Thứ hai 07/09/2026 04:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoạt động giám sát của nữ đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp[1]

Tóm tắt: Trong phạm vi bài viết, tác giả phân tích và đánh giá khái quát về hoạt động của nữ đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp trong công tác giám sát, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của nữ đại biểu Hội đồng nhân dân trong hoạt động này.

Tóm tắt: Trong phạm vi bài viết, tác giả phân tích và đánh giá khái quát về hoạt động của nữ đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp trong công tác giám sát, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của nữ đại biểu Hội đồng nhân dân trong hoạt động này.

Abstract: Within the scope of the article, the author analyzes and generally assesses the activities of female delegates of the People's Council at all levels in the supervision, thereby making some recommendations to further improve the operational efficiency of female People's Council deputies in this activity.


1. Tình hình chung về nữ đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Theo Báo cáo số 1032/BC-UBTVQH13 ngày 23/12/2015 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tình hình tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp từ đầu nhiệm kỳ (2011 - 2016) đến nay và phương hướng nhiệm vụ trong thời gian tới, về cơ cấu đại biểu HĐND, tỷ lệ đại biểu nữ tăng ở cả 03 cấp, cụ thể là: Cấp tỉnh tăng 1,37%, cấp huyện tăng 1,4%, cấp xã tăng 1,61%. Đối với cấp tỉnh, có 19 địa phương, cấp huyện có 10 địa phương đạt tỷ lệ nữ đại biểu trên 30%. Trong đó, một số tỉnh có tỷ lệ nữ đại biểu đạt cao ở cả 03 cấp như Hà Giang, Kon Tum, Quảng Ninh, Yên Bái, Tuyên Quang, Sơn La. Đại biểu nữ của HĐND cấp tỉnh nhiệm kỳ 2011 - 2016 là 46 trên tổng số 610 đại biểu, trong đó 02 đại biểu nữ là Chủ tịch HĐND, 24 đại biểu nữ là Phó Chủ tịch HĐND và 20 đại biểu nữ là Ủy viên HĐND.

Nhìn vào số liệu thống kê trên cho thấy, vị trí, vai trò của nữ giới tham gia trong các cơ quan dân cử ngày càng cao. Trong quá trình hoạt động của mình, các nữ đại biểu HĐND đã có nhiều đề xuất, sáng kiến nhằm góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của HĐND. Nhiều hoạt động của đại biểu đã trở thành căn cứ thực tiễn để tiến hành sửa đổi quy định pháp luật, ra quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương.

2. Hoạt động giám sát của nữ đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Hoạt động giám sát của HĐND được thực hiện theo quy định của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân và các văn bản pháp luật có liên quan. Không có quy định pháp luật riêng, đặc thù điều chỉnh về hoạt động của nữ đại biểu HĐND mà pháp luật chỉ quy định chung về hoạt động của HĐND, đại biểu HĐND. Vì vậy, hoạt động của nữ đại biểu HĐND các cấp cũng chính là hoạt động của đại biểu HĐND các cấp. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của người đại biểu dân cử, các nữ đại biểu HĐND đã luôn tích cực, vượt qua mọi rào cản, định kiến về giới, thể hiện tốt vai trò là người đại biểu dân cử của mình, được người dân tin tưởng.

2.1. Việc xây dựng nội dung, chương trình giám sát hàng năm

Nội dung, chương trình giám sát hàng năm được xây dựng ngày càng khoa học hơn, phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương, tránh trùng lắp về nội dung, đối tượng và thời gian giám sát. Chính việc xây dựng nội dung, chương trình giám sát hàng năm phù hợp với tình hình thực tế đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi, chủ động cho HĐND, thường trực, các ban, đại biểu HĐND và các cơ quan, tổ chức hữu quan tham gia hoạt động giám sát, góp phần bảo đảm hiệu quả trong công tác này.

2.2. Hoạt động xem xét báo cáo công tác tháng

Việc xem xét báo cáo công tác tháng được tiến hành nghiêm túc, theo định kỳ, luôn chú trọng xây dựng đề cương để đại biểu tập trung nghiên cứu cho ý kiến đóng góp vào cáo công tác. Qua hoạt động này, kịp thời phát hiện những thiếu sót, bất cập trong hoạt động của các cơ quan chịu sự giám sát, đưa ra những ý kiến, kiến nghị, giải pháp để các cơ quan đó thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình.

2.3. Hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn

Hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn ngày càng được tăng cường và trở thành nội dung trọng tâm mỗi kỳ họp HĐND, được cử tri và nhân dân quan tâm. Nội dung chất vấn tập trung vào những vấn đề bức xúc, liên quan trực tiếp đến sản xuất, đời sống, sinh hoạt của nhân dân địa phương. Trong hoạt động chất vấn, nhiều nữ đại biểu HĐND rất thẳng thắn, quyết liệt, tranh luận đến tận cùng vấn đề, những nữ đại biểu này không ngại va chạm, không tránh né và luôn đặt quyền lợi, lợi ích của người dân địa phương là mục tiêu quan trọng nhất. Nhiều địa phương đã ban hành nghị quyết về những nội dung cụ thể trong hoạt động chất vấn, tổ chức giám sát chuyên đề về chất vấn, tạo cơ sở để xem xét trách nhiệm cá nhân của người được chất vấn.

2.4. Lấy phiếu tín nhiệm

Việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội và HĐND bầu hoặc phê chuẩn là một phương thức đổi mới hoạt động giám sát của cơ quan dân cử, bước đầu phát huy tác dụng tốt, tạo được sự quan tâm, ủng hộ của dư luận, sự tin tưởng của cử tri. Kết quả lấy phiếu tín nhiệm phản ánh tình hình hoạt động của bộ máy nhà nước ở địa phương, đồng thời phản ánh thực trạng năng lực, tư cách, đạo đức, trách nhiệm, nghĩa vụ trong việc thực hiện nhiệm vụ, chức trách được giao của người được lấy phiếu tín nhiệm. Qua đó, giúp người được lấy phiếu tín nhiệm thấy được mức độ tín nhiệm của mình, có phương hướng khắc phục những khuyết điểm, thiếu sót để tiếp tục rèn luyện, phấn đấu, nâng cao năng lực, trình độ, trách nhiệm.

2.5. Công tác tổ chức các đoàn giám sát giữa hai kỳ họp

Việc giám sát được tiến hành theo chương trình, kế hoạch giám sát hàng năm được HĐND thông qua. Nội dung giám sát tập trung vào những vấn đề gây nhiều bức xúc trong dư luận như xây dựng cơ bản, thu chi ngân sách, quản lý đất đai, phòng chống tham nhũng, giải quyết khiếu nại, tố cáo… Ngoài việc nghe báo cáo, nghiên cứu tài liệu, các đoàn giám sát dành nhiều thời gian cho việc khảo sát thực tế, trao đổi trực tiếp để làm rõ nhận định, đánh giá về chuyên đề giám sát. Hình thức giám sát ngày càng được đổi mới, báo chí truyền thông đăng tải, chia sẻ thông tin làm cho hiệu quả công tác giám sát ngày càng được nâng cao.

Bên cạnh những kết quả đạt được trong công tác giám sát của đại biểu HĐND các cấp, trong đó có nữ đại biểu HĐND thì còn có một số tồn tại, hạn chế như sau: Tuy hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của được nâng lên nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống và nguyện vọng của nhân dân; một số cuộc giám sát chất lượng chưa cao, chưa có sự phân biệt rõ giữa hoạt động giám sát và hoạt động khảo sát; việc theo dõi, giám sát thực hiện nghị quyết của HĐND có nơi, có lúc còn chưa được thường xuyên, liên tục; sự tham gia của lãnh đạo các sở, ngành chưa đầy đủ và đúng trách nhiệm theo quy định; hoạt động giám sát của HĐND cấp huyện, nhất là cấp xã còn khó khăn và kết quả chưa rõ nét; việc thực hiện kiến nghị sau giám sát còn chưa được nghiêm túc...

3. Một số kiến nghị

3.1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Hội đồng nhân dân

Thực hiện nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác tổ chức cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị, trong đó cần bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của HĐND các cấp. Để bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của HĐND, nâng cao vị thế của HĐND các cấp, cấp ủy cần bố trí cán bộ cấp ủy, thường vụ cấp ủy giữ các chức danh thường trực HĐND, phân công lãnh đạo ban của HĐND là những đại biểu HĐND có năng lực, kinh nghiệm và uy tín để bảo đảm sự thống nhất trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương.

3.2. Ban hành văn bản hướng dẫn các quy định pháp luật về hoạt động của HĐND, nhất là ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn kịp thời Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giám sát của HĐND. Ban hành quy định về thành lập, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, biên chế của Văn phòng HĐND cấp tỉnh; quy định về tổ chức công tác tham mưu, giúp việc, phục vụ hoạt động của HĐND, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã; ban hành quy định cụ thể về chế độ, chính sách và các điều kiện bảo đảm hoạt động của đại biểu HĐND; quy định về khen thưởng cho đại biểu dân cử…

3.3. Nhận thức đúng về giám sát và quán triệt đầy đủ vai trò của giám sát trong hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp

Giám sát HĐND là việc chủ thể của HĐND xem xét tình hình chấp hành pháp luật, tổ chức thực hiện các nghị quyết của HĐND của đối tượng giám sát, nhằm đánh giá tình hình chấp hành pháp luật và kết quả tổ chức thực hiện nghị quyết của HĐND, phát hiện những kinh nghiệm hay, cách làm tốt nhất, những hạn chế, vướng mắc hay các vi phạm trong quá trình thực thi các quy định của pháp luật để quyết định những chủ trương và biện pháp đúng, bổ sung, hoàn thiện các nghị quyết, quy định của pháp luật.

Giám sát HĐND là hoạt động có kế hoạch, được báo trước và đảm bảo tính công khai, minh bạch. Việc công khai các kết luận giám sát cũng là một yêu cầu và là một biện pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu lực và hiệu quả của giám sát, buộc cả chủ thể giám sát và đối tượng giám sát đều phải có trách nhiệm với những kết luận giám sát đã đưa ra. Chỉ có làm tốt chức năng giám sát mới có thể quyết định đúng những vấn đề quan trọng ở địa phương.

3.4. Phối hợp tốt giữa các chủ thể giám sát

HĐND thực hiện chức năng giám sát thông qua chủ thể gồm: Giám sát của HĐND (giám sát của HĐND tại các kỳ họp và giám sát của các đoàn giám sát do HĐND quyết định thành lập), giám sát của thường trực HĐND, các ban của HĐND, các đại biểu HĐND. Trên cơ sở nghị quyết về chương trình giám sát trong năm để các chủ thể chủ động xây dựng chương trình và kế hoạch giám sát cụ thể cho phù hợp. Việc phối hợp chặt chẽ giữa các chủ thể giám sát làm nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND và của đại biểu HĐND.

3.5. Kết hợp tốt giữa các hình thức giám sát, phương thức giám sát; giữa giám sát và khảo sát

Hoạt động giám sát của HĐND có giám sát tại kỳ họp (xem xét các báo cáo, chất vấn, lấy phiếu tín nhiệm…) và giám sát giữa hai kỳ họp thông qua hoạt động giám sát của các chủ thể cụ thể. Căn cứ vào đặc điểm, nội dung giám sát có giám sát chung và giám sát chuyên đề. Căn cứ vào cách thức giám sát có giám sát qua văn bản, giám sát thông qua làm việc trực tiếp các đối tượng giám sát. Bên cạnh đó, trong quá trình giám sát, để có cái nhìn khách quan, sâu sắc, toàn diện thì chủ thể giám sát có thể tiến hành các hoạt động khảo sát nhằm có thêm thông tin. Việc kết hợp tốt giữa các hình thức và phương thức giám sát, giữa giám sát với khảo sát… giúp cho hoạt động giám sát của HĐND vừa bao quát, vừa chuyên sâu, nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sát. Những vấn đề quan trọng được phát hiện qua hoạt động giám sát giữa hai kỳ họp nếu được đưa ra thảo luận, chất vấn, cần thiết thì ra nghị quyết tại kỳ họp làm cho kỳ họp sát với thực tiễn hơn, hoạt động của HĐND hiệu quả hơn.

3.6. Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, năng lực cho nữ đại biểu Hội đồng nhân dân

Để tăng cường hiệu quả hoạt động giám sát thì cần chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cho từng đại biểu HĐND. Với đặc điểm nữ giới là thường bị chi phối và dành nhiều thời gian hơn nam giới trong việc chăm sóc gia đình, con cái. Hơn nữa, đặc điểm tâm sinh lý, sức khỏe của nữ giới, độ tuổi làm việc cũng khác với nam giới. Vì vậy, để bảo đảm hiệu quả hoạt động của nữ giới là đại biểu HĐND, cần chú ý hơn trong việc bảo đảm những điều kiện cần thiết phù hợp với nữ giới để họ có cơ hội học tập, nâng cao trình độ tương xứng với nam giới nhằm phát huy tốt nhất những thế mạnh của nữ giới trong hoạt động của mình.

TS. Trần Văn Túy

Trưởng Ban Công tác đại biểu thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội


[1]. Bài viết này thuộc phạm vi nghiên cứu của Đề tài cấp Bộ “Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của nữ đại biểu dân cử trong hoạt động của các cơ quan dân cử ở Việt Nam” do TS. Trần Văn Túy - Trưởng Ban Công tác đại biểu làm chủ nhiệm.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.

Theo dõi chúng tôi trên: