điều 16; điểm e khoản 1 Điều 57; điểm g khoản 1 Điều 58; điểm d khoản 2 Điều 59 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì người bị tình nghi có quyền tự mình hoặc nhờ người khác bào chữa, bảo vệ. Do đó, việc cung cấp TGPL cho người bị tinh nghi ở giai đoạn tiền tố tụng là đảm bảo quyền tư pháp của họ theo Hiến pháp, pháp luật tố tụng và Hướng dẫn của Liên Hợp quốc ngày 20/12/2014 (quyền tiếp cận sớm TGPL); ngược lại, nếu không có TGPLTTT, quyền tư pháp của họ dễ bị xâm phạm.

- Theo pháp luật hình sự, bắt người, tạm giữ người là các biện pháp ngăn chặn của các cơ quan tố tụng đối với người bị tình nghi nhằm đảm bảo công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho con người, công dân; tuy nhiên, khi áp dụng các biện pháp này, các quyền về tự do, bất khả xâm phạm về thân thể, tiếp cận thông tin, được pháp luật bảo hộ về danh dự, nhân phẩm… của người bị tình nghi[3] dễ bị tác động, ảnh hưởng tiêu cực. Đặc biệt, đối với người bị tình nghi là người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, trẻ em (người chưa thành niên), người khuyết tật, người nhiễm HIV (đối tượng được TGPL phần lớn là đối tượng yếu thế, hạn chế hiểu biết về pháp luật) thì việc áp dụng các biện pháp hình sự trên dễ gây tổn thương về tinh thần, quyền và lợi ích hợp pháp của họ dễ bị xâm phạm. Do vậy, với việc TGPLTTT, người thực hiện TGPL (Trợ giúp viên pháp lý, luật sư cộng tác viên TGPL) được tiếp cận với người bị tình nghi là đối tượng được TGPL ngay giai đoạn đầu trước khi bị khởi tố (giai đoạn tố tụng), kịp thời hướng dẫn các thủ tục pháp lý hoặc thay mặt (đại diện) họ để bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, giúp họ tránh được việc bị bắt, tạm giữ không đúng quy định của pháp luật[4].

- Việc người bị tình nghi được cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí -TGPLTTT trong quá trình bị tạm giữ sẽ giúp cho họ thực hiện đầy đủ các quyền con người, quyền công dân, quyền tố tụng mà Hiến pháp năm 2013, pháp luật tố tụng hình sự nghi nhận; đồng thời, đảm bảo các cuộc thẩm vấn đối với họ được tiến hành đúng quy trình, tuân thủ pháp luật về tố tụng, hạn chế tình trạng mớm cung, ép cung, dùng nhục hình (đảm bảo quyền bất khả xâm phạm về thân thể) hoặc dùng các biện pháp gây bất lợi trong giai đoạn tố tụng (thời gian qua, vì thành tích phá án nên trong quá trình thẩm vấn, lấy lời khai, các điều tra viên hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan tiến hành tố tụng mớm cung, ép cung, tra tấn, dùng nhục hình hoặc dùng các biện pháp gây bất lợi cho người bị tình nghi dẫn đến oan sai[5]).

Hơn nữa, trong giai đoạn bị tạm giữ, người bị tình nghi gặp khó khăn trong việc tự mình thu thập chứng cứ (tài liệu, đồ vật, thông tin…) để chứng minh mình không phạm tội hoặc phạm tội nhưng tính chất, mức độ nhẹ hơn so với kết quả xác minh, thu thập chứng cứ của cơ quan điều tra. Đối với trường hợp này, việc người bị tình nghi tiếp cận sớm với dịch vụ TGPL sẽ giúp họ trách được sự tạm giữ kéo dài hoặc khởi tố bởi một một tội mà hậu quả pháp lý lớn hơn so với hành vi của họ đã vi phạm pháp luật hình sự.

Bên cạnh đó, trong trường hợp người bị tình nghi phạm tội, thì việc họ được cung cấp dịch vụ TGPL ở giai đoạn tạm giữ (giai đoạn tiền tố tụng) có vai trò hết sức quan trọng và tác động tích cực đến hiệu quả của quá trình trước, trong và sau tố tụng. Đó là trong quá trình tư vấn, hướng dẫn hoặc đại diện, người thực hiện TGPL tạo cho người bị tình nghi sự tin tưởng vào một quá trình tố tụng công bằng, công khai, các quyền của họ được bảo vệ, từ đó giúp họ nhận thức, hiểu biết về hành vi phạm tội của mình cũng như định hướng quá trình tố tụng, hậu quả pháp lý mà họ phải gánh chịu đối với hành vi phạm tội.

- Đối với người bị tình nghi là trẻ em, nạn nhân nạn buôn bán người, tạo lực gia đình (phụ nữ), khuyết tật và người nhiễm HIV (đối tượng được TGPL) thì khi áp dụng các biện pháp hình sự (bắt, tạm giữ) không những ảnh hưởng lớn đến tâm, sinh lý của họ mà tạo nhiều hậu quả tiêu cực cho xã hội (trầm cảm, tự ty, tăng tốc độ lây lan HIV). Vì vậy, việc TGPLTTT đối với họ là cần thiết, giúp họ nhận thức và thực hiện, bảo vệ các quyền đặc biệt mà pháp luật quy định[6], đồng thời hạn chế các tác động xấu ảnh hưởng đến con người và xã hội.

Thứ hai, TGPLTTT nâng cao hiệu quả hoạt động tố tụng

- Việc tham gia TGPL cho người bị tình nghi là đối tượng được TGPL ở giai đoạn tiền tố tụng không những kịp thời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho họ mà còn giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện đúng các quy định pháp luật về bắt, tạm giữ người và ra quyết định khởi tố vụ án nhanh chóng, kịp thời và đúng đối tượng.

- Thông qua TGPLTTT, các cơ quan tiến hành tố tụng trao đổi thông tin về đối tượng bị tình nghi một cách khách quan, kịp thời (có sự phản biện, bào chữa, bảo vệ của người thực hiện TGPL), từ đó đưa ra các quyết định, nhận định về phạm vi, đối tượng phạm tội, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho quá trình tố tụng sau này (nhất là giai đoạn truy tố, xét xử) diễn ra công bằng, khách quan, hiệu suất, hiệu quả và đảm bảo nguyên tắc pháp quyền, tránh oan sai.

- Với vai trò là người bảo vệ công lý, sự tham gia của người thực hiện TGPL ở giai đoạn tiền tố tụng sẽ tác động tích tục đến vai trò, trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc thực hiện quyền và nhiệm vụ trong hoạt động tố tụng như đảm bảo các quyền của người bị tình nghi (quyền thông tin, quyền được giải thích quyền và nghĩa vụ, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, đảm bảo về nhân phẩm, danh dự, tiếp cận sớm TGPL và quyền bào chữa…) và đảm bảo quyền tham gia tố tụng của người thực hiện TGPL.

- Việc đảm bảo các quyền con người, quyền công dân, quyền tố tụng của người bị tình nghi, quyền đại diện bào chữa, bảo vệ của người thực hiện TGPL trong giai đoạn tiền tố tụng và tuân thủ các quy trình, thủ tục về tiền tố tụng sẽ tạo ra sự liên tục, hiệu quả trong các giai đoạn tố tụng (đảm bảo 03 giai đoạn là điều tra, truy tố và xét xử). Điều này giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng tiết kiệm được nguồn lực trong hoạt động tố tụng, hạn chế việc tổ chức xét xử nhiều lần, nhiều cấp.

2. Quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý tiền tố tụng ở nước ta hiện nay

Hệ thống pháp luật một số nước thế giới đã bước đầu ghi nhận quy định về TGPLTTT (quyền có một luật sư từ thời điểm bị bắt, khi tham vấn người bị tình nghi bắt buộc phải có luật sư…), đặc biệt Hướng dẫn của Liên Hợp Quốc ngày 20/12/2014 đã hướng dẫn cụ thể về quyền được tiếp cận sớm TGPL ở giai đoạn đầu của quá trình tố tụng[7]; tuy nhiên, ở nước ta quy định này chưa được quy định hoặc quy định nhưng không cụ thể, làm ảnh hưởng đến quyền con người, quyền công dân, quyền tố tụng của đối tượng yếu thế, nhất là đối tượng được TGPL là người bị tình nghi.

Tại khoản 4 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa” và quyền của người bị tình nghi theo Điều 11, điểm d khoản 2 Điều 48 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 là quyền “tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa”. Đặc biệt, nhằm đảm bảo quyền con người, quyền công dân và quyền bào chữa trong Hiến pháp năm 2013, từng bước hoàn thiện các nguyên tắc tiếp cận sớm TGPL trong tố tụng hình sự theo Hướng dẫn của Liên Hợp Quốc ngày 20/12/2014.

Năm 2015, Quốc hội đã thông Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) và Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam, đây là 02 văn bản tiếp tục khẳng định, cụ thể hóa quyền bào chữa của người bị bắt, người bị tạm giữ; cụ thể: Tại Điều 16 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Người bị buộc tội[8] có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này” và người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền “tự bảo vệ hoặc nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình”, người bị bắt, người bị tạm giữ có quyền “tự bào chữa, nhờ người bào chữa”[9].

Với các quy định trên, thì ở giai đoạn tiền tố tụng, người bị tình nghi là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị bắt, người bị tạm giữ thuộc đối tượng được TGPL có quyền yêu cầu người khác (người thực hiện TGPL) đại diện cho mình để bào chữa, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp chứ không phải chờ tới khi có quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can (giai đoạn tố tụng) mới thực hiện quyền này. Tuy nhiên, do Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành không quy định về hình thức TGPLTTT hoặc có quy định nhưng chỉ nêu “tư vấn tiền tố tụng”, mà chưa có một hướng dẫn hay quy định pháp lý rõ ràng trong văn bản quy phạm pháp luật; vì thế, thời gian qua người thực hiện TGPL phần lớn chỉ tham gia TGPL cho đối tượng được TGPL ở giai đoạn tố tụng (sau khi nhận được quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can) với vai trò người đại diện để bào chữa, bảo vệ quyền mà không tham gia TGPL ngay từ khi người được TGPL bị bắt hoặc bị tạm giữ (giai đoạn tiền tố tụng).

3. Một số kiến nghị

Từ những phân tích nêu trên, để góp phần hoàn thiện quy định về TGPLTTT trong pháp luật tố tụng hình sự, đặc biệt hoàn thiện Dự thảo Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi), tác giả xin có một số kiến nghị như sau:

Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện quy định về TGPLTTT trong pháp luật tố tụng hình sự và TGPL; trước hết, quy định TGPLTTT là quyền cơ bản của người bị tình nghi trong pháp luật tố tụng hình sự; bên cạnh đó, trong các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự cần quy định: Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị bắt, bị tạm giữ là đối tượng được TGPL có quyền tự mình hoặc nhờ người khác bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước khi cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và xem đây là nguyên tắc đảm bảo quyền con người, quyền công dân và quyền tư pháp (không thực hiện là vi phạm tố tụng, trừ khi người bị tình nghi từ chối quyền).

Thứ hai, bổ sung nội dung, hình thức quy định TGPLTTT vào Dự thảo Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi) theo hướng quy định TGPLTTT là một hình thức TGPL cơ bản và được thực hiện liên tiếp sang giai đoạn tố tụng khi có yêu cầu để phù hợp với các quy định về quyền bào chữa của đối tượng được TGPL là người bị tình nghi theo Hiến pháp và pháp luật về tố tụng hình sự.

Thứ ba, nghiên cứu ban hành các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực TGPL và tố tụng nhằm đảm bảo quyền TGPLTTT, cụ thể:

- Xây dựng và ban hành quy định về quyền, trách nhiệm các tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL (trợ giúp viên pháp lý và luật sư); các cơ quan tiến hành tố tụng, điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán đối với việc thực hiện quyền TGPLTTT của người bị tình nghi là đối tượng được TGPL;

- Ban hành cơ chế chính sách đối với người làm công tác TGPL, người trực tiếp tham gia tố tụng nhằm tạo sự ổn định trong công tác, thực hiện nhiệm vụ được giao, hạn chế tiêu cực trong hoạt động tố tụng;

- Xây dựng và ban hành quy định phối hợp thực hiện quyền TGPLTTT giữa người thực hiện TGPL và cơ quan, người tiến hành tố tụng.

- Kịp thời sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 11/2013/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 04/7/2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hướng dân thực hiện một số quy định của pháp luật về TGPL trong hoạt động tố tụng theo hướng đảm bảo quyền tiếp cận sớm thông tin về TGPL, quyền được TGPLTTT của người bị tình nghi.

Có thể nói, TGPLTTT trong pháp luật về tố tụng hình sự có ý nghĩa hết sức quan trọng, là cơ sở đảm bảo các quyền về con người, quyền công dân và quyền tư pháp được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013; đặc biệt TGPLTTT đã tạo niềm tin về một quá trình tố tụng công bằng, công khai, minh bạch và đúng pháp luật đối với nhóm yếu thế dễ bị tổn thương trong xã hội, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động tố tụng… Do vậy, việc xây dựng và hoàn thiện quy định pháp luật về TGPLTTT trong thời gian đến là một yêu cầu hết sức cần thiết, là nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Phạm Thanh Quang
Sở Tư pháp Quảng Ngãi


[1] Một hình thức TGPL quan trọng, được quy định tại khoản 2 Điều 27, Điều 39 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006.

[2] Người nghèo, người có công với cách mạng, đồng bào dân tộc thiểu số, trẻ em, người khuyết tật, người nhiễm HIV, nạn nhân buôn bán người, người già cô đơn và một số đối tượng yếu thế khác theo quy định của pháp luật về TGPL.

[3] Được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 (khoản 1 Điều 16, Điều 20; Điều 25; khoản 4 Điều 31), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (Điều 5,6 và 7; khoản 2 Điều 48), 2015 (Điều 8,9,10 và 11; khoản 1 Điều 58; khoản 2 Điều 59) và Luật Thi hành tậm giữ, tạm giam năm 2015 (khoản 3, 4 Điều 4; khoản 1 Điều 9).

[4] Xem Điều 6 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[5] Vụ án oan Nguyễn Thanh Chấn, Huỳnh Văn Nén…

[6] Xem: Khoản 1 Điều 37 Hiến pháp năm 2013; Nguyên tắc1, 3, 11 và Hướng dẫn 10, 11 Hướng dẫn của Liên Hợp quốc ngày 20/12/2014..

[7] Xem: Sổ tay tiếp cận sớm TGPL trong các quá trình tố tụng hình sự của Liên Hợp Quốc năm 2014.

[8] Xem: Điểm đ khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[9] Xem: Điểm g khoản 1 Điều 58 và điểm d khoản 2 Điều 59 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.

Theo dõi chúng tôi trên: