Chủ nhật 04/10/2026 03:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án trong Bộ luật Hình sự năm 2015

Xóa án tích cho người bị kết án là người dưới 18 tuổi là một trong nội dung quan trọng trong Luật Hình sự Việt Nam. Các quy định về xóa án tích nói chung được quy định tại Điều 69 đến Điều 73 Chương X Bộ luật Hình sự năm 2015 và quy định xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi được quy định tại Điều 107 Chương XII Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đây là một trong những quy định ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người bị kết án vì trong một số trường hợp nếu người phạm tội đã bị kết án, thuộc trường hợp có án tích nhưng chưa được xóa là một trong những cơ sở để định tội, để xem xét tái phạm, tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung hình phạt trong một số tội phạm hoặc là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS) được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Mặc dù Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có quy định cụ thể về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án, tuy nhiên theo quy định tại Điều 90 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì “người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu TNHS theo quy định của Chương này, theo quy định khác của phần thứ nhất của Bộ luật này không trái với quy định của Chương này”. Vì vậy, việc tìm hiểu quy định về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án phải đặt trong mối liên hệ với các quy định xóa án tích khác của Phần thứ nhất Bộ luật Hình sự năm 2015.

1. Quy định về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án trong Bộ luật hình sự năm 2015

Nhìn chung những quy định liên quan đến xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án trong Bộ luật Hình sự năm 2015 được quy định theo hướng có lợi hơn, thông qua các quy định về: Các trường hợp người bị kết án không có án tích, thời hạn xóa án tích, cách tính thời hạn xóa án tích cũng như thủ tục pháp lý để xác định việc xóa án tích. Sự sửa đổi này thể hiện được đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta là khuyến khích, giúp người phạm tội tích cực cải tạo tốt, chấp hành tốt pháp luật, sớm tái hòa nhập cộng đồng để thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình. Cụ thể:

Thứ nhất, các trường hợp người dưới 18 tuổi bị kết án nhưng không có án tích

- Người bị kết án là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi đối với mọi trường hợp phạm tội (điểm a khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015);

- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng dù là lỗi cố ý hay vô ý và tội rất nghiêm trọng với lỗi vô ý (điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015);

- Người dưới 18 tuổi bị áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng tại Mục 3 Chương XII Bộ luật Hình sự năm 2015.

Như vậy có thể thấy rằng, đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội rất nghiêm trọng với lỗi cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì mới có án tích. Án tích chỉ đặt ra đối với người chưa thành niên bị kết án là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi.

Thứ hai, trường hợp đương nhiên được xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án

Theo quy định tại khoản 2 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015: “Người tử đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bi kết án về tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì đương nhiên xóa án tích trong thời hạn 3 năm và được tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời hiệu thi hành bản án người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới”.

- Thời hạn xóa án tích trong trường hợp đương nhiên xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án luôn luôn là 03 năm. Việc xác định thời hạn 03 năm này không phụ thuộc vào hình phạt chính đã tuyên (tức là cách tính thời hạn không giống như người từ đủ 18 tuổi bị kết án vì theo quy định tại khoản 1 Điều 73 Bộ luật Hình sự năm 2015 “thời hạn xóa án tích quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật này căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên”) và theo quy định tại khoản 2 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì mọi trường hợp có án tích đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án đều thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích chứ không có trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án .

- Thời hạn xóa án tích được tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc khi hết thời hiệu thi hành bản án. Đây là quy định mới về cách tính thời hạn xóa án tích trong Bộ luật Hình sự năm 2015 vì theo quy định Bộ luật Hình sự năm 1999 thì thời hạn xóa án tích được tính khi người phạm tội chấp hành xong bản án.

Ví dụ: A (17 tuổi) bị kết án về tội cố ý gây thương tích theo khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, bị kết án 07 năm tù, bồi thường chi phí điều trị cho nạn nhân là 30 triệu đồng. Ngày 20/01/2017, A chấp hành xong hình phạt tù, ngày 20/3/2017, A bồi thường cho nạn nhân. Vậy thời hạn xóa án tích của người bị kết án là 03 năm được tính từ ngày 20/01/2017 vì đây là ngày A chấp hành xong hình phạt chính (còn nếu theo Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 1999, thì thời điểm bắt đầu tính để xóa án tích là ngày 20/3/2017 vì đây là ngày chấp hành xong bản án).

- Trong thời hạn xóa án tích là 03 năm thì không được thực hiện hành vi phạm tội mới. Tội phạm mới này có thể là bất kỳ loại tội phạm nào cũng như có thể được thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý. Nếu như ngươi bị kết án chưa được xóa án tích lại phạm tội mới và bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì thời hạn để xóa án tích cũ được tính lại kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo của bản án mới hoặc từ ngày bản án mới hết thời hiệu thi hành (khoản 2 Điều 73 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015).

Thứ ba, thủ tục xóa án tích

Trong Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã đổi mới căn bản thủ tục xóa án tích theo hướng thuận lợi hơn cho người bị kết án, theo đó, không còn quy định Tòa án cấp giấy chứng nhận xóa án tích cho người được đương nhiên xóa án tích, mà giao trách nhiệm cho cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp phải cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án. Trường hợp xác định được người bị kết án đã có đủ điều kiện xoá án tích theo quy định thì cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp phải ghi “đã được xóa án tích” vào lý lịch tư pháp của người đó và cấp Phiếu lý lịch tư pháp có ghi “không có án tích” khi được yêu cầu (khoản 4 Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015).

2. Một số hạn chế trong quy định về xóa án tích đối với người bị kết án là người dưới 18 tuổi trong Bộ luật Hình sự năm 2015 và kiến nghị hoàn thiện

Một là, Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về thời hạn xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi chưa hợp lý

Căn cứ để tính thời hạn xóa án tích đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên là dựa vào hình phạt chính mà Tòa án đã tuyên (khoản 1 Điều 73 Bộ luật Hình sự năm 2015). Trong khi căn cứ để xác định thời hạn xóa án tích đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội lại không dựa vào hình phạt chính mà Tòa án tuyên, mà đối với đối tượng này thời hạn xóa án tích luôn luôn là 03 năm nếu phạm vào loại tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hay đặc biệt nghiêm trọng (khoản 2 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015) dù Tòa án áp dụng hình phạt chính là hình phạt gì, mức hình phạt bao nhiêu cũng không ảnh hưởng đến thời hạn xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án. Phải chăng theo quy định tại khoản 2 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì căn cứ để xác định thời hạn xóa án tích đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là dựa vào loại tội phạm và lỗi1, nếu căn cứ vào các yếu tố này liệu có hợp lý không khi hành vi phạm tội xảy ra trên thực tế có thể thuộc loại tội phạm giống nhau nhưng mức độ nguy hiểm cho xã hội lại có sự khác nhau, vì vậy hình phạt áp dụng sẽ khác nhau.

Như vậy, không có sự thống nhất trong căn cứ để xác định thời hạn xóa án tích. Quan điểm của tác giả cho rằng căn cứ để xác định thời hạn xóa án tích đối với người trên 18 tuổi hay dưới 18 tuổi bị kết án nên giống nhau là đều dựa vào hình phạt chính đã tuyên là hợp lý hơn cả. Chính vì vậy, cách quy định về thời hạn xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án trong Bộ luật Hình sự năm 1999 là phù hợp hơn cách quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015.

Vì vậy tác giả kiến nghị nên sửa đổi quy định về thời hạn đương nhiên xóa án tích đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội theo hướng như trong Bộ luật Hình sự năm 1999, cụ thể, cần sửa đổi khoản 2 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 như sau: “Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích bằng một phần hai thời hạn được quy định tại khoản 2 Điều 70 của Bộ luật Hình sự năm 2015”.

Hai là, Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về cách tính thời hạn để xóa án tích đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi không thống nhất như với người từ đủ 18 tuổi bị kết án

Khoản 2 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Người tử đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bi kết án về tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì đương nhiên xóa án tích trong thời hạn 03 năm và được tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời hiệu thi hành bản án người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới”.

Theo quy định này nếu trong vòng 03 năm từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới thì án tích sẽ được xóa. Như vậy trong khoản 2 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 không hề đề cập đến trường hợp người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu bị kết án nhưng được hưởng án treo thì thời hạn xóa án tích được tính từ khi nào, nếu trong thời gian thử thách của án treo mà người bị kết án phạm tội mới thì thời hạn xóa án tích có được tính lại hay không cũng như nếu hết thời hạn xóa án tích nhưng người bị kết án chưa thực hiện xong các quyết định khác trong bản án (ví dụ như bồi thường thiệt hại…) thì án tích có được xóa hay không?

Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định cụ thể một số nội dung trên thì theo nguyên tắc quy định tại Điều 90 Bộ luật Hình sự năm 2015 “người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu TNHS theo quy định của Chương này, theo quy định khác của phần thứ nhất của Bộ luật này không trái với quy định của Chương này”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015, thì thời hạn xóa án tích được tính kể từ khi chấp hành xong thời gian thử thách của án treo và khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015 có quy định điều kiện để được xóa án tích là “nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách của án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới”. Đây là các quy định không trái với quy định tại khoản 2 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì về nguyên tắc phải áp dụng các quy định về xóa án tích nói chung.

Tuy nhiên theo quan điểm của tác giả, việc quy định như trong khoản 2 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 sẽ dẫn đến những cách hiểu không thống nhất vì rõ ràng việc quy định điều kiện và cách tính thời hạn xóa án tích trong khoản 2 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được quy định tại khoản 2 Điều 73 Bộ luật Hình sự năm 2015, nếu nội dung không có gì thay đổi thì trong khoản 2 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 chỉ cần quy định thời hạn xóa án tích chứ không cần thiết phải quy định lại một lần nữa cách tính thời hạn xóa án tích mà lại quy định không đầy đủ như vậy. Vì vậy, theo quan điểm của tác giả, khoản 2 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 nếu đã quy định điều kiện để xóa án tích thì nên quy định đầy đủ để tránh gây nhầm lẫn khi áp dụng.

Cụ thể khoản 2 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên sửa đổi như sau: Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội… tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính, hết thời gian thử thách của bản án treo, người đó chấp hành xong các quyết định khác của bản án hoặc kể từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới”.

Ba là, Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa có quy định về xóa án tích trong trường hợp đặc biệt đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án.

Xóa án tích trong trường hợp đặc biệt là xóa án tích do Tòa án quyết định nhưng ở thời điểm sớm hơn khi thỏa mãn các điều kiện đặc biệt, quy định này nhằm khuyến khích người bị kết án cải tạo tốt, lập công để sớm được xóa án tích. Điều 72 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định người bị kết án phải đảm bảo được ít nhất một phần ba thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 và khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này thì mới có thể được xóa án tích trong trường hợp đặc biệt. Điều 72 Bộ luật Hình sự năm 2015 không hề đề cập đến việc xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi trong trường hợp đặc biệt.

Bên cạnh đó trong quy định riêng về xóa án tích đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi cũng không hề quy định. Vì vậy, tác giả kiến nghị nên bổ sung trường hợp này vào trong luật sau khoản 2 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 để thống nhất trong cách quy định cũng như áp dụng trên thực tế, cụ thể như sau:

Điều 107. Xóa án tích

“…

Trong trường hợp người bị kết án là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công, được cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú đề nghị, thì Tòa án quyết định việc xóa án tích nếu người đó đã bảo đảm được ít nhất một phần ba thời hạn quy định tại khoản 2 điều này.

Bốn là, Bộ luật Hình sự 2015 chưa quy định về trường hợp xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội trong đó có tội thực hiện khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, có tội thực hiện khi đã đủ 18 tuổi

Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định thêm trường hợp xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội trong đó có tội thuộc trường hợp đương nhiên xóa án tích theo quyết định của Tòa án, có tội thuộc trường hợp đương nhiên xóa án tích2, thì sẽ căn cứ vào thời hạn xóa án tích trong trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án để Tòa án quyết định việc xóa án tích. Như vậy, có thể hiểu Bộ luật Hình sự năm 2015 đang quy định theo hướng thời hạn xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội, thì cần phải căn cứ vào hình phạt chung sau khi quyết định chứ không xác định theo từng tội. Vì vậy, trường hợp phạm nhiều tội và đều thuộc trường hợp đương nhiên xóa án tích, thì việc xác định thời hạn xóa án tích nên căn cứ theo hình phạt chung sau khi đã tổng hợp.

Theo quan điểm của tác giả thì việc xóa án tích đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm nhiều tội cũng cần phải dựa vào hình phạt chung sau khi đã tổng hợp và cũng cần dựa vào hình phạt chính để xác định thời hạn để xóa án tích. Nhưng thời hạn xóa án tích này sẽ tính theo thời hạn của người dưới 18 tuổi hay là trường hợp đủ 18 tuổi trở lên vì nếu tính theo trường hợp chưa đủ 18 tuổi sẽ có lợi cho người phạm tội. Vì vậy, cần sớm bổ sung quy định này vào trong luật để có cơ sở xóa án tích đối với người bị kết án và thống nhất trong thực tiễn áp dụng.

Việc tính thời hạn xóa án tích theo nhóm độ tuổi nào theo tác giả nên dựa vào tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội phản ánh thông qua hình phạt chính được áp dụng, vì vậy, việc so sánh hình phạt chính được Tòa án áp dụng trong từng nhóm độ tuổi sẽ là cơ sở để xác định thời hạn xóa án tích, đây chính là tiêu chí mà Bộ luật Hình sự năm 2015 sử dụng để tổng hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội hay trường hợp có nhiều bản án đối với người dưới 18 tuổi tại Điều 103 Bộ luật Hình sự năm 2015. Cụ thể, nên bổ sung thêm một số nội dung sau vào Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015:

“…

4. Đối với người phạm nhiều tội, có tội được thực hiện khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, có tội được thực hiện khi đủ 18 tuổi và đều thuộc trường hợp có án tích thì:

a. Nếu mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội thực hiện khi người đó đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nặng hơn hoặc bằng với mức hình phạt tòa tuyên đối với tội thực hiện khi đủ 18 tuổi thì thời hạn xóa án tích sẽ tính theo khoản 1 điều này;

b. Nếu mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội thực hiện khi đủ 18 tuổi nặng hơn mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội thực hiện khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thì thời hạn xóa án tích được tính theo khoản 2 Điều 70 của Bộ luật này”

ThS. Phan Thị Phương Hiền

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh



Tài liệu tham khảo:

1. Xem bản thuyết minh chi tiết về dự thảo Bộ luật Hình sự sửa đổi tháng 4 năm 2015 của ban soạn thảo Bộ luật Hình sự liên quan đến thời hạn xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, tác giả không thấy đề cập gì đến lý do vì sao căn cứ xác định thời hạn xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi lại khác với người đủ 18 tuổi trở lên.

2. Khoản 3 Điều 73 Bộ luật H́nh sự năm 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.

Theo dõi chúng tôi trên: