Thứ bảy 10/10/2026 06:09
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện thiết chế về quản lý đăng ký trực tuyến và thông tin dữ liệu về biện pháp bảo đảm

Đăng ký trực tuyến về biện pháp bảo đảm là một trong những dịch vụ công trực tuyến của Bộ Tư pháp, có vai trò rất quan trọng, liên quan trực tiếp đến bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản trong giao dịch dân sự, ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân, doanh nghiệp. Do vậy, việc hoàn thiện thiết chế về đăng ký biện pháp bảo đảm nói chung, thiết chế về quản lý đăng ký trực tuyến và thông tin dữ liệu về biện pháp bảo đảm nói riêng là rất cần thiết, thông qua hệ thống pháp luật, tổ chức bộ máy quản lý, hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật, cùng các giải pháp đồng bộ khác.

Trong bối cảnh cuộc Cách mạnh công nghiệp lần thứ tư đang tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, việc đẩy mạnh phát triển Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số, xã hội số và nền kinh tế số nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước, chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của quốc gia là một trong những nội dung quan trọng trong Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 và cũng là xu hướng tất yếu, khách quan đối với mọi quốc gia trên thế giới. Trong những năm vừa qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản xác định những mục tiêu, nội dung phát triển Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số như Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 07/3/2019 của Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019 - 2020, định hướng đến 2025 (Nghị quyết số 17/NQ-CP); Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (Quyết định số 749/QĐ-TTg); Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 15/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030 (Quyết định số 942/QĐ-TTg) và Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 (Nghị quyết số 76/NQ-CP). Theo đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong mọi hoạt động của nền hành chính nhà nước và các lĩnh vực của đời sống xã hội là một trong những nhiệm vụ quan trọng với mục tiêu tăng cường năng lực, hiệu quả điều hành của Chính phủ, đem lại sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp, tăng cường sự minh bạch của nền hành chính quốc gia, tinh gọn bộ máy để giảm chi tiêu của Chính phủ và nâng cao đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đồng thời tạo thuận lợi, nhanh chóng, giảm thời gian, chi phí, nhân lực, việc đi lại và giảm giao dịch trực tiếp cho người dân, doanh nghiệp…

Trong hoạt động cung cấp dịch vụ công, Bộ Tư pháp luôn xác định việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến là một trong những khâu đột phá mang tính chiến lược của tiến trình cải cách hành chính theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, có năng lực kiến tạo phát triển, liêm chính, phục vụ nhân dân như mục tiêu chung mà Nghị quyết số 76/NQ-CP đã đề ra. Những năm vừa qua, Bộ Tư pháp - bên cạnh việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong các lĩnh vực quản lý, hoạt động của Bộ thì việc hoàn thiện thiết chế về quản lý các hệ thống thông tin trong đó có thiết chế về quản lý đăng ký trực tuyến và thông tin dữ liệu về biện pháp bảo đảm đang được Bộ tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện.

1. Thực trạng quản lý đăng ký trực tuyến và thông tin dữ liệu về biện pháp bảo đảm hiện nay

Đăng ký trực tuyến về biện pháp bảo đảm là một trong những dịch vụ công trực tuyến của Bộ Tư pháp, có vai trò rất quan trọng, liên quan trực tiếp đến bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản trong giao dịch dân sự, ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân, doanh nghiệp. Do vậy, việc hoàn thiện thiết chế về đăng ký biện pháp bảo đảm nói chung, thiết chế về quản lý đăng ký trực tuyến và thông tin dữ liệu về biện pháp bảo đảm nói riêng là rất cần thiết, thông qua hệ thống pháp luật, tổ chức bộ máy quản lý, hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật, cùng các giải pháp đồng bộ khác. Trong đó, xây dựng, hoàn thiện pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm cần được coi trọng nhằm tạo khung pháp lý khẳng định vị trí, vai trò của đăng ký biện pháp bảo đảm. Thông qua đó, tạo sự thống nhất về nhận thức và tổ chức triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Chính phủ; đồng thời, pháp quy hóa các chế độ, chính sách bảo đảm để công tác đăng ký biện pháp bảo đảm được thực hiện theo đúng định hướng đã đề ra.

1.1. Về xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật

Từ năm 2010, nhằm tạo đầy đủ cơ sở pháp lý cho việc triển khai hệ thống đăng ký trực tuyến trong lĩnh vực đăng ký biện pháp bảo đảm bằng động sản, Bộ Tư pháp đã tham mưu, trình Chính phủ ban hành Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 về đăng ký giao dịch bảo đảm, trong đó có nội dung quy định về đăng ký trực tuyến. Trên cơ sở đó, ngày 06/12/2010, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 22/2010/TT-BTP hướng dẫn về đăng ký, cung cấp thông tin trực tuyến giao dịch bảo đảm, hợp đồng, thông báo việc kê biên tài sản thi hành án. Các quy định về đăng ký trực tuyến tiếp tục được hoàn thiện, pháp điển hóa tại Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm, hiện tại là Nghị định số 99/2022/NĐ-CP ngày 30/11/2022 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm (Nghị định số 99/2022/NĐ-CP), có hiệu lực thi hành từ 15/01/2023 với nhiều nội dung mới nhằm thể chế hóa chủ trương, chính sách về chuyển đổi số của Đảng và Chính phủ như: Hoàn thiện quy trình đăng ký trực tuyến biện pháp bảo đảm, bổ sung cơ chế cung cấp thông tin giữa cơ quan đăng ký với cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền thông qua việc cấp mã số sử dụng cơ sở dữ liệu để tự tra cứu, khai thác thông tin trong cơ sở dữ liệu; cơ chế kết nối, chia sẻ dữ liệu về đăng ký biện pháp bảo đảm… Các văn bản quy phạm phạm pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm được ban hành đã đáp ứng các yêu cầu cải cách thủ tục hành chính theo hướng chú trọng đăng ký trực tuyến, cải tiến quy trình đăng ký, cung cấp thông tin, bảo đảm thuận tiện, khoa học và giảm chi phí như đơn giản và minh bạch hóa hồ sơ, thủ tục đăng ký; loại bỏ các giấy tờ không cần thiết trong hồ sơ đăng ký; rút ngắn thời hạn giải quyết thủ tục hành chính…

1.2. Về tổ chức bộ máy quản lý

Về tổ chức bộ máy thực hiện nhiệm vụ quản lý hệ thống đăng ký trực tuyến và thông tin dữ liệu về biện pháp bảo đảm hiện nay đang được giao cho một đơn vị cấp phòng thực hiện, đơn vị này vừa có chức năng tham mưu việc ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực đăng ký biện pháp bảo đảm, vừa triển khai thực hiện việc quản lý, vận hành hệ thống đăng ký trực tuyến và thông tin dữ liệu về biện pháp bảo đảm, vừa xây dựng, góp ý các văn bản liên quan đến ứng dụng công nghệ thông tin của Bộ, Ngành; với khối lượng nhiệm vụ, công việc rất lớn nhưng số lượng biên chế để thực hiện các nhiệm vụ nêu trên thì rất thiếu, hiện tại, với 02 biên chế làm trong lĩnh vực công nghệ thông tin thì thực sự là chưa hợp lý. Bên cạnh đó, thực hiện các nhiệm vụ được quy định tại Nghị định số 99/2022/NĐ-CP thì ngoài các nhiệm vụ nêu trên, đơn vị này còn phải thực hiện thêm một số nhiệm vụ mới, đòi hỏi cần phải có thêm biên chế để thực hiện như: Thực hiện nhiệm vụ cung cấp thông tin cho các cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền phục vụ công tác quản lý nhà nước, giải quyết thủ tục hành chính, hỗ trợ cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn về hoạt động tố tụng, hoạt động thi hành án dân sự có liên quan; thực hiện nhiệm vụ chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan trong việc kết nối, tích hợp, chia sẻ dữ liệu về đăng ký biện pháp bảo đảm với hệ thống của các cơ quan có thẩm quyền và với hệ thống đăng ký tài sản, giao dịch khác... Ngoài ra, để thực hiện chương trình chuyển đổi số quốc gia, phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số, phát triển kinh tế số và xã hội số, nhiệm vụ liên quan đến lĩnh vực công nghệ thông tin sẽ ngày càng lớn. Nếu chiếu theo số lượng biên chế hiện tại để thực hiện các nhiệm vụ nêu trên thì khó có thể hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

1.3. Về hạ tầng kỹ thuật Hệ thống đăng ký trực tuyến

Hạ tầng kỹ thuật hệ thống đăng ký trực tuyến được cài đặt vận hành trên nền tảng hạ tầng kỹ thuật chung của Bộ Tư pháp, về cơ bản, hạ tầng kỹ thuật hệ thống đăng ký biện pháp bảo đảm trực tuyến đáp ứng được yêu cầu trong hoạt động đăng ký, cung cấp thông tin. Hệ thống máy móc, trang thiết bị phần cứng, phần mềm hoạt động ổn định, thông suốt, an toàn, hiệu quả đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, phục vụ tốt cho người dân, doanh nghiệp trong việc thực hiện đăng ký, cung cấp thông tin trực tuyến về đăng ký biện pháp bảo đảm.

Hệ thống đăng ký trực tuyến chính thức đưa vào vận hành từ ngày 19/3/2012 đạt mức độ 03 về dịch vụ công trực tuyến. Đây thực sự là một giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính, nhằm giảm thiểu thời gian đăng ký, cung cấp thông tin về tài sản bảo đảm là động sản, giúp cho quá trình tiếp cận nguồn tín dụng của người dân, doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa nhanh hơn, tiết kiệm chi phí hơn, đồng thời, thông qua đó, đã khuyến khích sự lưu thông nguồn vốn, giúp thị trường tín dụng hoạt động hiệu quả, an toàn, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển. Năm 2017, nhằm nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến, tạo nền tảng cho phát triển Chính phủ điện tử, Bộ Tư pháp tiếp tục phối hợp với các đơn vị liên quan hoàn thiện và nâng cấp phần mềm đăng ký trực tuyến biện pháp bảo đảm đạt mức độ 04 về dịch vụ công trực tuyến và chính thức triển khai cung cấp dịch vụ công mức độ 04 từ ngày 10/7/2017.

Thực hiện Nghị quyết số 17/NQ-CP, Quyết định số 749/QĐ-TTg, Quyết định số 942/QĐ-TTg, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 983/QĐ-BTP ngày 10/6/2021 về việc ban hành Kế hoạch “Chuyển đổi số Ngành Tư pháp đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”. Theo đó, hệ thống đăng ký biện pháp bảo đảm trực tuyến tiếp tục được hoàn thiện. Từ ngày 04/10/2021, tất cả các thủ tục hành chính trong lĩnh vực đăng ký biện pháp bảo đảm bằng động sản được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử, từ việc tiếp nhận, giải quyết đến ký số và trả kết quả. Bên cạnh đó, thực hiện nhiệm vụ tích hợp, cung cấp dịch vụ công trên Cổng dịch vụ công quốc gia tại Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã khẩn trương phối hợp các đơn vị liên quan hoàn thiện hệ thống đăng ký trực tuyến biện pháp bảo đảm và chính thức tích hợp, cung cấp trên Cổng dịch vụ công quốc gia từ ngày 22/9/2022.

1.4. Một số kết quả đạt được

Thứ nhất, việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến đã góp phần khuyến khích người dân và doanh nghiệp trong việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ công về đăng ký biện pháp bảo đảm bằng động sản, vì vậy, số lượng đăng ký, tìm hiểu thông tin về biện pháp bảo đảm ngày càng tăng. Tính đến thời điểm tháng 5/2023, đã có hơn 7.400 tổ chức, cá nhân, trong đó chủ yếu là các tổ chức tín dụng được Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm, Bộ Tư pháp cấp mã số sử dụng cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm và tài khoản đăng ký trực tuyến. Trung bình mỗi ngày có hơn 3.000 yêu cầu đăng ký, cung cấp thông tin, hơn 1.200 văn bản thông báo thế chấp phương tiện giao thông được trao đổi với cơ quan đăng ký quản lý phương tiện và hơn 20.000 lượt tra cứu, tìm kiếm thông tin được thực hiện trực tiếp trên hệ thống đăng ký biện pháp bảo đảm trực tuyến, trong đó, yêu cầu đăng ký và cung cấp thông tin trực tuyến chiếm tỷ lệ 84% trên tổng số yêu cầu đăng ký, cung cấp thông tin. Điều này thể hiện sự tiếp nhận và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp đối với hệ thống đăng ký biện pháp bảo đảm trực tuyến. Kết quả đăng ký biện pháp bảo đảm nêu trên đã góp phần quan trọng trong việc giúp người dân, doanh nghiệp thực hiện hiệu quả, an toàn hơn quyền về tài sản, giao dịch; góp phần huy động, thúc đẩy được nhiều nguồn lực tài chính vào thị trường, vận hành trên hành lang pháp lý an toàn; góp phần thực hiện công khai, minh bạch thông tin, tình trạng pháp lý của tài sản, giao dịch, giảm thiểu rủi ro pháp lý, thúc đẩy giao lưu dân sự, tăng tính ổn định cho giao dịch, giảm thiểu tranh chấp; giúp cơ quan giải quyết tranh chấp, cơ quan có thẩm quyền khác dễ dàng thu thập, kiểm tra thông tin, việc giải quyết thuận lợi, nhanh chóng, chính xác hơn, từ đó, góp phần vào cải thiện chỉ số hợp đồng khi đánh giá về năng lực cạnh tranh ở Việt Nam.

Thứ hai, đối với các tổ chức, cá nhân trong xã hội, đặc biệt là các tổ chức tín dụng, việc thực hiện đăng ký trực tuyến biện pháp bảo đảm giúp các chủ thể sẽ dễ dàng tiếp cận với dịch vụ đăng ký do Nhà nước cung cấp. Với hệ thống đăng ký biện pháp bảo đảm trực tuyến, người dân có thể trực tiếp truy cập và thực hiện thao tác đăng ký ở bất kỳ nơi nào có kết nối internet và liên tục 24/7 để có kết quả đăng ký ngay lập tức mà không phải chờ đợi và đến trụ sở của cơ quan đăng ký. Việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình giúp tiết kiệm thời gian, chi phí trong việc đăng ký và tìm hiểu thông tin về tài sản bảo đảm, đồng thời giúp giảm thiểu rủi ro và tăng cường khả năng, cơ hội tiếp cận tín dụng để mở rộng đầu tư, sản xuất kinh doanh cho người dân và doanh nghiệp. Ngoài ra, một lợi ích rất lớn mà hệ thống đăng ký biện pháp bảo đảm trực tuyến đem lại cho người dân và doanh nghiệp đó là việc dễ dàng tiếp cận, tra cứu, tìm kiếm thông về biện pháp bảo đảm. Thông tin được hệ thống đăng ký biện pháp bảo đảm trực tuyến cung cấp một cách công khai, nhanh chóng, minh bạch, bảo đảm sự chính xác và an toàn pháp lý cho người dân và doanh nghiệp khi tra cứu, tìm hiểu thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm trước khi giao kết hợp đồng, đầu tư cho vay vốn.

Thứ ba, đối với cơ quan đăng ký biện pháp bảo đảm thì việc áp dụng hệ thống đăng ký biện pháp bảo đảm trực tuyến sẽ giúp cắt giảm chi phí hành chính do ngân sách nhà nước cấp, đồng thời giúp ngăn chặn các hành vi tiêu cực có thể phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đăng ký do cán bộ đăng ký không tiếp xúc trực tiếp với khách hàng. Ngoài ra, với việc vận hành hệ thống đăng ký biện pháp bảo đảm trực tuyến, Nhà nước đã cung cấp một cơ sở hạ tầng tài chính hiệu quả, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng phát triển các sản phẩm cho vay được bảo đảm bằng động sản.

1.5. Một số tồn tại, hạn chế

Một là, hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin, mặc dù đã được đầu tư nâng cấp thời gian gần đây, đáp ứng được yêu cầu phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số. Tuy nhiên, đến nay, hạ tầng kỹ thuật vẫn chưa được hoàn thiện đầy đủ, đặc biệt là hệ thống dự phòng để bảo đảm cho các hệ thống thông tin của Bộ Tư pháp, trong đó có hệ thống đăng ký biện pháp bảo đảm trực tuyến hoạt động ổn định, liên tục, an toàn chưa được xây dựng, ảnh hưởng không nhỏ đến công tác đăng ký, cung cấp thông tin trực tuyến.

Hai là, hiện nay, khối lượng công việc và yêu cầu nhiệm vụ đối với lĩnh vực ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số ngày càng cao. Trong khi đó, nguồn nhân lực thực hiện lại đang bị thiếu rất nhiều so với nhu cầu thực tế và hạn chế về chất lượng, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trong thời gian tới. Bên cạnh đó, tình trạng quá tải trong công việc khiến cho các công chức quản lý trong lĩnh vực này nhiều khi sa vào giải quyết các công việc sự vụ, gấp, trước mắt, không dành nhiều thời gian cho các hoạt động mang tính chiến lược cũng như các hoạt động nghiên cứu thực tiễn.

2. Yêu cầu đặt ra trong việc quản lý đăng ký trực tuyến và thông tin dữ liệu về biện pháp bảo đảm

2.1. Yêu cầu từ người dùng

Hiện nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ, nhu cầu sử dụng các dịch vụ, tiện ích công nghệ của người dân, doanh nghiệp ngày càng cao, đòi hỏi các dịch vụ công trực tuyến phục vụ người dân, doanh nghiệp, trong đó có dịch vụ công trực tuyến về đăng ký biện pháp bảo đảm cần phải tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện để cung cấp đầy đủ các dịch vụ, tiện ích cho người dân, doanh nghiệp trong việc thực hiện các dịch vụ công trực tuyến. Đối với hệ thống đăng ký biện pháp bảo đảm trực tuyến, mặc dù được các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế đánh giá cao về sự thuận lợi, tiện ích cho người sử dụng nhưng cũng cần tiếp tục nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ vào hoạt động đăng ký biện pháp bảo đảm như xây dựng ứng dụng đăng ký đa phương tiện (app) để thực hiện đăng ký, yêu cầu cung cấp thông tin trên các thiết bị, nền tảng khác nhau như thiết bị di động; mở rộng thêm các phương thức thanh toán như thanh toán qua các ứng dụng ví điện tử…

Yêu cầu về đăng ký, cung cấp thông tin ngày càng tăng về số lượng, bảo đảm về chất lượng cung cấp dịch vụ; yêu cầu về tính kịp thời, liên tục trong hoạt động cung cấp dịch vụ; nhu cầu về sử dụng các ứng dụng trí tuệ nhận tạo (AI) trong việc thực hiện các dịch vụ công trực tuyến, đòi hỏi cơ quan quản lý luôn phải có sự đầu tư cả về cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn nhân lực để quản lý, vận hành và nâng cấp, hoàn thiện hệ thống đăng ký trực tuyến, bảo đảm cho hoạt động đăng ký, cung cấp thông tin luôn ổn định, thông suốt, an toàn, hiệu quả. Đặc biệt, cần xây dựng hệ thống dự phòng cho hệ thống đăng ký trực tuyến để bảo đảm tính liên tục, thông suốt, an toàn trong trường hợp có sự cố xảy ra.

2.2. Yêu cầu về chuyển đổi số

Thực hiện yêu cầu của Đảng, Nhà nước về việc đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động của cơ quan nhà nước các cấp, phát triển Chính phủ điện tử, hướng đến Chính phủ số, nhiệm vụ và khối lượng công việc hiện nay và trong tương lai liên quan đến lĩnh vực đăng ký trực tuyến về biện pháp bảo đảm là rất lớn như quản lý, vận hành hệ thống đăng ký trực tuyến; kết nối, tích hợp, chia sẻ dữ liệu về đăng ký biện pháp bảo đảm; cung cấp thông tin cho các cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng, hoạt động thi hành án dân sự... Do vậy, cần thiết phải có một đơn vị chuyên trách về công nghệ thông tin trong lĩnh vực này, đồng thời phải có đủ nguồn lực thực hiện, đặc biệt là nguồn nhân lực để đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ chuyển đổi số.

3. Định hướng hoàn thiện thiết chế về quản lý đăng ký trực tuyến và thông tin dữ liệu về biện pháp bảo đảm

Thiết chế quản lý đăng ký trực tuyến và thông tin dữ liệu về biện pháp bảo đảm có vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về đăng ký biện pháp bảo đảm và tổ chức hoạt động đăng ký biện pháp bảo đảm trực tuyến. Việc quản lý, vận hành hệ thống đăng ký biện pháp bảo đảm trực tuyến hiện nay đã đạt được những thành tựu nhất định, tuy nhiên cũng tồn tại một số hạn chế, bất cập. Hoàn thiện thiết chế quản lý đăng ký trực tuyến và thông tin dữ liệu về đăng ký biện pháp bảo đảm hiện nay là nhiệm vụ quan trọng và cần thiết, giúp cho việc xây dựng, quản lý, vận hành hệ thống đăng ký trực tuyến hoạt động hiệu quả, đáp ứng yêu cầu công tác quản lý nhà nước, phục vụ tốt nhất nhu cầu của người dân, doanh nghiệp trong hoạt động đăng ký biện pháp bảo đảm. Do vậy, cần tiếp tục hoàn thiện một số vấn đề cơ bản sau:

Một là, tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, đăng ký biện pháp bảo đảm nhằm xây dựng, sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách, pháp luật trong lĩnh vực này phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số, trong đó chú trọng việc nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế pháp lý về đăng ký biện pháp bảo đảm và khai thác dữ liệu về biện pháp bảo đảm trên nền tảng số thông qua việc nghiên cứu, đề xuất xây dựng Luật Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

Hai là, kiện toàn tổ chức, bộ máy và nâng cao năng lực quản lý đăng ký trực tuyến và thông tin dữ liệu về đăng ký biện pháp bảo đảm là yếu tố then chốt đáp ứng yêu cầu công tác quản lý nhà nước, phục vụ tốt nhất nhu cầu của người dân, doanh nghiệp trong hoạt động đăng ký biện pháp bảo đảm.

Ba là, ưu tiên phân bổ nguồn lực đầu tư và nâng cao năng lực đội ngũ công chức thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đủ về số lượng, bảo đảm về chất lượng, phù hợp với đặc thù lĩnh vực đăng ký biện pháp bảo đảm.

Bốn là, đầu tư, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật hệ thống đăng ký biện pháp bảo đảm trực tuyến bảo đảm cho hệ thống đăng ký trực tuyến hoạt động ổn định, thông suốt, an toàn, hiệu quả. Đặc biệt là, đầu tư xây dựng hệ thống dự phòng cho hệ thống đăng ký biện pháp bảo đảm trực tuyến để bảo đảm tính liên tục, thông suốt, an toàn trong quá trình hoạt động đăng ký, cung cấp thông tin trực tuyến.

Năm là, tiếp tục nghiên cứu, thực hiện các giải pháp chuyển đổi số trong lĩnh vực đăng ký biện pháp bảo đảm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chuyển đổi số hiện nay.

Nguyễn Công Hùng

Nguyễn Thị Hoa

Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm, Bộ Tư pháp

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 387), tháng 8/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Đổi mới mô hình quản lý, phát huy hiệu quả tính tự quản của tổ chức luật sư

Đổi mới mô hình quản lý, phát huy hiệu quả tính tự quản của tổ chức luật sư

Hiện nay, Bộ Tư pháp đang phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng hồ sơ dự án Luật Luật sư (sửa đổi), hướng tới hoàn thiện thể chế pháp lý về luật sư và hành nghề luật sư bảo đảm phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trong quá trình hoàn thiện Luật, một trong những yêu cầu được đặt ra là nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư trên cơ sở kết hợp giữa quản lý nhà nước và chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư.
Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Chủ trương xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát huy trách nhiệm tự quản nghề nghiệp của luật sư. Bên cạnh đó, trong bối cảnh nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, mô hình quản lý nhà nước và tự quản về luật sư cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Về vấn đề này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc phỏng vấn Tiến sĩ, Luật sư Đào Ngọc Chuyền, Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam về mô hình quản lý và tự quản về luật sư.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Trong những năm qua, công nghiệp văn hóa Việt Nam từng bước hình thành và phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị về kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển của lĩnh vực này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế về tài nguyên văn hóa, nguồn nhân lực và quy mô thị trường của Việt Nam. Nhiều điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực, hạ tầng, tài sản trí tuệ và thị trường đang đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp mang tính đồng bộ, dài hạn.
Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đồng thời triển khai các chỉ đạo, kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và lấy ý kiến dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa (dự thảo Luật). Dự án Luật được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn và dự kiến trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ hai (tháng 10/2026).
Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, chuyển đổi số quốc gia, tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp và hội nhập quốc tế, nhiều quy định của Luật đã bộc lộ hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích bối cảnh và thực tiễn thi hành, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết sửa đổi Luật; phân tích 06 chính sách lớn và những điểm mới của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* ( dự thảo Luật), đồng thời, đề xuất một số yêu cầu, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức thi hành Luật.
Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Tóm tắt: Trước yêu cầu hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền được bồi thường của cá nhân, tổ chức và khắc phục những bất cập trong thực tiễn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, nghiên cứu phân tích dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước1 (dự thảo Luật), trên cơ sở so sánh với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 20172 và ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nghiên cứu đánh giá những điểm mới của dự thảo Luật, đồng thời, chỉ ra các nội dung cần tiếp tục hoàn thiện như phạm vi trách nhiệm bồi thường, căn cứ yêu cầu bồi thường, nghĩa vụ chứng minh, cơ chế giải quyết và quản trị dữ liệu, từ đó, đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, bảo đảm cơ chế bồi thường của Nhà nước minh bạch, khách quan và khả thi.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Tóm tắt: Phổ biến, giáo dục pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng giúp người dân nói chung và các đối tượng đặc thù nói riêng biết, hiểu và thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, góp phần xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật. Nghiên cứu phân tích dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật), tập trung vào các quy định về đối tượng đặc thù, chính sách hỗ trợ, trách nhiệm của các chủ thể, chuyển đổi số, nguồn lực, cơ chế đánh giá và đội ngũ thực hiện. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và so sánh pháp luật. Kết quả cho thấy, dự thảo Luật có nhiều điểm mới như cụ thể hóa nhóm đối tượng đặc thù, phân định trách nhiệm của các chủ thể, bổ sung quy định về chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, đồng thời, chú trọng bảo đảm nguồn lực và đánh giá hiệu quả thực hiện. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, một số nội dung dự thảo Luật cần tiếp tục hoàn thiện, gồm tiêu chí xác định đối tượng, chính sách hỗ trợ, chuẩn tiếp cận tối thiểu, cơ chế phối hợp, khả năng tiếp cận trong môi trường số, căn cứ phân bổ nguồn lực, tiêu chí đánh giá và yêu cầu về năng lực của đội ngũ thực hiện. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện dự thảo Luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.
Sự cần thiết xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Sự cần thiết xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm triển khai thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân, góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, trước yêu cầu mới của Đảng về đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, thực hiện mô hình quyền địa phương hai cấp, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, nhiều quy định của Luật bộc lộ những hạn chế, bất cập cả về nội dung và phương thức tổ chức thực hiện. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc xây dựng dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) (dự thảo Luật), qua đó, khẳng định sự cần thiết phải sửa đổi toàn diện Luật nhằm hoàn thiện thể chế về phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường gắn kết giữa xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, đẩy mạnh chuyển đổi số, huy động nguồn lực xã hội và bảo đảm nâng cao hiệu quả quyền tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Bài viết đề xuất hoàn thiện dự thảo Thông tư ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học theo hướng chuyển trọng tâm từ đánh giá kinh nghiệm hành nghề của từng giảng viên sang đánh giá năng lực của cơ sở giáo dục đại học trong việc tổ chức hoạt động đào tạo gắn với thực tiễn.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Tăng cường bảo đảm quyền hành nghề của luật sư và tôn trọng tính bảo mật trong hoạt động nghề nghiệp

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Tăng cường bảo đảm quyền hành nghề của luật sư và tôn trọng tính bảo mật trong hoạt động nghề nghiệp

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được Bộ Tư pháp nghiên cứu xây dựng với nhiều nội dung đổi mới quan trọng. Bên cạnh việc sửa đổi các quy định về nguyên tắc quản lý luật sư, trách nhiệm quản lý nhà nước…, dự thảo Luật còn quy định cam kết về tôn trọng tính bảo mật, bảo đảm quyền hành nghề của luật sư. Đây là những nội dung có ý nghĩa quan trọng, góp phần xây dựng môi trường hành nghề minh bạch, chuyên nghiệp, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý và phát huy vai trò của luật sư trong bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Ngày 23/4/2026, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã biểu quyết thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16. Đạo luật này đã được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 07/2026/L-CTN ngày 26/4/2026 và sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Việc ban hành Luật mới nhằm thay thế toàn bộ Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, qua đó thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng, giải quyết triệt để những bất cập thực tiễn, đồng thời đáp ứng yêu cầu tinh gọn bộ máy chính quyền (02 cấp) và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia.
Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Việc đặt ra yêu cầu luật sư phải có “bản lĩnh chính trị vững vàng” là vấn đề đang thu hút sự quan tâm lớn của giới hành nghề, giới nghiên cứu và cơ quan xây dựng pháp luật, nhất là khi dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đã đặt trọng tâm vào chính sách xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Trong tiến trình hướng tới mục tiêu phát triển quốc gia năm 2045, cấu trúc chi phí tuân thủ pháp luật không cân đối đang là rào cản hệ thống đối với khu vực tư nhân. Bài viết vận dụng khung lý thuyết về Quản trị linh hoạt (Agile Governance) và kinh tế học thể chế để nhận diện các bất cập của mô hình quản trị truyền thống. Phân tích cho thấy cơ chế điều tiết tiền kiểm, sự phân mảnh dữ liệu và khuynh hướng phòng vệ trong thực thi công vụ là các tác nhân chính làm gia tăng chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất bốn giải pháp mang tính cấu trúc: (i) Thể chế hóa “ủy quyền có kiểm soát”; (ii) Chuyển đổi chiến lược quản trị sang “hậu kiểm”; (iii) Thể chế hóa “quyền được thử nghiệm” (Sandbox); (iv) Quản trị bằng dữ liệu thời gian thực. Việc chuyển đổi sang quản trị thích ứng là điều kiện tiên quyết để tối ưu hóa môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…

Theo dõi chúng tôi trên: