Thứ ba 22/09/2026 18:14
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoạt động giám sát của nữ đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp[1]

Tóm tắt: Trong phạm vi bài viết, tác giả phân tích và đánh giá khái quát về hoạt động của nữ đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp trong công tác giám sát, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của nữ đại biểu Hội đồng nhân dân trong hoạt động này.

Tóm tắt: Trong phạm vi bài viết, tác giả phân tích và đánh giá khái quát về hoạt động của nữ đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp trong công tác giám sát, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của nữ đại biểu Hội đồng nhân dân trong hoạt động này.

Abstract: Within the scope of the article, the author analyzes and generally assesses the activities of female delegates of the People's Council at all levels in the supervision, thereby making some recommendations to further improve the operational efficiency of female People's Council deputies in this activity.


1. Tình hình chung về nữ đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Theo Báo cáo số 1032/BC-UBTVQH13 ngày 23/12/2015 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tình hình tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp từ đầu nhiệm kỳ (2011 - 2016) đến nay và phương hướng nhiệm vụ trong thời gian tới, về cơ cấu đại biểu HĐND, tỷ lệ đại biểu nữ tăng ở cả 03 cấp, cụ thể là: Cấp tỉnh tăng 1,37%, cấp huyện tăng 1,4%, cấp xã tăng 1,61%. Đối với cấp tỉnh, có 19 địa phương, cấp huyện có 10 địa phương đạt tỷ lệ nữ đại biểu trên 30%. Trong đó, một số tỉnh có tỷ lệ nữ đại biểu đạt cao ở cả 03 cấp như Hà Giang, Kon Tum, Quảng Ninh, Yên Bái, Tuyên Quang, Sơn La. Đại biểu nữ của HĐND cấp tỉnh nhiệm kỳ 2011 - 2016 là 46 trên tổng số 610 đại biểu, trong đó 02 đại biểu nữ là Chủ tịch HĐND, 24 đại biểu nữ là Phó Chủ tịch HĐND và 20 đại biểu nữ là Ủy viên HĐND.

Nhìn vào số liệu thống kê trên cho thấy, vị trí, vai trò của nữ giới tham gia trong các cơ quan dân cử ngày càng cao. Trong quá trình hoạt động của mình, các nữ đại biểu HĐND đã có nhiều đề xuất, sáng kiến nhằm góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của HĐND. Nhiều hoạt động của đại biểu đã trở thành căn cứ thực tiễn để tiến hành sửa đổi quy định pháp luật, ra quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương.

2. Hoạt động giám sát của nữ đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Hoạt động giám sát của HĐND được thực hiện theo quy định của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân và các văn bản pháp luật có liên quan. Không có quy định pháp luật riêng, đặc thù điều chỉnh về hoạt động của nữ đại biểu HĐND mà pháp luật chỉ quy định chung về hoạt động của HĐND, đại biểu HĐND. Vì vậy, hoạt động của nữ đại biểu HĐND các cấp cũng chính là hoạt động của đại biểu HĐND các cấp. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của người đại biểu dân cử, các nữ đại biểu HĐND đã luôn tích cực, vượt qua mọi rào cản, định kiến về giới, thể hiện tốt vai trò là người đại biểu dân cử của mình, được người dân tin tưởng.

2.1. Việc xây dựng nội dung, chương trình giám sát hàng năm

Nội dung, chương trình giám sát hàng năm được xây dựng ngày càng khoa học hơn, phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương, tránh trùng lắp về nội dung, đối tượng và thời gian giám sát. Chính việc xây dựng nội dung, chương trình giám sát hàng năm phù hợp với tình hình thực tế đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi, chủ động cho HĐND, thường trực, các ban, đại biểu HĐND và các cơ quan, tổ chức hữu quan tham gia hoạt động giám sát, góp phần bảo đảm hiệu quả trong công tác này.

2.2. Hoạt động xem xét báo cáo công tác tháng

Việc xem xét báo cáo công tác tháng được tiến hành nghiêm túc, theo định kỳ, luôn chú trọng xây dựng đề cương để đại biểu tập trung nghiên cứu cho ý kiến đóng góp vào cáo công tác. Qua hoạt động này, kịp thời phát hiện những thiếu sót, bất cập trong hoạt động của các cơ quan chịu sự giám sát, đưa ra những ý kiến, kiến nghị, giải pháp để các cơ quan đó thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình.

2.3. Hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn

Hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn ngày càng được tăng cường và trở thành nội dung trọng tâm mỗi kỳ họp HĐND, được cử tri và nhân dân quan tâm. Nội dung chất vấn tập trung vào những vấn đề bức xúc, liên quan trực tiếp đến sản xuất, đời sống, sinh hoạt của nhân dân địa phương. Trong hoạt động chất vấn, nhiều nữ đại biểu HĐND rất thẳng thắn, quyết liệt, tranh luận đến tận cùng vấn đề, những nữ đại biểu này không ngại va chạm, không tránh né và luôn đặt quyền lợi, lợi ích của người dân địa phương là mục tiêu quan trọng nhất. Nhiều địa phương đã ban hành nghị quyết về những nội dung cụ thể trong hoạt động chất vấn, tổ chức giám sát chuyên đề về chất vấn, tạo cơ sở để xem xét trách nhiệm cá nhân của người được chất vấn.

2.4. Lấy phiếu tín nhiệm

Việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội và HĐND bầu hoặc phê chuẩn là một phương thức đổi mới hoạt động giám sát của cơ quan dân cử, bước đầu phát huy tác dụng tốt, tạo được sự quan tâm, ủng hộ của dư luận, sự tin tưởng của cử tri. Kết quả lấy phiếu tín nhiệm phản ánh tình hình hoạt động của bộ máy nhà nước ở địa phương, đồng thời phản ánh thực trạng năng lực, tư cách, đạo đức, trách nhiệm, nghĩa vụ trong việc thực hiện nhiệm vụ, chức trách được giao của người được lấy phiếu tín nhiệm. Qua đó, giúp người được lấy phiếu tín nhiệm thấy được mức độ tín nhiệm của mình, có phương hướng khắc phục những khuyết điểm, thiếu sót để tiếp tục rèn luyện, phấn đấu, nâng cao năng lực, trình độ, trách nhiệm.

2.5. Công tác tổ chức các đoàn giám sát giữa hai kỳ họp

Việc giám sát được tiến hành theo chương trình, kế hoạch giám sát hàng năm được HĐND thông qua. Nội dung giám sát tập trung vào những vấn đề gây nhiều bức xúc trong dư luận như xây dựng cơ bản, thu chi ngân sách, quản lý đất đai, phòng chống tham nhũng, giải quyết khiếu nại, tố cáo… Ngoài việc nghe báo cáo, nghiên cứu tài liệu, các đoàn giám sát dành nhiều thời gian cho việc khảo sát thực tế, trao đổi trực tiếp để làm rõ nhận định, đánh giá về chuyên đề giám sát. Hình thức giám sát ngày càng được đổi mới, báo chí truyền thông đăng tải, chia sẻ thông tin làm cho hiệu quả công tác giám sát ngày càng được nâng cao.

Bên cạnh những kết quả đạt được trong công tác giám sát của đại biểu HĐND các cấp, trong đó có nữ đại biểu HĐND thì còn có một số tồn tại, hạn chế như sau: Tuy hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của được nâng lên nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống và nguyện vọng của nhân dân; một số cuộc giám sát chất lượng chưa cao, chưa có sự phân biệt rõ giữa hoạt động giám sát và hoạt động khảo sát; việc theo dõi, giám sát thực hiện nghị quyết của HĐND có nơi, có lúc còn chưa được thường xuyên, liên tục; sự tham gia của lãnh đạo các sở, ngành chưa đầy đủ và đúng trách nhiệm theo quy định; hoạt động giám sát của HĐND cấp huyện, nhất là cấp xã còn khó khăn và kết quả chưa rõ nét; việc thực hiện kiến nghị sau giám sát còn chưa được nghiêm túc...

3. Một số kiến nghị

3.1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Hội đồng nhân dân

Thực hiện nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác tổ chức cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị, trong đó cần bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của HĐND các cấp. Để bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của HĐND, nâng cao vị thế của HĐND các cấp, cấp ủy cần bố trí cán bộ cấp ủy, thường vụ cấp ủy giữ các chức danh thường trực HĐND, phân công lãnh đạo ban của HĐND là những đại biểu HĐND có năng lực, kinh nghiệm và uy tín để bảo đảm sự thống nhất trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương.

3.2. Ban hành văn bản hướng dẫn các quy định pháp luật về hoạt động của HĐND, nhất là ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn kịp thời Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giám sát của HĐND. Ban hành quy định về thành lập, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, biên chế của Văn phòng HĐND cấp tỉnh; quy định về tổ chức công tác tham mưu, giúp việc, phục vụ hoạt động của HĐND, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã; ban hành quy định cụ thể về chế độ, chính sách và các điều kiện bảo đảm hoạt động của đại biểu HĐND; quy định về khen thưởng cho đại biểu dân cử…

3.3. Nhận thức đúng về giám sát và quán triệt đầy đủ vai trò của giám sát trong hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp

Giám sát HĐND là việc chủ thể của HĐND xem xét tình hình chấp hành pháp luật, tổ chức thực hiện các nghị quyết của HĐND của đối tượng giám sát, nhằm đánh giá tình hình chấp hành pháp luật và kết quả tổ chức thực hiện nghị quyết của HĐND, phát hiện những kinh nghiệm hay, cách làm tốt nhất, những hạn chế, vướng mắc hay các vi phạm trong quá trình thực thi các quy định của pháp luật để quyết định những chủ trương và biện pháp đúng, bổ sung, hoàn thiện các nghị quyết, quy định của pháp luật.

Giám sát HĐND là hoạt động có kế hoạch, được báo trước và đảm bảo tính công khai, minh bạch. Việc công khai các kết luận giám sát cũng là một yêu cầu và là một biện pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu lực và hiệu quả của giám sát, buộc cả chủ thể giám sát và đối tượng giám sát đều phải có trách nhiệm với những kết luận giám sát đã đưa ra. Chỉ có làm tốt chức năng giám sát mới có thể quyết định đúng những vấn đề quan trọng ở địa phương.

3.4. Phối hợp tốt giữa các chủ thể giám sát

HĐND thực hiện chức năng giám sát thông qua chủ thể gồm: Giám sát của HĐND (giám sát của HĐND tại các kỳ họp và giám sát của các đoàn giám sát do HĐND quyết định thành lập), giám sát của thường trực HĐND, các ban của HĐND, các đại biểu HĐND. Trên cơ sở nghị quyết về chương trình giám sát trong năm để các chủ thể chủ động xây dựng chương trình và kế hoạch giám sát cụ thể cho phù hợp. Việc phối hợp chặt chẽ giữa các chủ thể giám sát làm nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND và của đại biểu HĐND.

3.5. Kết hợp tốt giữa các hình thức giám sát, phương thức giám sát; giữa giám sát và khảo sát

Hoạt động giám sát của HĐND có giám sát tại kỳ họp (xem xét các báo cáo, chất vấn, lấy phiếu tín nhiệm…) và giám sát giữa hai kỳ họp thông qua hoạt động giám sát của các chủ thể cụ thể. Căn cứ vào đặc điểm, nội dung giám sát có giám sát chung và giám sát chuyên đề. Căn cứ vào cách thức giám sát có giám sát qua văn bản, giám sát thông qua làm việc trực tiếp các đối tượng giám sát. Bên cạnh đó, trong quá trình giám sát, để có cái nhìn khách quan, sâu sắc, toàn diện thì chủ thể giám sát có thể tiến hành các hoạt động khảo sát nhằm có thêm thông tin. Việc kết hợp tốt giữa các hình thức và phương thức giám sát, giữa giám sát với khảo sát… giúp cho hoạt động giám sát của HĐND vừa bao quát, vừa chuyên sâu, nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sát. Những vấn đề quan trọng được phát hiện qua hoạt động giám sát giữa hai kỳ họp nếu được đưa ra thảo luận, chất vấn, cần thiết thì ra nghị quyết tại kỳ họp làm cho kỳ họp sát với thực tiễn hơn, hoạt động của HĐND hiệu quả hơn.

3.6. Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, năng lực cho nữ đại biểu Hội đồng nhân dân

Để tăng cường hiệu quả hoạt động giám sát thì cần chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cho từng đại biểu HĐND. Với đặc điểm nữ giới là thường bị chi phối và dành nhiều thời gian hơn nam giới trong việc chăm sóc gia đình, con cái. Hơn nữa, đặc điểm tâm sinh lý, sức khỏe của nữ giới, độ tuổi làm việc cũng khác với nam giới. Vì vậy, để bảo đảm hiệu quả hoạt động của nữ giới là đại biểu HĐND, cần chú ý hơn trong việc bảo đảm những điều kiện cần thiết phù hợp với nữ giới để họ có cơ hội học tập, nâng cao trình độ tương xứng với nam giới nhằm phát huy tốt nhất những thế mạnh của nữ giới trong hoạt động của mình.

TS. Trần Văn Túy

Trưởng Ban Công tác đại biểu thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội


[1]. Bài viết này thuộc phạm vi nghiên cứu của Đề tài cấp Bộ “Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của nữ đại biểu dân cử trong hoạt động của các cơ quan dân cử ở Việt Nam” do TS. Trần Văn Túy - Trưởng Ban Công tác đại biểu làm chủ nhiệm.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: