Thứ sáu 10/04/2026 18:22
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoạt động của mô hình trung tâm tư vấn pháp luật - Thuận lợi, khó khăn và một số đề xuất

Tư vấn pháp luật là hoạt động cung cấp cho cá nhân, tổ chức những hiểu biết pháp luật về một vấn đề nhất định, giúp họ hiểu rõ vị thế, quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình trong một quan hệ pháp luật cụ thể nảy sinh trong đời sống xã hội. Kết quả của hoạt động tư vấn pháp luật là lời khuyên, ý kiến pháp lý bằng miệng hoặc có thể bằng văn bản.

Hiểu theo nghĩa rộng, đó là những giải pháp cụ thể, hữu ích giúp đối tượng được tư vấn bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Ý nghĩa xã hội của tư vấn pháp luật khá sâu rộng ở chỗ, giúp định hướng hành vi ứng xử của các cá nhân, tổ chức theo khuôn khổ pháp luật và quy tắc đạo đức. Hoạt động tư vấn pháp luật còn góp phần giám sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan nhà nước, của tổ chức và công dân; phát hiện những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật và kiến nghị sửa đổi, bổ sung, kịp thời hoàn thiện cho phù hợp với thực tiễn. Bài viết dưới đây cung cấp cho độc giả tổng quan hoạt động của mô hình trung tâm tư vấn pháp luật sau 08 năm thi hành Nghị định số 77/NĐ-CP ngày 16/7/2008 của Chính phủ về tư vấn pháp luật.

Ngày 16/7/2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 77/2008/NĐ-CP về tư vấn pháp luật (Nghị định số 77/2008/NĐ-CP). Nghị định này quy định về tổ chức, hoạt động tư vấn pháp luật của tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu chuyên ngành luật (sau đây gọi chung là tổ chức chủ quản). Hoạt động tư vấn pháp luật tại Nghị định số 77/2008/NĐ-CP mang tính chất xã hội, không nhằm mục đích thu lợi nhuận. Sau 08 năm hoạt động, mô hình Trung tâm tư vấn pháp luật của tổ chức chủ quản đã đáp ứng phần nào yêu cầu thực hiện tư vấn pháp luật cho thành viên, hội viên, đoàn viên của tổ chức mình và các cá nhân, tổ chức khác trong thời kỳ hội nhập phát triển mạnh của đất nước ngày càng sâu rộng. Tuy nhiên, qua thời gian hoạt động, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới hiện nay, mô hình Trung tâm tư vấn pháp luật này cũng bộc lộ những hạn chế nhất định đòi hỏi có sự thay đổi cho phù hợp tình hình mới.

1. Mô hình tổ chức, hoạt động và thuận lợi, khó khăn về tư vấn pháp luật theo Nghị định số 77/2008/NĐ-CP

Theo quy định tại Điều 3 của Nghị định số 77/2008/NĐ-CP thì tổ chức chủ quản có đủ điều kiện quy định tại Điều 5 của Nghị định này được thành lập Trung tâm tư vấn pháp luật cho thành viên, hội viên, đoàn viên của tổ chức mình và cá nhân, tổ chức khác. Như vậy, trên cơ sở Nghị định số 77/2008/NĐ-CP đã có một loạt các Trung tâm tư vấn pháp luật của tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu chuyên ngành luật được thành lập như: Trung tâm tư vấn pháp luật của Hội Luật gia, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đại học Luật Hà Nội, Học viện Tư pháp, Viện Nhà nước và Pháp luật, Liên đoàn Luật sư Việt Nam…

Trên thực tế, được sự quan tâm của tổ chức chủ quản thì hầu hết các Trung tâm tư vấn pháp luật được hình thành và đi vào hoạt động ổn định, đáp ứng được yêu cầu về tư vấn pháp luật cho thành viên, hội viên, đoàn viên của tổ chức mình nhất là các tổ chức không phải là cơ sở đào tạo, nghiên cứu chuyên ngành luật. Tại đây, nhu cầu về tư vấn pháp luật cho thành viên, hội viên, đoàn viên trong tổ chức của mình rất thiết thực như: Những người lao động trong tổ chức công đoàn được hiểu biết về pháp luật lao động, việc làm và các vấn đề khác liên quan; phụ nữ trong Hội Liên hiệp phụ nữ được tư vấn về Luật Hôn nhân và gia đình hay Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Bình đẳng giới và những vấn đề khác… Bên cạnh đó, các Trung tâm tư vấn pháp luật này còn thu hút một lượng cá nhân, tổ chức khác ngoài thành viên của mình có nhu cầu về tư vấn pháp luật, đặc biệt là ở các tỉnh ít có tổ chức liên quan tới giúp đỡ về pháp luật như các tổ chức hành nghề luật sư. Được thành lập bởi tổ chức chủ quản và với mục đích chính là phục vụ tư vấn pháp luật cho thành viên, hội viên, đoàn viên của tổ chức mình, nên các Trung tâm tư vấn pháp luật nhanh chóng đi vào hoạt động ổn định kể cả về tổ chức nhân sự cũng như trụ sở làm việc. Hơn nữa, hoạt động tư vấn pháp luật này mang tính chất xã hội, không nhằm mục đích thu lợi nhuận, nên các Trung tâm tư vấn pháp luật luôn hoạt động một cách ổn định. Ngoài ra, còn có thể phục vụ tư vấn pháp luật cho cá nhân, tổ chức khác. Các Trung tâm tư vấn pháp luật được thành lập bởi các tổ chức chủ quản mà đa số là các tổ chức có uy tín và quy mô trong xã hội như tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu chuyên ngành luật, nên có sự bảo đảm hoạt động cũng như thu hút thành viên, đoàn viên, hội viên và cá nhân, tổ chức khác tham gia tư vấn pháp luật.

Cùng với những thuận lợi nêu trên, thì trong hoạt động thực tế, các Trung tâm tư vấn pháp luật cũng có những hạn chế nhất định. Xuất phát từ việc được hình thành do các tổ chức chủ quản thành lập, mang tính chất xã hội, không nhằm mục đích thu lợi nhuận và chủ yếu phục vụ tư vấn pháp luật cho thành viên, hội viên, đoàn viên của tổ chức mình, do vậy, quy mô còn nhỏ, cầm chừng mà không có sự năng động nhiều ra bên ngoài như các tổ chức hành nghề luật sư hay tổ chức pháp lý khác. Theo Điều 5 Nghị định số 77/2008/NĐ-CP về điều kiện thành lập Trung tâm tư vấn pháp luật thì có ít nhất hai tư vấn viên pháp luật hoặc một tư vấn viên pháp luật và một luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hai luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động. Điều này cho thấy, cơ cấu tổ chức của Trung tâm tư vấn pháp luật hạn chế với lực lượng chủ yếu để phục vụ trong nội bộ tổ chức mình là chính.

Điều 18 Nghị định số 77/2008/NĐ-CP quy định về người thực hiện tư vấn pháp luật gồm: Tư vấn viên pháp luật, luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động cho Trung tâm tư vấn pháp luật và cộng tác viên tư vấn pháp luật. Tại Trung tâm tư vấn pháp luật thì lực lượng chính là tư vấn viên pháp luật, nhưng tại Điều 19 Nghị định số 77/2008/NĐ-CP quy định điều kiện cứng là có bằng cử nhân luật và có thời gian công tác pháp luật từ 03 năm trở lên, ngoài các điều kiện khác. Với quy định này sẽ hạn chế đội ngũ tham gia Trung tâm tư vấn pháp luật bởi đối với một số tỉnh hoặc vùng sâu, vùng xa thì có thể sẽ khó đáp ứng được yêu cầu. Việc quy định về cộng tác viên tư vấn pháp luật theo Điều 22 Nghị định số 77/2008/NĐ-CP còn chung chung, khó cho việc thu hút trong Trung tâm tư vấn pháp luật. Một khó khăn nữa cũng rất quan trọng liên quan đến nguồn thu và kinh phí hoạt động của Trung tâm, đó là Nghị định số 77/2008/NĐ-CP quy định về việc tư vấn pháp luật miễn phí#, theo đó, Trung tâm tư vấn pháp luật thực hiện tư vấn pháp luật miễn phí cho thành viên, hội viên, đoàn viên của tổ chức chủ quản, còn việc quy định tư vấn pháp luật có thù lao thì cũng khó cạnh tranh với tổ chức luật sư hoặc các tổ chức pháp lý khác. Hơn nữa, việc nhận thù lao lại không được chủ động mà do tổ chức chủ quản quyết định#. Điều này cũng hạn chế hoạt động chủ động của Trung tâm tư vấn pháp luật trong việc thực hiện trên thực tiễn.

2. Đề xuất mô hình Trung tâm tư vấn pháp luật phù hợp với tính chất hoạt động của các tổ chức chủ quản trong bối cảnh phát triển hoạt động luật sư, trợ giúp pháp lý của Nhà nước

Cùng với sự phát triển của xã hội và đất nước, yêu cầu về tư vấn pháp luật cũng như các hoạt động giúp đỡ pháp lý cho tổ chức, cá nhân ngày càng nâng cao. Song song với hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật theo Nghị định số 77/2008/NĐ-CP, thì hoạt động của các Trung tâm trợ giúp pháp lý theo Luật Trợ giúp pháp lý cũng như hoạt động của các tổ chức hành nghề luật sư theo Luật Luật sư ngày càng đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và đất nước. Mỗi mô hình hoạt động có chức năng, nhiệm vụ riêng đáp ứng nhu cầu của xã hội và sự phát triển của đất nước cũng như phục vụ nhiệm vụ chung.

Để mô hình Trung tâm tư vấn pháp luật phát huy hiệu quả hoạt động tốt nhất, phù hợp với tính chất hoạt động của các tổ chức chủ quản trong bối cảnh phát triển hoạt động luật sư, trợ giúp pháp lý, theo tác giả, trong thời gian tới cần thực hiện tốt một số yêu cầu sau:

Một là, ngoài việc tổ chức, hoạt động của các Trung tâm tư vấn pháp luật mang tính chất xã hội phục vụ miễn phí cho thành viên, hội viên, đoàn viên của tổ chức mình, thì tạo điều kiện cho Trung tâm tư vấn pháp luật chủ động trong việc nhận thù lao đối với cá nhân, tổ chức khác, tổ chức chủ quản chỉ định hướng và giám sát hoạt động. Điều này sẽ mang đến sự chủ động trong hoạt động của các Trung tâm tư vấn pháp luật và cải thiện, mở rộng hoạt động cũng như nâng cao chất lượng trong Trung tâm tư vấn pháp luật.

Hai là, nghiên cứu mở rộng đối tượng tham gia trong Trung tâm tư vấn pháp luật. Điều này sẽ phát huy được trí tuệ của cộng đồng cũng như đáp ứng được yêu cầu rộng rãi của mọi lực lượng trong xã hội, phù hợp từng vùng, từng địa phương.

Ba là, cùng với hai yêu cầu trên thì công tác tổ chức, kiểm tra, giám sát, nâng cao trình độ chuyên môn cho tư vấn viên pháp luật cũng như những người liên quan trong Trung tâm tư vấn pháp luật phải được thực hiện thường xuyên, liên tục và chặt chẽ nhằm không ngừng nâng cao uy tín của Trung tâm tư vấn pháp luật đáp ứng yêu cầu phục vụ thành viên, hội viên, đoàn viên trong tổ chức mình và cá nhân, tổ chức khác.

Bốn là, sự quan tâm và động viên về mọi mặt của tổ chức chủ quản đối với Trung tâm tư vấn pháp luật là rất cần thiết, giúp cho Trung tâm ngày càng lớn mạnh, đáp ứng yêu cầu mang tính chất xã hội cũng như nâng cao hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật cả về quy mô và chất lượng.

Năm là, thường xuyên sơ kết và tổng kết rút kinh nghiệm nhằm phát huy những mặt tích cực và khắc phục những hạn chế của Trung tâm tư vấn pháp luật một cách kịp thời, rút ra những bài học làm phong phú thêm lý luận, đồng thời cần hoàn thiện lý luận để áp dụng vào hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật, phù hợp với tính chất hoạt động của tổ chức chủ quản đáp ứng yêu cầu phát triển của Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.

ThS. Luật sư Lê Đăng Tùng

Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

[1]. Điều 10 Nghị định số 77/2008/NĐ-CP ngày 16/7/2008 của Chính phủ về tư vấn pháp luật.

[2]. Điều 11 Nghị định số 77/2008/NĐ-CP ngày 16/7/2008 của Chính phủ về tư vấn pháp luật.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.

Theo dõi chúng tôi trên: