Thứ tư 24/06/2026 10:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoạt động giám sát của Mặt trận tổ quốc Việt Nam - Thực tiễn và một số kiến nghị

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mang tính xã hội; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, kịp thời phát hiện và kiến nghị xử lý sai phạm, khuyết điểm; kiến nghị sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật; phát hiện, phổ biến những nhân tố mới, các điển hình tiên tiến và những mặt tích cực; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh. Tuy nhiên, hoạt động động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trên thực tế vẫn còn những tồn tại, hạn chế cần khắc phục để Mặt trận Tổ quốc thực hiện tốt hơn hoạt động giám sát của mình trên thực tiễn.

Hiến pháp năm 2013 và Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 đã thể chế hóa chủ trương của Đảng nêu tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI: “Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tiếp tục khắc phục tình trạng hành chính hóa, phát huy vai trò nòng cốt tập hợp, đoàn kết nhân dân xây dựng cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; thực hiện dân chủ, giám sát và phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh…”1; thể thể hóa Quy chế Giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội theo Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị. Đồng thời cụ thể hóa một số nội dung trong Nghị quyết số 85/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc hội về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là làm thế nào để đưa những quy định này vào cuộc sống để hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (Mặt trận) hiệu quả, khả thi theo đúng tinh thần chỉ đạo của Đảng.

1. Thực trạng hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc theo Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 1999

1.1. Giám sát đối với hoạt động của tổ chức Đảng, đảng viên

Trước khi có Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 thì chưa có văn bản nào của Đảng quy định cụ thể về đối tượng, phạm vi, nội dung, hình thức và cơ chế giám sát đối với tổ chức Đảng, đảng viên, mà chủ yếu là mang tính nguyên tắc chung quy định trong Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng. Do vậy, giám sát của Mặt trận các cấp cũng chỉ dừng lại ở hoạt động góp ý kiến, kiến nghị vào dự thảo các văn kiện của các cấp ủy Đảng trước khi trình Đại hội Đảng các cấp; các dự thảo nghị quyết, quyết định, chỉ thị của cấp ủy Đảng có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của người dân, đến quyền và trách nhiệm của Mặt trận và đề án nhân sự của cấp ủy Đảng trước khi trình ra Đại hội (khi Đảng có yêu cầu). Việc giám sát hoạt động của đảng viên chủ yếu gắn cùng với giám sát cán bộ, công chức ở khu dân cư. Còn việc giám sát hoạt động của tổ chức Đảng trong việc thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước thì Mặt trận chưa thực hiện được.

1.2. Giám sát hoạt động của cơ quan dân cử và đại biểu dân cử

Hoạt động của các cơ quan dân cử thuộc đối tượng giám sát của Mặt trận các cấp tập trung vào ba lĩnh vực: Hoạt động xây dựng pháp luật; quyết định những vấn đề phát triển kinh tế - xã hội quan trọng và phản ánh tâm tư, nguyện vọng của cử tri, nhân dân. Trong ba lĩnh vực nêu trên, việc giám sát hoạt động xây dựng pháp luật có nhiều tiến bộ. Đại diện Ủy ban Trung ương Mặt trận được mời tham gia các ban soạn thảo, tổ biên tập nhiều dự án luật, pháp lệnh như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Luật Thi hành án hình sự, Luật Khiếu nại, tố cáo... Trên cơ sở Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trung bình mỗi năm, Ủy ban Trung ương Mặt trận tham gia góp ý kiến khoảng 20 dự án luật, pháp lệnh và nghị định2. Mặt trận các cấp cũng đã có nhiều kiến nghị đối với các cấp có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Việc giám sát của Mặt trận và các thành viên góp phần làm giảm những sai sót trong xây dựng pháp luật, tăng tính khả thi của các văn bản quy phạm pháp luật. Tại các kỳ họp Quốc hội khóa XI, khoá XII, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận đã phối hợp với Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổng hợp những ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân cả nước để trình bày trước Quốc hội, kiến nghị những vấn đề thuộc trách nhiệm của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét giải quyết; kiến nghị Chính phủ chỉ đạo khắc phục những yếu kém trong điều hành, quản lý trên các lĩnh vực của đời sống xã hội để sớm có giải pháp khắc phục, đáp ứng những nguyện vọng chính đáng của nhân dân; kiến nghị Tòa án, Viện kiểm sát và các cơ quan tiến hành tố tụng khắc phục án tồn đọng và những vụ điều tra, truy tố, xét xử oan, sai gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức.

Về giám sát hoạt động của đại biểu dân cử, bằng những hình thức như tổ chức các cuộc tiếp xúc giữa đại biểu dân cử với cử tri nơi bầu ra họ, thông qua việc phản ánh của cử tri và nhân dân về hoạt động của đại biểu nói chung, về tư cách đạo đức, sự tín nhiệm nói riêng, thông qua kết luận của các cơ quan chuyên trách có thẩm quyền về các sai phạm của đại biểu, Mặt trận các cấp có thể xem xét, đánh giá việc thực hiện các nhiệm vụ của đại biểu theo quy định của pháp luật. Trường hợp đại biểu có hành vi vi phạm pháp luật, không còn được nhân dân tín nhiệm thì Ủy ban Mặt trận có văn bản đề nghị Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân xem xét để quyết định việc miễn nhiệm hoặc bãi nhiệm. Thực tiễn nhiều năm qua cho thấy đã có một số đại biểu Quốc hội và không ít đại biểu Hội đồng nhân dân vi phạm pháp luật, bị bãi nhiệm theo đề nghị của Ủy ban Mặt trận các cấp.

Hàng năm, Mặt trận chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan tổ chức các cuộc tiếp xúc trước và sau mỗi kỳ họp đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân để đại biểu được tiếp xúc với cử tri, Mặt trận tập hợp những ý kiến, kiến nghị của cử tri, kiến nghị với các cơ quan của Đảng, Nhà nước xem xét giải quyết và trả lời cho cử tri được biết. Cũng thông qua những hoạt động này mà Mặt trận các cấp đã nắm được những hoạt động của đại biểu để kịp thời nhận xét, góp ý kiến với Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Quy chế phối hợp công tác giữa Ủy ban Mặt trận với Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân được ban hành ở nhiều nơi đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động giám sát của Mặt trận và việc giám sát của đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân.

1.3. Giám sát đối với các cơ quan hành chính nhà nước

Việc cử đại diện tham gia các đoàn giám sát do Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, các ban của Hội đồng nhân dân tiến hành đã giúp Ủy ban Mặt trận phát hiện và kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét, xử lý những vi phạm pháp luật trong hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước... Thông qua hoạt động tập hợp ý kiến, kiến nghị tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân; tiếp dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân, Mặt trận đã phát hiện những yếu kém, sai sót, thậm chí thiếu trách nhiệm trong quản lý, điều hành và thực thi nhiệm vụ, gây phiền hà, thiệt hại cho dân, từ đó kịp thời có văn bản kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét giải quyết và giám sát việc giải quyết đó.

1.4. Giám sát hoạt động tư pháp

Công tác giám sát của Mặt trận trong lĩnh vực hoạt động tư pháp được thực hiện tương đối đa dạng. Mặt trận, các tổ chức thành viên của Mặt trận đã tích cực tham gia và có nhiều đóng góp vào các hoạt động như tuyển chọn thẩm phán, kiểm sát viên; giới thiệu hội thẩm nhân dân; tham gia công tác đặc xá, giáo dục, cảm hóa người phạm tội; giúp đỡ người đã chấp hành xong hình phạt tù tái hòa nhập cộng đồng; tiếp nhận và đề nghị giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo có liên quan đến hoạt động tư pháp, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân. Theo số liệu thống kê, từ năm 2005 đến năm 2013, Ủy ban Mặt trận các cấp đã phối hợp giám sát đối với cơ quan tiến hành tố tụng 15.567 lượt; giám sát đối với người tiến hành tố tụng 254 lượt; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo 32.207 lượt3.

1.5. Giám sát việc thực thi chính sách pháp luật

Mặt trận giám sát việc thi hành chính sách, pháp luật chủ yếu thông qua các hoạt động thực tiễn của Mặt trận. Thông qua các cuộc vận động mà Mặt trận phát hiện những chính sách, pháp luật có được thực thi không, pháp luật có phù hợp với thực tiễn không. Trên cơ sở đó, Mặt trận đề nghị với Nhà nước xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành chính sách, pháp luật cho phù hợp với thực tiễn của đời sống xã hội. Hình thức của hoạt động giám sát này ở cơ sở chủ yếu thông qua hoạt động giám sát của Ban Thanh tra nhân dân ở cấp xã và Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng. Thanh tra nhân dân đóng vai trò nòng cốt giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật ở cơ sở; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và giám sát việc thực hiện quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn; hỗ trợ và tạo điều kiện để Thanh tra Nhà nước kiểm tra các vụ việc ở cơ sở. Theo số liệu thống kê, trong khoảng 05 năm trở lại đây, Thanh tra nhân dân các địa phương đã kiến nghị chính quyền giải quyết được 76.766 đơn khiếu nại, đạt 80,22% và 8.290 đơn tố cáo, đạt 63,92%4. Có thể thấy rằng, qua giám sát việc triển khai quy chế dân chủ ở cơ sở cho thấy, vai trò của Ban Thanh tra nhân dân rất quan trọng, giúp chính quyền địa phương khắc phục những thiếu sót trong công tác quản lý, chấn chỉnh những tiêu cực của cán bộ, góp phần xây dựng chính quyền ở cơ sở trong sạch, vững mạnh. Hoạt động giám sát đầu tư của cộng đồng bảo đảm cho các hoạt động đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế, đặc biệt là đối với việc đầu tư các công trình liên quan trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội của địa bàn dân cư được tiến hành đúng quy định, có giấy phép đầu tư và bảo đảm chất lượng công trình.

1.6. Giám sát việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo

Mặt trận thực hiện giám sát thông qua việc tiếp dân và tham gia giải quyết đối với những đơn thư khiếu nại, tố cáo có liên quan đến những đối tượng do Mặt trận trực tiếp vận động, đến cán bộ của Mặt trận và những trường hợp vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Đối với những trường hợp gây bức xúc trong nhân dân, Mặt trận cử cán bộ có chuyên môn trực tiếp tìm hiểu vụ việc, gặp gỡ các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và có văn bản kiến nghị thể hiện chính kiến rõ ràng đến cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết.

1.7. Giám sát đối với cán bộ, công chức và đảng viên

Hoạt động giám sát của Mặt trận chủ yếu tập trung ở cơ sở theo quy định của Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007, Luật Thanh tra năm 2010 (phần quy định về hoạt động giám sát của Ban Thanh tra nhân dân) và Quy chế Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát cán bộ, công chức, đảng viên ở khu dân cư ban hành kèm theo Nghị quyết liên tịch số 05/2006/NQLT/CP-UBTWMTTQVN ngày 21/4/2006 của Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Biểu hiện rõ nhất là việc Mặt trận thực hiện lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức vụ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã. Từ năm 2005 đến nay, các địa phương đã tổ chức thường xuyên và đều đặn hai năm một lần việc tổ chức lấy phiếu tín nhiệm. Kết quả lấy phiếu tín nhiệm cho thấy số người không đạt tín nhiệm trên 50% không phải là ít, chiếm đến từ 0,6% đến 1% trên tổng số khoảng 20.000 người được đưa lấy phiếu tín nhiệm. Dựa trên kết quả lấy phiếu tín nhiệm, Ủy ban Mặt trận đã kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý. Hầu hết các trường hợp có số phiếu tín nhiệm thấp dưới 50% thì Ủy ban Mặt trận đều có văn bản kiến nghị với cấp ủy Đảng, Hội đồng nhân dân xem xét để miễn nhiệm và đều được cấp ủy Đảng, chính quyền xem xét, xử lý. Đây chính là thể hiện trách nhiệm, sự chính xác, trung thực, khách quan, dân chủ của Mặt trận. Bên cạnh đó là hình thức thực hiện giám sát cán bộ, công chức, đảng viên ở cơ sở hiện đang được thực hiện thí điểm ở một số địa phương như thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Ninh Bình, Tiền Giang và Quảng Bình. Các nơi được chọn làm điểm đã bố trí hộp thư giám sát đặt trước Văn phòng Ủy ban Mặt trận hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã, tại nhà văn hóa của thôn hoặc nơi công cộng. Thành phố Hà Nội có 175 hòm thư, thành phố Hồ Chí Minh có 634 hòm thư, tỉnh Ninh Bình có 256 hòm thư, tỉnh Quảng Bình có 199 hòm thư. Sau 05 năm, thành phố Hà Nội nhận được 1.120 đơn thư và ý kiến, kiến nghị (208 đơn, 690 ý kiến phản ánh), thành phố Hồ Chí Minh nhận được 208 đơn và ý kiến kiến nghị (phản ánh miệng 154 ý kiến, 20 đơn gửi trực tiếp và 43 đơn bỏ vào hòm thư); Quảng Bình nhận được 391 đơn5. Các địa phương đều thực hiện nghiêm túc quy trình mở hòm thư giám sát, lập biên bản, ghi chép sổ sách, phân loại và bàn giao đơn thư, kết quả xử lý, giải quyết đơn thư rất cụ thể và chi tiết. Các cơ quan chức năng đã kiểm tra và tiến hành xử lý trách nhiệm đối với sai phạm của cá nhân có liên quan, được nhân dân đồng tình và tin tưởng.

2. Một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

2.1. Một số tồn tại, hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động giám sát của Mặt trận còn có một số tồn tại, hạn chế:

- Hoạt động giám sát của Mặt trận trong thực tế vẫn mang nặng tính hình thức, hiệu quả pháp lý chưa cao; giám sát phần nhiều mới được thể hiện qua các phát hiện, nêu ý kiến tại các kỳ họp, phiên họp của các cơ quan, tổ chức thuộc đối tượng giám sát, chưa có những phương thức giám sát đúng nghĩa và giám sát hầu như mới chủ yếu ở cấp cơ sở. Nhiều đề xuất, kiến nghị của Mặt trận chưa được cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp xem xét, giải quyết và trả lời, mặc dù một số lĩnh vực đã có quy định của pháp luật.

- Chưa tiến hành thường xuyên các hoạt động giám sát theo chuyên đề; việc tổ chức giám sát còn dựa nhiều vào báo cáo của các cơ quan chịu sự giám sát; chưa đầu tư thời gian nghiên cứu thực tế, tài liệu, thông tin nên báo cáo kết luận giám sát còn chung chung, hiệu lực, hiệu quả không cao. Việc theo dõi sau giám sát còn buông lỏng, thiếu sự kiểm tra, đôn đốc việc giải quyết kiến nghị. Công tác giám sát việc ban hành văn bản hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh ít được quan tâm; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa có nề nếp, hiệu quả chưa cao.

- Phạm vi đối tượng bị giám sát trong thực tế của Mặt trận còn chưa đầy đủ, chưa toàn diện, thậm chí là bỏ trống. Mặt trận mới chủ yếu tham gia giám sát được một số hoạt động của cơ quan chính quyền, còn đối với hoạt động của cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp thì phạm vi còn hẹp.

- Hoạt động giám sát chưa được thực hiện thường xuyên. Thực tế cho thấy, giám sát là một nhiệm vụ cơ bản của Mặt trận nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tham gia xây dựng chính quyền nhưng đây lại là một nhiệm vụ khó khăn, phức tạp.

- Thực hiện quyền giám sát của Mặt trận chưa mạnh mẽ và chưa thể hiện đúng, đầy đủ quyền lực của nhân dân; chưa lôi kéo, phát huy tổng hợp sức mạnh các tổ chức thành viên tham gia hoạt động giám sát, còn né tránh, ngại va chạm với các cơ quan nhà nuớc.

2.2. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế

Thứ nhất, việc thể chế hoá các chủ trương, quan điểm của Đảng về công tác Mặt trận và chức năng giám sát của Mặt trận còn chậm, do vậy, còn thiếu các văn bản pháp luật quy định đầy đủ và rõ ràng về nội dung, hình thức, cơ chế pháp lý giám sát của Mặt trận.

Thứ hai, những quy định về giám sát của Mặt trận trong Hiến pháp, pháp luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác chưa quy định cụ thể và đầy đủ về trách nhiệm, cơ chế, hậu quả pháp lý, cũng như những điều kiện bảo đảm cho hoạt động giám sát của Mặt trận. Trong Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 cũng chỉ quy định có tính chất nguyên tắc về mục đích giám sát, đối tượng, hình thức giám sát. Nhiều nội dung quan trọng trong nhiệm vụ giám sát của Mặt trận chưa được quy định cụ thể như việc phối hợp tham gia các đoàn giám sát của Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng nhân dân các cấp. Nhiều vấn đề nhân dân bức xúc nhưng chưa có cơ chế cụ thể để giám sát, như giám sát các chương trình, dự án do Nhà nước đầu tư trực tiếp tới xã, giám sát thu, chi ngân sách xã, thu chi các loại quỹ, các khoản đóng góp của dân... Trong các văn bản pháp luật vẫn còn thiếu những quy định cụ thể về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc giải quyết, trả lời những phát hiện, kiến nghị của Mặt trận. Do đó, chất lượng và hiệu quả hoạt động giám sát của Mặt trận còn thấp, chưa đáp ứng mong đợi và những đòi hỏi của nhân dân.

Thứ ba, nhận thức của một số cấp ủy, tổ chức Đảng về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận còn chưa đầy đủ, chưa sâu sắc và toàn diện, đôi khi coi nhẹ công tác giám sát của Mặt trận. Có nơi Đảng lãnh đạo công tác Mặt trận không chặt chẽ, bố trí cán bộ không thích hợp, do đó hạn chế tác dụng và hiệu quả hoạt động của Mặt trận các cấp.

Thứ tư, trong thực tế, điều kiện và kinh phí hoạt động của Mặt trận các cấp nhất là cấp cơ sở còn gặp rất nhiều khó khăn. Hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư cộng đồng của nhiều địa phương gặp khó khăn do ngân sách xã không cân đối được nên hoạt động của các ban này ở một số địa phương hiệu quả thấp.

3. Một số kiến nghị

Qua thực tiễn giám sát của Mặt trận những năm qua, để triển khai thực hiện có hiệu quả Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 về giám sát, tác giả xin nêu một số kiến nghị:

- Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 đã quy định một chương riêng về hoạt động giám sát của Mặt trận (từ Điều 26 đến Điều 31). Để các quy định này đi vào cuộc sống, trước hết cần ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm cụ thể hóa từng điều luật trong chương này theo đúng tinh thần Kết luận số 01-KL/TW ngày 04/4/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020: “Mở rộng dân chủ trực tiếp, tạo điều kiện để nhân dân tham gia vào công việc của Nhà nước; tăng cường sự gắn kết giữa giám sát của Quốc hội với kiểm tra, giám sát của Đảng, Mặt trận và các tổ chức thành viên; bảo đảm quyền giám sát của nhân dân”.

- Cần huy động đội ngũ các chuyên gia đầu ngành trong tổ chức của Mặt trận trên nhiều lĩnh vực tham gia vào quá trình giám sát bằng các hình thức như tư vấn, phản biện về quy trình và kết quả giám sát, hậu kiểm kết quả xử lý các kiến nghị giám sát… nhằm tạo được bước đột phá trong hoạt động giám sát của Mặt trận.

- Để đạt đến một địa vị pháp lý độc lập tương đối trong hoạt động giám sát, cần xem xét lại cách phân bổ ngân sách cho hoạt động của Mặt trận. Việc phân bổ ngân sách như hiện nay đã làm cho Mặt trận các cấp gần như phụ thuộc vào quyết định của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước, do đó, ngân sách nhà nước dành cho Mặt trận nên để Quốc hội phân bổ và giao các cơ quan Mặt trận quản lý và sử dụng, có sự giám sát, kiểm tra của các cơ quan tài chính các cấp.

ThS. Bùi Thị Nguyệt Thu
Học viện Chính trị khu vực II

Tài liệu tham khảo:

[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2011, tr. 246.

[2]. Báo cáo số 421 ngày 15/5/2013 của Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về tổng kết thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên (tr. 5).

[3]. Theo số liệu trong Báo cáo số 35-BC/CCTP ngày 12/3/2014 của Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương.

[5]. Tổng hợp số liệu từ Báo cáo số 542 ngày 02/01/2014 của Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về công tác Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên tham gia xây dựng chính quyền năm 2013 (tr. 5); Báo cáo số 82 ngày 11/11/2014 (tr. 4) và Báo cáo số 69 ngày 27/10/2015 (tr. 5) về công tác tham gia xây dựng chính quyền của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh; Thông báo số 31 ngày 24/11/2014 (tr. 4) và Báo cáo số 54 ngày 25/11/2015 về công tác tham gia xây dựng chính quyền của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội (tr. 4); Thông báo số 45 ngày 02/11/2015 (tr. 6) về công tác tham gia xây dựng chính quyền năm 2015 của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Bình.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: