Thứ sáu 23/10/2026 20:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa và một số kiến nghị hoàn thiện

Hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa là chế định quan trọng của Luật Thương mại và là một trong bốn hoạt động trung gian thương mại được quy định trong Chương 5 Luật Thương mại.

Hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa là chế định quan trọng của Luật Thương mại và là một trong bốn hoạt động trung gian thương mại được quy định trong Chương 5 Luật Thương mại. Ủy thác mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận uỷ thác thực hiện công việc mua bán hàng hoá với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác và được nhận thù lao uỷ thác (Điều 155).

Ủy thác mua bán hàng hóa có lịch sử hình thành khá sớm, khởi nguồn là uỷ thác trong thương mại hàng hải. Khoảng thế kỷ XIII, do nhu cầu của việc mở rộng quy mô và cường độ buôn bán hàng hoá của thương nhân từ nước này sang nước khác qua đường biển, thương nhân thay vì theo hàng hoá giao tại cảng đến, họ uỷ thác cho các thương nhân khác thực hiện công việc đó thay mình và trả thù lao.

Ở Việt Nam, trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung, uỷ thác khẳng định vai trò và ý nghĩa của nó chủ yếu trong hoạt động xuất nhập khẩu. Hiện nay, uỷ thác được tìm thấy trong nhiều lĩnh vực thương mại và là giải pháp lý tưởng cho các thương nhân không muốn mất chi phí vào việc mua bán hàng hoá hay đầu tư mà không đem lại hiệu quả.

Như vậy, uỷ thác đặt ra khi một người hay một tổ chức, pháp nhân không có đủ điều kiện cần thiết (năng lực pháp lý, khả năng tài chính, nguồn nhân lực...) để thực hiện một số hoạt động thương mại - họ cần một thương nhân có năng lực thực tế, sự chuyên nghiệp và hiệu quả để thay họ làm việc đó.

Với 11 điều (từ Điều 155 đến Điều 165), các quy định pháp luật về hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa có thể coi là hành lang pháp lý cần thiết cho các giao dịch ủy thác mua bán hàng hóa được đảm bảo thực hiện trong thực tiễn. Tuy nhiên, chế định này chưa được quy định tương xứng với vị trí, vai trò của nó và đòi hỏi của thực tiễn kinh doanh, khi được thực hiện nó bộc lộ nhiều hạn chế như: Mâu thuẫn giữa quy định của Luật Thương mại và Bộ luật Dân sự, phạm vi ủy thác giới hạn, thiếu nhiều quy định cần thiết liên quan đến phân chia lợi nhuận chênh lệch phát sinh từ hoạt động ủy thác hay xử lý hàng hoá uỷ thác không được tiếp nhận... Quá trình nghiên cứu, khảo sát các bản án, quyết định của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam từ năm 2005 đến 2009 cho thấy, có nhiều tranh chấp về hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa trong đó có nguyên nhân từ những hạn chế này(1). Những bất cập của pháp luật thực định và thực trạng thực thi pháp luật về hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa cho thấy, sự đòi hỏi khách quan phải hoàn thiện môi trường kinh doanh ở Việt Nam trong tính toàn diện và đa chiều, trong đó có pháp luật thực định. Hướng đến hoàn thiện pháp luật về hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, chúng tôi xin đề xuất một số kiến nghị sau đây:

1. Ghi nhận chế định hợp đồng đối với các hoạt động trung gian thương mại và phân định rõ ràng thuật ngữ ủy thác trong Luật Thương mại

Chưa bao giờ ủy thác mua bán hàng hóa trở nên quan trọng và phổ biến trong thực tiễn kinh doanh như hiện nay, đặc biệt đối với mua bán hàng hóa quốc tế. Vì những lý do nào đó, khi một cá nhân, tổ chức hay pháp nhân không thể thực hiện mua bán hàng hóa bằng năng lực của chính mình, khi đó họ phải thông qua một thương nhân có năng lực thực tế để làm việc đó - thương nhân nhận uỷ thác.

Về bản chất, hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa là một giao dịch đặc thù của giao dịch dân sự trong thương mại. Bộ luật Dân sự sử dụng thuật ngữ giao dịch dân sự hay hợp đồng dân sự để chỉ các hoạt động trong giao lưu dân sự, trong khi Luật Thương mại sử dụng thuật ngữ hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa. Khi nghiên cứu chế định này có thể nhận thấy, hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa thể hiện đầy đủ các yếu tố của một giao dịch thương mại và là một trong những giao dịch thương mại chủ yếu, quan trọng, cơ sở pháp lý cho hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa được thực hiện nhưng không được quy định là giao dịch hay hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa trong Luật Thương mại. Hơn thế, các điều luật trong chế định hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa về thực chất, phản ánh những yếu tố của các điều khoản hợp đồng. Rõ ràng, có sự mâu thuẫn giữa nội dung và hình thức thể hiện của chế định. Hơn nữa, Luật Thương mại sử dụng thuật ngữ uỷ thác trong khi Bộ luật Dân sự dùng thuật ngữ uỷ quyền mà chưa có sự phân định rõ ràng. Tại sao Luật Thương mại không sử dụng thuật ngữ uỷ quyền mua bán hàng hóa thống nhất với Bộ luật Dân sự? Tuy bản chất của uỷ quyền trong dân sự khác uỷ thác trong thương mại ở tư cách pháp lý của người thụ uỷ khi thực hiện nghĩa vụ uỷ nhiệm, nhân danh người chủ uỷ (trong uỷ quyền) và nhân danh chính người thụ uỷ (trong uỷ thác). Tuy nhiên, về phương diện thuật ngữ cần có sự phân định rõ ràng giữa thuật ngữ uỷ thác trong thương mại và uỷ quyền trong dân sự để có một sự thống nhất chung trong hệ thống pháp luật. Đây không chỉ là vấn đề mang tính học thuật về một thuật ngữ trong khoa học pháp lý, mà còn là yêu cầu khách quan về sự phù hợp và thống nhất của hệ thống pháp luật.

Do vậy, cần sửa chế định hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa và các hoạt động trung gian thương mại khác thành hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, hợp đồng đại diện cho thương nhân, hợp đồng môi giới thương mại, hợp đồng đại lý thương mại; phân định rõ thuật ngữ ủy thác trong Luật Thương mại trong tính thống nhất với thuật ngữ ủy quyền trong Bộ luật Dân sự.

2. Quy định nhận uỷ thác của nhiều bên chỉ trong trường hợp hợp đồng không có thỏa thuận khác

Nguyên tắc thiện chí được coi là một trong những nguyên tắc nền tảng khi xác lập và thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự được Bộ luật Dân sự quy định và là điều kiện căn bản để các bên giao kết và thực hiện hợp đồng. Sẽ không thể hình thành cam kết hay thoả thuận nếu không có thiện chí hay biểu hiện của thiện chí ở bất cứ giai đoạn nào của cam kết hay thoả thuận. Tuân thủ nguyên tắc là yêu cầu và không có ngoại lệ. Song giữa nguyên tắc chung và các quy định cụ thể của Luật Thương mại lại không thống nhất.

Thiện chí là yêu cầu đòi hỏi tinh thần hợp tác giữa các bên khi tạo lập và thực hiện các quyền, nghĩa vụ hợp đồng. Theo đó, mỗi bên không chỉ quan tâm đến quyền và lợi ích của mình, mà còn phải quan tâm đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể phía bên kia. Thiện chí cũng biểu hiện ở việc tìm kiếm các biện pháp cần thiết để khắc phục và hạn chế thiệt hại khi nghĩa vụ hợp đồng có thể bị vi phạm. Như vậy, về nguyên tắc, nếu việc thực hiện quyền pháp lý của một bên chủ thể có khả năng gây thiệt hại cho chủ thể phía bên kia hoặc ảnh hưởng đến quan hệ hợp đồng, thì hành vi đó phải được loại trừ.

Điều 161 Luật Thương mại quy định: “Bên nhận uỷ thác có thể nhận uỷ thác mua bán hàng hoá của nhiều bên uỷ thác khác nhau”. Trong thực tế, nếu bên nhận uỷ thác nhận uỷ thác bán hàng cho nhiều bên uỷ thác mà hàng hoá nhận uỷ thác cùng chủng loại, cùng tính năng sử dụng thì trong một chừng mực, đã vi phạm yêu cầu của nguyên tắc thiện chí.

Sẽ không thể coi là thiện chí thực hiện hợp đồng khi đang trong quá trình thực hiện hợp đồng với một bên, bên nhận uỷ thác nhận uỷ thác một chủng loại hàng tương tự của một đơn vị khác, dẫn đến khả năng không thể thực hiện đúng cam kết, vi phạm nghĩa vụ hợp đồng đã ký kết hoặc gây áp lực tăng phí uỷ thác. Ví dụ, công ty A ký kết hợp đồng ủy thác xuất khẩu cà phê cho doanh nghiệp B. Đang trong thời gian thực hiện hợp đồng, công ty A nhận được một chào hàng xuất khẩu cà phê hấp dẫn từ một doanh nghiệp khác. Họ đã lập tức ký tiếp hợp đồng với doanh nghiệp này và ưu tiên bán hàng cho đối tác mới. Do lượng cà phê ủy thác bán chậm, không thu hồi được vốn, doanh nghiệp B qua tìm hiểu mới biết sự việc trên. Bức xúc nhưng không thể khởi kiện do Điều 161 Luật Thương mại quy định: “Bên nhận uỷ thác có thể nhận uỷ thác mua bán hàng hoá của nhiều bên uỷ thác khác nhau”, doanh nghiệp B chỉ còn biết chấp nhận thua thiệt.

Rõ ràng, với quy định này, Luật Thương mại đã trở thành rào cản cho hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa. Như vậy, Điều 161 nên bổ sung “bên nhận uỷ thác có thể nhận uỷ thác mua bán hàng hoá của nhiều bên uỷ thác khác nhau nếu hợp đồng không có thoả thuận khác”.

3. Quy định rõ về việc phân chia lợi nhuận chênh lệch phát sinh

Đó là trường hợp bên nhận uỷ thác ký hợp đồng với khách hàng theo những điều kiện thuận lợi hơn so với các điều kiện do bên uỷ thác đặt ra (bán hàng với giá cao hơn hoặc mua hàng với giá thấp hơn giá bên uỷ thác chỉ định) nhưng Luật Thương mại chưa có quy định cụ thể. Thông thường, các bên có thể thoả thuận để phân chia khoản chênh lệch đó, tuy nhiên, đối với những khoản lợi nhuận có giá trị lớn hoặc trường hợp bên nhận uỷ thác mua hàng với giá cao hơn hoặc bán hàng với giá thấp hơn giá bên uỷ thác yêu cầu thì thoả thuận khó có thể đạt được, đặc biệt trường hợp uỷ thác vụ việc. Luật Thương mại nên có quy định cụ thể về vấn đề này.

Điều 554 Luật Thương mại Nhật Bản quy định: “Trường hợp người đại diện uỷ nhiệm đã bán hàng với giá thấp hơn hoặc mua hàng với giá cao hơn giá người chủ uỷ đã chỉ định, thì người đại diện uỷ nhiệm phải tự mình chịu khoản chênh lệch đó và người chủ uỷ phải chấp nhận điều này”(2).

Với quy định này, Luật Thương mại Nhật Bản đã xác định rõ trách nhiệm của bên đại diện ủy nhiệm đối với khoản chênh lệch phát sinh ngoài cam kết hợp đồng. Trong tiến trình cải cách và hoàn thiện pháp luật thực định, những bổ sung, sửa đổi theo hướng đó là thực sự cần thiết.

Như vậy, lợi nhuận chênh lệch phát sinh không chỉ trong trường hợp bên nhận uỷ thác ký hợp đồng với khách hàng theo những điều kiện kém thuận lợi hơn, mà cả trong trường hợp thuận lợi hơn so với các điều kiện do bên uỷ thác đặt ra cũng cần được dự liệu.

4. Quy định rõ về xử lý hàng hoá uỷ thác không được tiếp nhận

Trong thực tế, hàng hoá được uỷ thác mua đã sẵn sàng giao nhận theo yêu cầu của bên uỷ thác nhưng người chủ uỷ, vì nhiều lý do khác nhau, không tiếp nhận hàng hoá được uỷ thác mặc dù người nhận uỷ thác, trong quá trình thực hiện hợp đồng, đã thực hiện theo các chỉ dẫn và đã nhận thù lao uỷ thác. Điều này có thể dẫn đến nhiều rắc rối cho người nhận uỷ thác trong việc giải phóng hàng và thanh lý hợp đồng (thời hạn cập cảng, phí thuê tàu, địa điểm và phí lưu kho...). Đây cũng là những đòi hỏi bức thiết cần có quy định cụ thể của pháp luật xử lý trường hợp hàng hoá uỷ thác mua không được tiếp nhận.

Điều 556 Luật Thương mại Nhật Bản quy định: “Khi người chủ uỷ không tiếp nhận hàng hoá được uỷ thác mặc dù người đại diện uỷ nhiệm đã thực hiện các chỉ dẫn và đã nhận thù lao, khi đó người đại diện uỷ nhiệm có thể ký gửi tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc bán đấu giá trực tiếp hàng hoá đó và cất đi riêng khoản lợi nhuận chênh lệch từ giá mua với giá đã bán đấu giá”(3).

Với quy định này, Luật Thương mại Nhật Bản đã xác định rõ cách thức xử lý hàng hóa ủy thác không được tiếp nhận. Điều này không chỉ có ý nghĩa trong việc ràng buộc trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng đã cam kết đối với các chủ thể quan hệ hợp đồng, mà còn có ý nghĩa như chế tài trong trường hợp nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm.

Luật Thương mại Việt Nam cần có quy định cụ thể đối với hàng hoá uỷ thác không được tiếp nhận trong trường hợp này. Hàng hoá uỷ thác không được tiếp nhận có thể được xử lý theo hướng ký gửi tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền (hải quan, kho bãi hợp pháp) hoặc bán trực tiếp hoặc đấu giá hàng hoá đó và khoản lợi nhuận chênh lệch từ giá mua với giá đã bán trực tiếp hoặc đấu giá thuộc về người nhận uỷ thác trong trường hợp này.

5. Mở rộng phạm vi uỷ thác đối với các công việc khác ngoài mua bán hàng hóa

Trong thực tiễn, có rất nhiều các hoạt động uỷ thác như, ủy thác đầu tư tài chính, uỷ thác đầu tư xây dựng, uỷ thác cho vay tín dụng, uỷ thác cho thuê tài sản... là các hoạt động thương mại quan trọng và phổ biến song lại chưa được quy định trong Luật Thương mại. Luật Thương mại chỉ quy định uỷ thác trong lĩnh vực mua bán hàng hóa. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nhiều nước quy định đại diện đối với cả các lĩnh vực ngoài mua bán hàng hóa. Hướng tới hoàn thiện chế định hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa trong Luật Thương mại, đây cũng là điểm quan trọng cần sửa đổi, bổ sung.

Câu hỏi đặt ra là Luật Thương mại chỉ quy định về ủy thác mua bán hàng hóa, vậy trong thực tế các hình thức uỷ thác đầu tư hoặc uỷ thác cho vay được pháp luật điều chỉnh như thế nào? Hoặc liệu uỷ thác cho vay tín dụng có được áp dụng như cho vay tín dụng thông thường?

Ví dụ: Tổ chức tài chính A cho vay đối với một doanh nghiệp B, thủ tục giấy tờ và hợp đồng tín dụng đã ký kết. Giải ngân được một phần (do cần đầu tư cho một khoản vay khác hoặc khoản vay vượt quá khả năng của quỹ lưu động...), sau đó tổ chức này mời một tổ chức tài chính C khác tham gia dưới hình thức ký kết hợp đồng ủy thác.

Thực chất, đây là một quan hệ uỷ thác trong lĩnh vực tín dụng. Tổ chức tài chính A không đủ khả năng cung cấp khoản vay cho doanh nghiệp B, do đó mời tổ chức tài chính C tham gia vào quan hệ này. Theo quy định của pháp luật về uỷ thác, trong quan hệ với B, A là bên cho vay, là chủ nợ và được hưởng lãi suất tiền vay từ B; trong quan hệ với C, A là bên uỷ thác; C tham gia với tư cách là bên nhận uỷ thác cho vay tín dụng và được nhận phí uỷ thác từ A. Quan hệ ba bên trong trường hợp này cấu thành đầy đủ đặc điểm bản chất của uỷ thác. Tuy nhiên, đầu tư hay cho vay tín dụng không được quy định cụ thể hay dẫn chiếu trong Luật Thương mại.

Trong thực tế, bản chất của các hành vi đầu tư, cho vay tín dụng và mua bán hàng hoá là hoàn toàn khác nhau. Vì thế, uỷ thác đầu tư hay cho vay tín dụng không đồng nhất với ủy thác mua bán hàng hóa. Do vậy, không thể mượn hình thức ủy thác mua bán hàng hóa áp dụng cho vay tín dụng hay uỷ thác đầu tư. Yêu cầu có quy định hoặc chỉ dẫn áp dụng pháp luật đối với những trường hợp tương tự trong Luật Thương mại là vô cùng cần thiết.

Luật Thương mại Nhật Bản quy định: “Quy định của chương áp dụng với các trường hợp uỷ quyền thực hiện các công việc khác ngoài mua bán hàng hoá” (Điều 558) hay cụm từ “áp dụng với sửa đổi thích hợp về chi tiết” (Điều 556).

Như vậy, chỉ với quy định hoặc chỉ dẫn cần thiết, các hình thức uỷ thác như đầu tư, cho vay hay ủy thác trong các lĩnh vực khác đều có thể được điều chỉnh với các sửa đổi phù hợp với từng lĩnh vực chuyên biệt (đầu tư, tín dụng, ngân hàng...).

Với phạm vi uỷ thác quy định như hiện nay trong Luật Thương mại, các chủ thể, trong hoạt động thương mại, muốn sử dụng uỷ thác như một hành vi kinh doanh (uỷ thác đầu tư xây dựng, uỷ thác cho vay tín dụng, uỷ thác cho thuê tài sản...) sẽ không có hình thức pháp lý phù hợp. Khi hoàn thiện Luật Thương mại năm 2005, chế định hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa cần mở rộng phạm vi áp dụng theo hướng áp dụng các quy định của ủy thác với các trường hợp uỷ thác thực hiện các công việc khác ngoài mua bán hàng hoá với sửa đổi phù hợp về chi tiết. Đây là hướng sửa đổi, bổ sung thực sự cần thiết, bởi thực tiễn ngày càng khẳng định vai trò của uỷ thác và các hình thức tồn tại đa dạng, phổ biến của uỷ thác trong thương mại.

Tài liệu tham khảo:

(1). Toà án nhân dân thành phố Hà Nội (2008, 2009), các bản án, quyết định xét xử tranh chấp về hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa; Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (2005, 2009), các quyết định xét xử tranh chấp về hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa.

(2). Tuyển tập Luật Thương mại & Luật những ngoại lệ và kiểm soát của Nhật Bản (1994), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

(3). Tuyển tập Luật Thương mại & Luật những ngoại lệ và kiểm soát của Nhật Bản (1994), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

Nguyễn Thị Thu Huyền

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: