Thứ tư 18/03/2026 14:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch

Bài viết tập trung phân tích những bất cập trong quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch và đưa ra một số giải pháp hoàn thiện cơ chế này trong thời gian tới.

1. Thực trạng quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch

Xuất phát từ việc tận dụng được nguồn lực là một quốc gia đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, có nhiều địa điểm du lịch đặc sắc nên hoạt động khai thác kinh tế từ du lịch ở Việt Nam ngày càng được triển khai một cách đa dạng về tính chất lẫn quy mô hoạt động. Để hoạt động du lịch phát triển bền vững, đòi hỏi cần phải có biện pháp xử lý các hành vi ảnh hưởng tiêu cực đến cộng đồng, xã hội, đặc biệt là sự phát triển ổn định của quốc gia là vấn đề thúc đẩy nhà làm luật ban hành Nghị định số 45/2019/NĐ-CP ngày 21/5/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch (Nghị định số 45/2019/NĐ-CP), Nghị định số 129/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch; thể thao, quyền tác giả, quyền liên quan; văn hóa và quảng cáo, Văn bản hợp nhất số 363/VBHN-BVHTTDL ngày 08/02/2022 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Tuy nhiên, hiện nay, cơ chế xử phạt trong lĩnh vực này vẫn tồn tại những “khoảng trống” cần được nghiên cứu và làm rõ dưới góc độ đa chiều hơn, có những thay đổi phù hợp với tình hình thực tế, hướng đến góp phần đẩy mạnh phát triển du lịch bền vững tại Việt Nam. Cụ thể:

Thứ nhất, quy định về hình thức xử phạt bổ sung “đình chỉ hoạt động” chưa có sự đồng bộ giữa các nhóm hành vi xử phạt hành chính trong lĩnh vực du lịch tại Nghị định số 45/2019/NĐ-CP. Cụ thể, khoản 3 Điều 25 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020 (Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012) quy định: “Thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, đình chỉ hoạt động quy định tại khoản 1 và khoản 2 là từ 01 tháng đến 24 tháng, kể từ ngày quyết định xử phạt có hiệu lực thi hành, người có thẩm quyền xử phạt sẽ giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề trong thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề”. Tuy nhiên, khi có sự đối sánh về nguyên tắc tại điểm b khoản 2 Điều 3 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP cho thấy, hình phạt bổ sung là “đình chỉ hoạt động” sẽ được áp dụng trong thời gian từ 01 tháng đến 06 tháng, điều này chưa đồng nhất cùng điểm c khoản 6 Điều 16 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP khi việc xử phạt vi phạm hành chính với các hành vi vi phạm quy định về quản lý địa điểm du lịch, khu du lịch như không thu gom, xử lý chất thải phát sinh trong hoạt động du lịch theo quy định hoặc không có các biện pháp phòng, chống cháy nổ theo quy định, ngoài việc bị phạt tiền còn có thể bị xử phạt bổ sung với hình thức “đình chỉ hoạt động” từ 06 đến 12 tháng thay vì trong giới hạn từ 01 đến 06 tháng như đã xác định ở điểm b khoản 2 Điều 3 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP. Từ bất cập này, trong thực tiễn áp dụng không tránh khỏi trường hợp người tiến hành xử phạt hành chính gặp khó khăn khi xác định thời hạn áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là “đình chỉ hoạt động”, bởi nếu việc áp dụng thiếu thống nhất giữa các cơ quan có thể dẫn đến việc bị khiếu nại hoặc khởi kiện khi tiến hành xử phạt chưa có sự đồng nhất[1].

Thứ hai, một trong 10 biện pháp khắc phục hậu quả được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 28 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 là: “Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi phạm hành chính hoặc buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật”. Quy định này bắt buộc chủ thể có hành vi vi phạm phải nộp vào ngân sách nhà nước hoặc trả lại cho người bị thiệt bởi hành vi vi phạm pháp luật đã gây ra bằng một số tiền tương ứng. Thể chế hóa vấn đề này, tại khoản 1 Điều 4 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP đã hình thành quy định: “Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính”. Tuy nhiên, trong toàn bộ nội dung của Nghị định này, chưa có những hướng dẫn cụ thể về phương pháp, cách thức xác định số lợi bất chính dẫn đến trong thực tiễn áp dụng sẽ rất khó khăn để chủ thể có thẩm quyền xử phạt thực hiện áp dụng biện pháp này.

Trên thực tế, đã tồn tại một số văn bản xử phạt vi phạm hành chính đề cập và cụ thể hóa phương thức xác định số lợi bất chính như Điều 7 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai, Nghị định số 04/2022/NĐ-CP ngày 06/01/2022 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; tài nguyên nước và khoáng sản; khí tượng thủy văn; đo đạc và bản đồ hướng dẫn cách xác định số lợi bất hợp pháp đối với vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; hay khoản 3 Điều 84 Nghị định số 16/2022/NĐ-CP ngày 28/01/2022 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính về xây dựng hướng dẫn cách xác định số lợi bất hợp pháp đối với vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng. Ngoài ra, biện pháp này còn được hướng dẫn thực hiện trong một số lĩnh vực như sở hữu trí tuệ, kinh doanh - thương mại, điển hình tại Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26/6/2015 của Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp đã hướng dẫn cụ thể cách xác định số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, hay Thông tư số 149/2014/TT- BTC ngày 10/10/2014 của Bộ Tài chính quy định về số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính để sung vào ngân sách nhà nước cũng quy định phương thức tính toán truy thu số lợi bất hợp pháp có được do hành vi vi phạm trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng để sung vào ngân sách nhà nước[2]. Tuy nhiên, cho đến nay, biện pháp “buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính” trong lĩnh vực du lịch còn là “điểm mờ” khi vẫn chưa có những quy định cụ thể hướng dẫn việc áp dụng biện pháp này, luận suy vấn đề một cách thấu đáo cho thấy, việc xác định số lợi bất chính là hoạt động cần phải được quy định một cách cụ thể, bảo đảm độ chính xác số lợi bất hợp pháp mà chủ thể có hành vi vi phạm phải nộp lại ngân sách nhà nước, cũng như mang tính công bằng cho các chủ thể có hành vi vi phạm. Bởi việc xác định số lợi bất hợp pháp cao hơn so với số lợi thu được thực tế sẽ ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của họ. Mặt khác, việc chưa hướng dẫn cách thức xác định số lợi bất hợp pháp sẽ dẫn đến sự thiếu nhất quán giữa các chủ thể có thẩm quyền xử phạt với các hình thức xử phạt bổ sung là “buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp”.

Thứ ba, mức xử phạt với một số hành vi chưa đủ sức răn đe để phòng ngừa hành vi vi phạm. Trên cơ sở khoản 1 Điều 10 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP, quy định sẽ xử phạt vi phạm hành chính nếu cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú không niêm yết công khai giá hàng hóa, dịch vụ theo quy định có thể sẽ bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng (mức phạt tiền này áp dụng đối với cá nhân). Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức gấp 02 lần mức phạt tiền với cá nhân. Theo quan điểm của tác giả, định mức xử phạt này còn rất thấp so với giá trị lợi nhuận mà các cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú thu về, chưa đủ tính răn đe. Để làm rõ vấn đề này, tác giả đưa ra ví dụ như sau: Với bảng báo giá phòng của Khách sạn X tại Phú Quốc vào ngày 28 - 29/11/2022 là khoảng 10.090.064/đêm, chưa bao gồm thuế VAT. Nếu trường hợp khách sạn tùy ý điều chỉnh giá phòng tăng từ 10 - 20% với lý do là tháng cao điểm du lịch dẫn đến tình trạng “khan hiếm” phòng, thì lợi nhuận khách sạn thu về có giá trị chênh lệch khoảng 1.000.000 - 2.000.000 VNĐ so với giá niêm yết. Nếu hành vi này bị phát hiện và tiến hành xử phạt hành chính, có thể thấy, mức phạt là rất thấp so với số tiền mà khách sạn thực tế thu về.

Thứ tư, vẫn tồn tại một số hành vi vi phạm trong lĩnh vực du lịch chưa chịu sự điều chỉnh của Nghị định số 45/2019/NĐ-CP. Cụ thể:

- Theo quy định của Điều 46 Luật Du lịch năm 2017, phương tiện vận tải khách du lịch được cấp biển hiệu khi tổ chức, cá nhân kinh doanh vận tải khách du lịch đáp ứng điều kiện kinh doanh vận tải; quy chuẩn kỹ thuật, bảo vệ môi trường của phương tiện vận tải; điều kiện của người điều khiển phương tiện vận tải, nhân viên phục vụ, trang thiết bị, chất lượng dịch vụ trên từng loại phương tiện vận tải theo quy định của pháp luật. Các phương tiện vận tải khách du lịch có biển hiệu được vận tải hành khách theo hợp đồng và được ưu tiên bố trí nơi neo đậu, dừng, đỗ để đón, trả khách du lịch tại sân bay, bến cảng, nhà ga, bến xe, trong khu du lịch, gần điểm du lịch, cơ sở lưu trú du lịch và được hoạt động không hạn chế thời gian trên các tuyến giao thông dẫn tới các điểm tham quan du lịch, cơ sở lưu trú du lịch, điểm cung ứng dịch vụ du lịch theo quy định của chính quyền địa phương. Thực tế cho thấy, đã có rất nhiều trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh vận tải khách du lịch nhưng chưa đáp ứng các điều kiện để được cấp biển hiệu sử dụng phương tiện vận tải khách du lịch. Do vậy, xuất hiện tình trạng các tổ chức, cá nhân kinh doanh vận tải du lịch làm biển hiệu giả để có thể tiến hành vận tải hành khách và thụ hưởng các chính sách ưu tiên. Có thể thấy, đây là hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực du lịch cần có quy định xử phạt nghiêm khắc.

- Cơ sở lưu trú có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh nơi có cơ sở lưu trú du lịch khi có sự thay đổi về tên cơ sở, quy mô, địa chỉ, người đại diện theo pháp luật. Nếu không tuân thủ quy định này sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính dựa trên khoản 2 Điều 10 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP. Tuy nhiên, khi có sự đối sánh vấn đề giữa điểm d khoản 2 Điều 53 Luật Du lịch năm 2017 và khoản 2 Điều 10 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP đã cho thấy chưa có sự thống nhất, bởi điểm d khoản 2 Điều 53 Luật Du lịch năm 2017 chỉ yêu cầu cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú có trách nhiệm “thông báo bằng văn bản cho cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh nơi có cơ sở lưu trú du lịch khi có sự thay đổi về tên cơ sở, quy mô, địa chỉ, người đại diện theo pháp luật”, không yêu cầu cơ sở lưu trú du lịch phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh nơi có cơ sở lưu trú du lịch trước khi đi vào hoạt động.

- Điểm đ khoản 2 Điều 53 Luật Du lịch năm 2017 quy định, các cơ sở lưu trú du lịch chỉ được sử dụng từ “sao” hoặc hình ảnh ngôi sao để quảng cáo về hạng cơ sở lưu trú du lịch sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch. Điều này là cần thiết để bảo vệ quyền lợi của khách hàng khi sử dụng dịch vụ của các cơ sở lưu trú, việc công khai đúng sao, đúng chất lượng hướng tới bảo đảm về chất lượng, đúng giá trị dịch vụ theo công bố sao. Từ đó, với trường hợp các cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú nếu không tuân thủ sẽ có những chế tài xử phạt thích đáng. Tuy nhiên, khi đối sánh vấn đề với Nghị định số 45/2019/NĐ-CP, tác giả nhận thấy vẫn chưa có những điều chỉnh liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính đối với các cơ sở lưu trú không được công nhận sao nhưng sử dụng hình ảnh, chữ “sao” gây nhầm lẫn cho khách hàng sử dụng dịch vụ.

- Với trường hợp các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch đã được công nhận hạng sẽ có nghĩa vụ treo biển công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch và quảng cáo đúng với loại, hạng đã được công nhận. Liên quan đến vấn đề này, tác giả nhận thấy, Luật Du lịch năm 2017 và Nghị định số 168/2017/NĐ-CP ngày 31/12/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Du lịch chưa có hướng dẫn hay yêu cầu cơ sở lưu trú du lịch treo biển công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch tại vị trí nào tại cơ sở của mình. Tuy nhiên, tại khoản 2 Điều 12 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP quy định, phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi gắn biển công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch không ở khu vực cửa chính của cơ sở lưu trú du lịch. Như vậy, rõ ràng là chưa có sự thống nhất trong các quy định pháp luật liên quan đến vấn đề này.

- Các cơ sở lưu trú có quyền được quảng cáo về cơ sở kinh doanh của mình, có nghĩa vụ quảng cáo đúng hạng “sao” mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số trường hợp cơ sở lưu trú quảng cáo không đúng với hiện trạng thực tế như: Khách sạn xa biển nhưng quảng cáo sát bờ biển hoặc giả hình ảnh cơ sở vật chất khác so với tình hình thực tế... Đối chiếu vấn đề với Nghị định số 45/2019/NĐ-CP, tác giả nhận thấy, pháp luật vẫn chưa có những chế tài điều chỉnh trong trường hợp các cơ sở lưu trú du lịch quảng cáo không đúng với hiện trạng thực tế tại cơ sở lưu trú. Điều này dẫn đến hiện trạng, có rất nhiều trường hợp khách du lịch đặt phòng nhưng thực tế lại không như quảng cáo. Có nhiều căn cứ để khách hàng lựa chọn dịch vụ từ phía cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú. Trong đó, khi tiến hành khảo sát trên 368 khách du lịch nội địa và 190 khách du lịch quốc tế trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, kết quả nghiên cứu đã khẳng định, khách du lịch lựa chọn nơi lưu trú dựa trên các yếu tố như: Vị trí địa lý, đánh giá của khách du lịch dựa trên internet, giá cả, danh tiếng khách sạn...[3]. Do đó, nếu việc quảng cáo sai sự thật sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của khách du lịch cũng như chất lượng của chuyến đi.

2. Một số kiến nghị

Thứ nhất, nhằm khắc phục bất cập giữa điểm c khoản 6 Điều 16 và điểm b khoản 2 Điều 3 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP và tránh tình trạng khiếu nại, khiếu kiện do quy định còn chưa thống nhất, đồng bộ, tác giả kiến nghị tăng thời hạn áp dụng hình thức xử phạt bổ sung “đình chỉ hoạt động” tại điểm b khoản 2 Điều 3 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP tương đương với mức cao nhất được áp dụng trong toàn bộ Nghị định này. Cụ thể, sửa đổi điểm b khoản 2 Điều 3 như sau: “Đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 01 tháng đến 12 tháng”.

Thứ hai, khác với bản chất pháp lý của hình thức xử phạt là làm thiệt hại đến tình trạng ban đầu vốn có của người vi phạm về quyền sở hữu tài sản hay quyền nhân thân, biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu mà vi phạm đã gây ra, đã làm thay đổi hoặc khôi phục những quyền, lợi ích hợp pháp bị vi phạm hành chính xâm hại[4]. Theo đó, việc thu lại số lợi bất hợp pháp trong lĩnh vực du lịch là biện pháp truy thu lại số lợi mà người vi phạm có được do hành vi vi phạm hành chính gây ra. Vì vậy, cần có hướng dẫn về cách thức, phương pháp xác định số lợi bất hợp pháp do việc thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch. Việc quy định này bảo đảm cho việc truy thu được thực hiện một cách chính xác, tương đương với số lợi có được do hành vi vi phạm hành chính, bảo đảm không xâm phạm đến quyền và lợi ích chính đáng của người vi phạm. Mặt khác, từ việc bổ sung quy định về cách thức và phương pháp xác định số lợi bất hợp pháp góp phần thống nhất trong việc áp dụng biện pháp này của các chủ thể có thẩm quyền.

Thứ ba, việc định mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch cần được điều chỉnh phù hợp với sự phát triển, tính đặc thù của lĩnh vực này. Theo đó, đối với các “mùa du lịch cao điểm”, cần xây dựng mức phạt cao hơn trong giai đoạn bình thường. Cần rà soát các hành vi vi phạm hành chính mà mức xử phạt còn thấp so với lợi ích mà chủ thể vi phạm có được. Điều này tránh trường hợp cá nhân, tổ chức chấp nhận vi phạm hành chính, chấp nhận bị xử phạt vi phạm hành chính bởi lợi ích thu được rất cao so với mức phạt. Từ đó, để siết chặt và tăng tính răn đe trong việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch, các mức phạt phải đủ sức tác động, ảnh hưởng đối với cá nhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực này.

Thứ tư, để bảo đảm quyền và lợi ích cho người dân, bảo đảm trật tự quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực du lịch, cần bổ sung vào Nghị định số 45/2019/NĐ-CP các hành vi cần được xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch như sau: Hành vi sử dụng biển hiệu, phương tiện vận tải du lịch giả; hành vi sử dụng hình ảnh, ngôn ngữ gây nhầm lẫn cho khách hàng về hạng của cơ sở du lịch lưu trú; hành vi quảng cáo sai sự thật đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú. Tương ứng với mỗi hành vi, cần xây dựng các quy định về biện pháp khắc phục hậu quả, hình thức xử phạt bổ sung thích hợp để tránh tình trạng cá nhân, tổ chức tiếp tục vi phạm.

ThS. Nguyễn Chí Hải

Khoa Luật, Đại học Nam Cần Thơ

[1]. Nguyễn Nhật Khanh (2020), Một số vấn đề pháp lý cần hoàn thiện về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, số 01 (131), tr. 19.

[2]. Cao Vũ Minh & Nguyễn Nhật Khanh (2019), “Một số quy định liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi buôn bán hàng giả - Bất cập và hướng hoàn thiện”, Tạp chí Nghề luật, số 3, tr. 48.

[3]. Hà Nam Khánh Giao (2018), Sách chuyên khảo đo lường chất lượng dịch vụ - Nhìn từ khách hàng, Nxb. Tài chính.

[4]. Nguyễn Cửu Việt (2013), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 393), tháng 11/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: