Thứ hai 18/05/2026 20:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án trong Bộ luật Hình sự năm 2015

Xóa án tích cho người bị kết án là người dưới 18 tuổi là một trong nội dung quan trọng trong Luật Hình sự Việt Nam. Các quy định về xóa án tích nói chung được quy định tại Điều 69 đến Điều 73 Chương X Bộ luật Hình sự năm 2015 và quy định xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi được quy định tại Điều 107 Chương XII Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đây là một trong những quy định ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người bị kết án vì trong một số trường hợp nếu người phạm tội đã bị kết án, thuộc trường hợp có án tích nhưng chưa được xóa là một trong những cơ sở để định tội, để xem xét tái phạm, tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung hình phạt trong một số tội phạm hoặc là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS) được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Mặc dù Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có quy định cụ thể về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án, tuy nhiên theo quy định tại Điều 90 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì “người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu TNHS theo quy định của Chương này, theo quy định khác của phần thứ nhất của Bộ luật này không trái với quy định của Chương này”. Vì vậy, việc tìm hiểu quy định về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án phải đặt trong mối liên hệ với các quy định xóa án tích khác của Phần thứ nhất Bộ luật Hình sự năm 2015.

1. Quy định về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án trong Bộ luật hình sự năm 2015

Nhìn chung những quy định liên quan đến xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án trong Bộ luật Hình sự năm 2015 được quy định theo hướng có lợi hơn, thông qua các quy định về: Các trường hợp người bị kết án không có án tích, thời hạn xóa án tích, cách tính thời hạn xóa án tích cũng như thủ tục pháp lý để xác định việc xóa án tích. Sự sửa đổi này thể hiện được đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta là khuyến khích, giúp người phạm tội tích cực cải tạo tốt, chấp hành tốt pháp luật, sớm tái hòa nhập cộng đồng để thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình. Cụ thể:

Thứ nhất, các trường hợp người dưới 18 tuổi bị kết án nhưng không có án tích

- Người bị kết án là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi đối với mọi trường hợp phạm tội (điểm a khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015);

- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng dù là lỗi cố ý hay vô ý và tội rất nghiêm trọng với lỗi vô ý (điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015);

- Người dưới 18 tuổi bị áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng tại Mục 3 Chương XII Bộ luật Hình sự năm 2015.

Như vậy có thể thấy rằng, đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội rất nghiêm trọng với lỗi cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì mới có án tích. Án tích chỉ đặt ra đối với người chưa thành niên bị kết án là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi.

Thứ hai, trường hợp đương nhiên được xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án

Theo quy định tại khoản 2 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015: “Người tử đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bi kết án về tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì đương nhiên xóa án tích trong thời hạn 3 năm và được tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời hiệu thi hành bản án người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới”.

- Thời hạn xóa án tích trong trường hợp đương nhiên xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án luôn luôn là 03 năm. Việc xác định thời hạn 03 năm này không phụ thuộc vào hình phạt chính đã tuyên (tức là cách tính thời hạn không giống như người từ đủ 18 tuổi bị kết án vì theo quy định tại khoản 1 Điều 73 Bộ luật Hình sự năm 2015 “thời hạn xóa án tích quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật này căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên”) và theo quy định tại khoản 2 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì mọi trường hợp có án tích đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án đều thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích chứ không có trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án .

- Thời hạn xóa án tích được tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc khi hết thời hiệu thi hành bản án. Đây là quy định mới về cách tính thời hạn xóa án tích trong Bộ luật Hình sự năm 2015 vì theo quy định Bộ luật Hình sự năm 1999 thì thời hạn xóa án tích được tính khi người phạm tội chấp hành xong bản án.

Ví dụ: A (17 tuổi) bị kết án về tội cố ý gây thương tích theo khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, bị kết án 07 năm tù, bồi thường chi phí điều trị cho nạn nhân là 30 triệu đồng. Ngày 20/01/2017, A chấp hành xong hình phạt tù, ngày 20/3/2017, A bồi thường cho nạn nhân. Vậy thời hạn xóa án tích của người bị kết án là 03 năm được tính từ ngày 20/01/2017 vì đây là ngày A chấp hành xong hình phạt chính (còn nếu theo Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 1999, thì thời điểm bắt đầu tính để xóa án tích là ngày 20/3/2017 vì đây là ngày chấp hành xong bản án).

- Trong thời hạn xóa án tích là 03 năm thì không được thực hiện hành vi phạm tội mới. Tội phạm mới này có thể là bất kỳ loại tội phạm nào cũng như có thể được thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý. Nếu như ngươi bị kết án chưa được xóa án tích lại phạm tội mới và bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì thời hạn để xóa án tích cũ được tính lại kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo của bản án mới hoặc từ ngày bản án mới hết thời hiệu thi hành (khoản 2 Điều 73 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015).

Thứ ba, thủ tục xóa án tích

Trong Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã đổi mới căn bản thủ tục xóa án tích theo hướng thuận lợi hơn cho người bị kết án, theo đó, không còn quy định Tòa án cấp giấy chứng nhận xóa án tích cho người được đương nhiên xóa án tích, mà giao trách nhiệm cho cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp phải cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án. Trường hợp xác định được người bị kết án đã có đủ điều kiện xoá án tích theo quy định thì cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp phải ghi “đã được xóa án tích” vào lý lịch tư pháp của người đó và cấp Phiếu lý lịch tư pháp có ghi “không có án tích” khi được yêu cầu (khoản 4 Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015).

2. Một số hạn chế trong quy định về xóa án tích đối với người bị kết án là người dưới 18 tuổi trong Bộ luật Hình sự năm 2015 và kiến nghị hoàn thiện

Một là, Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về thời hạn xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi chưa hợp lý

Căn cứ để tính thời hạn xóa án tích đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên là dựa vào hình phạt chính mà Tòa án đã tuyên (khoản 1 Điều 73 Bộ luật Hình sự năm 2015). Trong khi căn cứ để xác định thời hạn xóa án tích đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội lại không dựa vào hình phạt chính mà Tòa án tuyên, mà đối với đối tượng này thời hạn xóa án tích luôn luôn là 03 năm nếu phạm vào loại tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hay đặc biệt nghiêm trọng (khoản 2 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015) dù Tòa án áp dụng hình phạt chính là hình phạt gì, mức hình phạt bao nhiêu cũng không ảnh hưởng đến thời hạn xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án. Phải chăng theo quy định tại khoản 2 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì căn cứ để xác định thời hạn xóa án tích đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là dựa vào loại tội phạm và lỗi1, nếu căn cứ vào các yếu tố này liệu có hợp lý không khi hành vi phạm tội xảy ra trên thực tế có thể thuộc loại tội phạm giống nhau nhưng mức độ nguy hiểm cho xã hội lại có sự khác nhau, vì vậy hình phạt áp dụng sẽ khác nhau.

Như vậy, không có sự thống nhất trong căn cứ để xác định thời hạn xóa án tích. Quan điểm của tác giả cho rằng căn cứ để xác định thời hạn xóa án tích đối với người trên 18 tuổi hay dưới 18 tuổi bị kết án nên giống nhau là đều dựa vào hình phạt chính đã tuyên là hợp lý hơn cả. Chính vì vậy, cách quy định về thời hạn xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án trong Bộ luật Hình sự năm 1999 là phù hợp hơn cách quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015.

Vì vậy tác giả kiến nghị nên sửa đổi quy định về thời hạn đương nhiên xóa án tích đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội theo hướng như trong Bộ luật Hình sự năm 1999, cụ thể, cần sửa đổi khoản 2 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 như sau: “Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích bằng một phần hai thời hạn được quy định tại khoản 2 Điều 70 của Bộ luật Hình sự năm 2015”.

Hai là, Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về cách tính thời hạn để xóa án tích đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi không thống nhất như với người từ đủ 18 tuổi bị kết án

Khoản 2 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Người tử đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bi kết án về tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì đương nhiên xóa án tích trong thời hạn 03 năm và được tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời hiệu thi hành bản án người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới”.

Theo quy định này nếu trong vòng 03 năm từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới thì án tích sẽ được xóa. Như vậy trong khoản 2 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 không hề đề cập đến trường hợp người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu bị kết án nhưng được hưởng án treo thì thời hạn xóa án tích được tính từ khi nào, nếu trong thời gian thử thách của án treo mà người bị kết án phạm tội mới thì thời hạn xóa án tích có được tính lại hay không cũng như nếu hết thời hạn xóa án tích nhưng người bị kết án chưa thực hiện xong các quyết định khác trong bản án (ví dụ như bồi thường thiệt hại…) thì án tích có được xóa hay không?

Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định cụ thể một số nội dung trên thì theo nguyên tắc quy định tại Điều 90 Bộ luật Hình sự năm 2015 “người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu TNHS theo quy định của Chương này, theo quy định khác của phần thứ nhất của Bộ luật này không trái với quy định của Chương này”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015, thì thời hạn xóa án tích được tính kể từ khi chấp hành xong thời gian thử thách của án treo và khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015 có quy định điều kiện để được xóa án tích là “nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách của án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới”. Đây là các quy định không trái với quy định tại khoản 2 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì về nguyên tắc phải áp dụng các quy định về xóa án tích nói chung.

Tuy nhiên theo quan điểm của tác giả, việc quy định như trong khoản 2 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 sẽ dẫn đến những cách hiểu không thống nhất vì rõ ràng việc quy định điều kiện và cách tính thời hạn xóa án tích trong khoản 2 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được quy định tại khoản 2 Điều 73 Bộ luật Hình sự năm 2015, nếu nội dung không có gì thay đổi thì trong khoản 2 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 chỉ cần quy định thời hạn xóa án tích chứ không cần thiết phải quy định lại một lần nữa cách tính thời hạn xóa án tích mà lại quy định không đầy đủ như vậy. Vì vậy, theo quan điểm của tác giả, khoản 2 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 nếu đã quy định điều kiện để xóa án tích thì nên quy định đầy đủ để tránh gây nhầm lẫn khi áp dụng.

Cụ thể khoản 2 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên sửa đổi như sau: Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội… tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính, hết thời gian thử thách của bản án treo, người đó chấp hành xong các quyết định khác của bản án hoặc kể từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới”.

Ba là, Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa có quy định về xóa án tích trong trường hợp đặc biệt đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án.

Xóa án tích trong trường hợp đặc biệt là xóa án tích do Tòa án quyết định nhưng ở thời điểm sớm hơn khi thỏa mãn các điều kiện đặc biệt, quy định này nhằm khuyến khích người bị kết án cải tạo tốt, lập công để sớm được xóa án tích. Điều 72 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định người bị kết án phải đảm bảo được ít nhất một phần ba thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 và khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này thì mới có thể được xóa án tích trong trường hợp đặc biệt. Điều 72 Bộ luật Hình sự năm 2015 không hề đề cập đến việc xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi trong trường hợp đặc biệt.

Bên cạnh đó trong quy định riêng về xóa án tích đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi cũng không hề quy định. Vì vậy, tác giả kiến nghị nên bổ sung trường hợp này vào trong luật sau khoản 2 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 để thống nhất trong cách quy định cũng như áp dụng trên thực tế, cụ thể như sau:

Điều 107. Xóa án tích

“…

Trong trường hợp người bị kết án là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công, được cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú đề nghị, thì Tòa án quyết định việc xóa án tích nếu người đó đã bảo đảm được ít nhất một phần ba thời hạn quy định tại khoản 2 điều này.

Bốn là, Bộ luật Hình sự 2015 chưa quy định về trường hợp xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội trong đó có tội thực hiện khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, có tội thực hiện khi đã đủ 18 tuổi

Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định thêm trường hợp xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội trong đó có tội thuộc trường hợp đương nhiên xóa án tích theo quyết định của Tòa án, có tội thuộc trường hợp đương nhiên xóa án tích2, thì sẽ căn cứ vào thời hạn xóa án tích trong trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án để Tòa án quyết định việc xóa án tích. Như vậy, có thể hiểu Bộ luật Hình sự năm 2015 đang quy định theo hướng thời hạn xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội, thì cần phải căn cứ vào hình phạt chung sau khi quyết định chứ không xác định theo từng tội. Vì vậy, trường hợp phạm nhiều tội và đều thuộc trường hợp đương nhiên xóa án tích, thì việc xác định thời hạn xóa án tích nên căn cứ theo hình phạt chung sau khi đã tổng hợp.

Theo quan điểm của tác giả thì việc xóa án tích đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm nhiều tội cũng cần phải dựa vào hình phạt chung sau khi đã tổng hợp và cũng cần dựa vào hình phạt chính để xác định thời hạn để xóa án tích. Nhưng thời hạn xóa án tích này sẽ tính theo thời hạn của người dưới 18 tuổi hay là trường hợp đủ 18 tuổi trở lên vì nếu tính theo trường hợp chưa đủ 18 tuổi sẽ có lợi cho người phạm tội. Vì vậy, cần sớm bổ sung quy định này vào trong luật để có cơ sở xóa án tích đối với người bị kết án và thống nhất trong thực tiễn áp dụng.

Việc tính thời hạn xóa án tích theo nhóm độ tuổi nào theo tác giả nên dựa vào tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội phản ánh thông qua hình phạt chính được áp dụng, vì vậy, việc so sánh hình phạt chính được Tòa án áp dụng trong từng nhóm độ tuổi sẽ là cơ sở để xác định thời hạn xóa án tích, đây chính là tiêu chí mà Bộ luật Hình sự năm 2015 sử dụng để tổng hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội hay trường hợp có nhiều bản án đối với người dưới 18 tuổi tại Điều 103 Bộ luật Hình sự năm 2015. Cụ thể, nên bổ sung thêm một số nội dung sau vào Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015:

“…

4. Đối với người phạm nhiều tội, có tội được thực hiện khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, có tội được thực hiện khi đủ 18 tuổi và đều thuộc trường hợp có án tích thì:

a. Nếu mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội thực hiện khi người đó đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nặng hơn hoặc bằng với mức hình phạt tòa tuyên đối với tội thực hiện khi đủ 18 tuổi thì thời hạn xóa án tích sẽ tính theo khoản 1 điều này;

b. Nếu mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội thực hiện khi đủ 18 tuổi nặng hơn mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội thực hiện khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thì thời hạn xóa án tích được tính theo khoản 2 Điều 70 của Bộ luật này”

ThS. Phan Thị Phương Hiền

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh



Tài liệu tham khảo:

1. Xem bản thuyết minh chi tiết về dự thảo Bộ luật Hình sự sửa đổi tháng 4 năm 2015 của ban soạn thảo Bộ luật Hình sự liên quan đến thời hạn xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, tác giả không thấy đề cập gì đến lý do vì sao căn cứ xác định thời hạn xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi lại khác với người đủ 18 tuổi trở lên.

2. Khoản 3 Điều 73 Bộ luật H́nh sự năm 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: