Chủ nhật 15/03/2026 05:40
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hợp đồng hợp tác theo Bộ luật Dân sự năm 2015

Bộ luật Dân sự năm 2015 được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 10 khóa XIII, có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 với những điểm mới được ghi nhận. Trong đó, chế định về hợp đồng có những đổi mới căn bản. Bộ luật dân sự năm 2015 chỉ quy định về một số hợp đồng mang tính đặc trưng và đại diện cho quan hệ pháp luật dân sự.

So với Bộ luật Dân sự năm 2005 thì Bộ luật Dân sự năm 2015 không quy định về hợp đồng mua bán nhà ở, hợp đồng thuê nhà ở, hợp đồng bảo hiểm. Những hợp đồng này đã được quy định trong Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bảo hiểm. Bên cạnh đó, Bộ luật cũng bổ sung một loại hợp đồng mới là “Hợp đồng hợp tác” để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn về hợp tác trong sản xuất, kinh doanh. Theo đó, hợp đồng hợp tác là sự thỏa thuận giữa các cá nhân, pháp nhân về việc cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm. Hợp đồng hợp tác phải được lập thành văn bản. Bên cạnh đó, Bộ luật cũng quy định những vấn đề liên quan đến nội dung của hợp đồng hợp tác; quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm dân sự của thành viên hợp tác; việc rút khỏi, gia nhập hợp đồng hợp tác; chấm dứt hợp đồng hợp tác. Trước đó, loại hợp đồng này được quy định trong Luật Đầu tư 2014 nhưng chỉ dừng lại ở định nghĩa về hợp đồng hợp tác. Bài viết này nêu khái quát về hợp đồng hợp tác, những nội dung của hợp đồng hợp tác theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, đồng thời chỉ ra những ưu điểm, hạn chế của việc hợp tác trong hợp đồng hợp tác… giúp các chủ thể trong giao lưu dân sự giảm thiểu tối đa những rủi ro có thể xảy ra và bảo đảm quyền, lợi ích thiết thân cho mình.

1. Khái quát về hợp đồng hợp tác

Trong đời sống dân sự, đặc biệt là trong hoạt động kinh doanh - thương mại, hợp tác là nhu cầu thiết yếu của các cá nhân, tổ chức. Nếu không có sự hợp tác sẽ rất khó để có thể một chủ thể nào đó thực hiện một công việc nhanh chóng, thuận lợi. Nhờ có sự hợp tác mà mỗi công việc hay mục đích hướng tới của các chủ thể được thực hiện nhanh chóng hơn và thúc đẩy mạnh mẽ hơn quá trình giao lưu dân sự, giao thương trong đời sống kinh doanh, đời sống xã hội. Thực chất hợp tác là quá trình các bên chia sẻ vốn góp, chia sẻ những lợi thế sẵn có của mỗi bên để cùng hướng tới những mục đích nhất định theo sự đồng thuận của các bên, cùng làm, cùng hưởng và cùng chịu rủi ro của hoạt động hợp tác.

Theo quy định tại Điều 504 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Hợp đồng hợp tác (HĐHT) là sự thỏa thuận giữa các cá nhân, pháp nhân về việc cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm”. Có thể thấy, trong HĐHT, chủ thể là những cá nhân, pháp nhân với nhau, đây cũng chính là những chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự. Để bảo đảm tính có hiệu lực của HĐHT, các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng này phải là những chủ thể có năng lực hành vi dân sự. Nói cách khác, đối với chủ thể là cá nhân thì cá nhân đó phải là người có đủ năng lực hành vi, bao gồm đủ độ tuổi nhất định và đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình[1]. Còn đối với pháp nhân tham gia quan hệ HĐHT trong các giao dịch dân sự thì pháp nhân đó có thể là pháp nhân thương mại (Điều 75 Bộ luật Dân sự năm 2015) hoặc có thể là pháp nhân phi thương mại (Điều 76 Bộ luật Dân sự năm 2015) nhưng những pháp nhân này phải thỏa mãn yếu tố về điều kiện hợp tác trong phạm vi hoạt động của pháp nhân[2]. Trong quan hệ HĐHT, các cá nhân, pháp nhân xuất phát từ yếu tố tự nguyện giao kết hợp đồng, có sự đồng thuận về quan điểm, ý kiến, nguyện vọng để cùng hướng tới một hoặc nhiều mục đích chung nào đó, do vậy bản chất thỏa thuận trong hợp đồng dân sự nói chung cũng luôn tồn tại trong mỗi HĐHT. Nếu không xuất phát từ bản chất thỏa thuận về nội dung, ý chí, mục đích... thì quá trình hợp tác cũng như quá trình phát sinh quan hệ HĐHT không tồn tại, nói cách khác nó đã vi phạm một trong những điều kiện có hiệu lực của hợp đồng nói chung và HĐHT nói riêng. Điều 504 Bộ luật Dân sự năm 2015 không quy định rõ, cụ thể về mục đích hợp tác, đối tượng hợp tác mà các bên tham gia HĐHT, tuy nhiên, thông qua quy định này có thể hiểu, HĐHT tồn tại một số đặc trưng cơ bản về khách thể, lợi ích thu được, rủi ro phải chịu, tính chất, nội dung của quan hệ hợp tác:

(i) Khách thể của HĐHT là một công việc nào đó (như công việc kinh doanh, công việc đầu tư, công việc mua bán...) cần phải thực hiện. Đối tượng trực tiếp của những công việc này là những bộ phận nhỏ cần hoàn thành để có thể thực hiện được công việc đó (như góp công, góp sức, góp tài sản, trí tuệ, thực hiện từng giai đoạn của công việc...).

(ii) Để thực hiện được hoạt động hợp tác trong HĐHT buộc các bên phải cùng đóng góp công sức hay tài sản hoặc vừa góp công sức vừa góp tài sản để làm cơ sở và làm nền tảng cho việc thực hiện cũng như triển khai các công việc liên quan đến HĐHT mà các bên đã dự định từ trước đó.

(iii) Lợi ích đạt được hay công việc đạt được theo thỏa thuận ban đầu của các chủ thể trong HĐHT sẽ được san sẻ, chia sẻ cho nhau. Tuy nhiên, nếu như trong quá trình hợp tác có những bất lợi, rủi ro xảy ra thì các bên cũng sẽ buộc phải chịu trách nhiệm cùng nhau về những bất lợi, rủi ro đó.

Để bảo đảm pháp lý cho HĐHT cũng như bảo vệ quyền lợi của các bên khi giao kết HĐHT, pháp luật dân sự quy định hình thức của loại hợp đồng này buộc phải là văn bản. Thực tế giá trị của việc hợp tác trong mỗi HĐHT là rất lớn, có những HĐHT lên tới vài trăm triệu, vài tỷ đồng, thậm chí có những hợp đồng HĐHT kinh doanh giá trị lên tới vài trăm triệu USD nên việc ký kết HĐHT đòi hỏi có sự cẩn trọng nhất định. Và sự cẩn trọng đó chỉ được thể hiện rõ nhất qua hình thức bằng văn bản. Đây là loại hình thức có thể lưu trữ khá lâu và là cơ sở, bằng chứng cho sự giao kết HĐHT giữa các chủ thể trong quan hệ hợp đồng này. Rõ ràng, cũng giống như những loại hợp đồng dân sự thông dụng khác, HĐHT chỉ phát sinh hiệu lực khi thỏa mãn đầy đủ điều kiện về nội dung, về hình thức của hợp đồng dân sự.

2. Nội dung của hợp đồng hợp tác theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015

Bộ luật Dân sự năm 2015 ra đời tạo bước đột phá khi đưa nội dung về HĐHT trong chế định hợp đồng dân sự và thừa nhận hợp đồng này như một trong số các loại hợp đồng dân sự thông dụng diễn ra thường xuyên trong giao lưu dân sự. Kế thừa những quy định trước đó về tổ hợp tác, về HĐHT giữa các nhà đầu tư, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã dành hẳn một mục (Mục 8 Chương XVI Bộ luật Dân sự năm 2015) để quy định về loại hợp đồng này với các nội dung: Khái niệm, nội dung của HĐHT, tài sản chung của các thành viên hợp tác, quyền và nghĩa vụ của các thành viên hợp tác, xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trách nhiệm dân sự của các thành viên hợp tác, rút khỏi HĐHT, gia nhập HĐHT và chấm dứt HĐHT.

Nhằm mục đích định hướng cho các cá nhân, pháp nhân tham gia vào quan hệ HĐHT và giảm thiểu tối đa các tranh chấp xảy ra, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định một nội dung quan trọng trong phần HĐHT đó là quy định về những nội dung căn bản, chủ yếu buộc phải có ở một HĐHT. Theo đó, tại Điều 505 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

“HĐHT có nội dung chủ yếu sau đây:

1. Mục đích, thời hạn hợp tác;

2. Họ, tên, nơi cư trú của cá nhân; tên, trụ sở của pháp nhân;

3. Tài sản đóng góp, nếu có;

4. Đóng góp bằng sức lao động, nếu có;

5. Phương thức phân chia hoa lợi, lợi tức;

6. Quyền, nghĩa vụ của thành viên hợp tác;

7. Quyền, nghĩa vụ của người đại diện, nếu có;

8. Điều kiện tham gia và rút khỏi HĐHT của thành viên, nếu có;

9. Điều kiện chấm dứt hợp tác”.

Bộ luật Dân sự năm 2015 đã kế thừa chọn lọc những quy định về hợp đồng hợp tác trước đây (Mẫu hướng dẫn xây dựng HĐHT ban hành kèm theo Thông tư số 04/2008/TT-BKH của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn một số quy định tại Nghị định số 151/2007/NĐ-CP ngày 10/10/2007 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác). Theo quy định này, một HĐHT chỉ có thể phát sinh hiệu lực và bảo đảm tính pháp lý khi các chủ thể trong quan hệ hợp đồng đưa những nội dung quan trọng vào quá trình giao kết hợp đồng. Đây được coi là những nội dung mà nếu thiếu đi nó thì một HĐHT có thể phát sinh tranh chấp và rất khó giải quyết trên thực tế.

3. Ưu điểm, hạn chế của việc hợp tác trong hợp đồng hợp tác

Trong những năm gần đây, hình thức hợp tác của các cá nhân, pháp nhân hay đặc biệt là của các thương nhân, nhà đầu tư trong nước, ngoài nước diễn ra khá phổ biến và thường xuyên. Sở dĩ HĐHT được lựa chọn bởi lẽ nó chứa đựng những ưu điểm vượt trội mà những hình thức đầu tư, hợp tác khác, đó là:

- Hình thức hợp tác, chia sẻ vốn góp, chia sẻ công sức để cùng “bắt tay” vào tiến hành hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động dân sự theo HĐHT giúp cho các nhà đầu tư hoặc thành viên hợp tác có thể tiết kiệm rất nhiều thời gian, công sức, tài chính… trong việc thành lập các pháp nhân mới, các tổ chức mới, qua đó tinh giản được các khâu sau khi thành lập pháp nhân mới, tổ chức mới (như chi phí vận hành, quản lý…). Khi tham gia HĐHT chỉ cần thỏa mãn điều kiện về năng lực chủ thể dân sự (năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự) là các cá nhân, pháp nhân có thể có đủ tư cách để tham gia vào HĐHT. HĐHT luôn là đích đến ưu tiên của các thành viên hợp tác trong một số lĩnh vực đặc thù như kinh doanh, thương mại, lao động, đầu tư… để giúp các bên có thể góp công, góp sức và phân chia lợi nhuận theo phần sau khi kết thúc quá trình hợp tác. Rõ ràng, khác với các hình thức đầu tư, hợp tác phức tạp khác, đối với HĐHT, sau khi phân chia lợi nhuận thì các bên cũng chấm dứt tư cách hợp tác với nhau mà không cần thiết phải làm các thủ tục khác như giải thể tổ chức, pháp nhân.

- Trong quá trình hợp tác, các bên là thành viên của HĐHT hỗ trợ lẫn nhau những thiếu sót, yếu điểm trong quá trình hợp tác một cách thuận lợi, dễ dàng hơn bởi họ đã có sự liên quan về quyền, nghĩa vụ lẫn nhau trong quá trình hợp tác. Điều này có thể thấy rõ khi nếu như các đối tác có sự am hiểu khác nhau về lĩnh vực hợp tác, một bên có vốn, một bên thiếu vốn nhưng lại có sự am hiểu về lĩnh vực hợp tác thì cả hai bên đều có thể bổ sung cho nhau những thiếu sót đó nhằm tạo những điều kiện hợp lý, thuận lợi cho hoạt động hợp tác. Sự hỗ trợ theo hướng này giúp cho “cả hai bên đều có lợi” khi quyết định tham gia vào HĐHT với mục đích hướng tới những lợi ích chung và lợi ích riêng của nhau.

- Trong quá trình thực hiện việc hợp tác trong HĐHT, các thành viên nhân danh chính mình để chủ động tham gia thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình. Sự chủ động này sẽ giúp cho chính những thành viên hợp tác linh hoạt, độc lập, tự chủ trong hoạt động hợp tác và có liên quan nhưng không chịu sự phụ thuộc, chi phối của thành viên còn lại trong HĐHT. Đối với hình thức hợp tác theo HĐHT, các thành viên hợp tác có thể đàm phán, thương lượng với nhau về cơ chế chia sẻ lợi ích cũng như nghĩa vụ trong hoạt động hợp tác, các thành viên hợp tác còn có thể linh hoạt thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận trong hợp đồng mà không chịu sự ràng buộc bởi cá nhân hay pháp nhân nào khác. Có thể thấy, hình thức hợp tác là một hình thức triển vọng, khuyến khích sự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau của các chủ thể trong giao lưu dân sự khi có nhu cầu hợp tác nhằm tạo ra lợi nhuận hay hướng tới những mục đích cụ thể nào đó. Những ưu việt của HĐHT được thừa nhận kịp thời trong Bộ luật Dân sự năm 2015 đã chứng tỏ nỗ lực của nhà lập pháp khi thừa nhận quyền hợp tác trong giao lưu dân sự của các cá nhân, tổ chức trong quy định pháp luật.

Bên cạnh những ưu điểm, việc hợp tác trong HĐHT còn tồn tại những hạn chế nhất định khiến cho các thành viên hợp tác không thể thoát khỏi những khó khăn trong và sau quá trình hợp tác như:

- Không cần thành lập các pháp nhân, tổ chức mới để đứng ra đại diện cho các thành viên hợp tác trong quá trình hợp tác mặc dù là ưu điểm nhưng đó cũng là hạn chế của việc hợp tác trong HĐHT. Bởi lẽ, ngay sau khi giao kết HĐHT, các thành viên hợp tác đã xác định quyền hạn, nghĩa vụ của mình lập tức phải thực hiện một số hoạt động đặc thù hoặc một số hợp đồng phụ cụ thể như hợp đồng mua bán, hợp đồng thuê, mượn… để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hợp tác. Tuy nhiên, vì không có tổ chức, pháp nhân nào “đứng mũi, chịu sào” cho các thành viên hợp tác trong HĐHT nên việc giao kết các hợp đồng đặc thù, cụ thể phục vụ cho HĐHT lại do chính “đơn phương, độc mã” một trong số các thành viên hợp tác giao kết với các chủ thể có liên quan đến hợp đồng đặc thù, cụ thể đó. Rõ ràng, điều đáng nói ở đây là các thành viên hợp tác lại nhân danh chính mình trong qua hệ hợp đồng này và đây cũng là mấu chốt để xảy ra những tranh chấp phát sinh sau này liên quan trực tiếp đến lợi ích của các bên trong HĐHT. Giả sử hai chủ thể là cá nhân A và công ty B giao kết với nhau một HĐHT, để thuận lợi cho việc hợp tác, công ty B đứng ra sử dụng con dấu, tài khoản và các giấy tờ chứng mình tư cách pháp nhân của mình để giao kết một hợp đồng thuê nhà làm trụ sở cho việc hợp tác thay cho cá nhân A. Vấn đề cần lưu ý ở đây là nếu như không có sự thỏa thuận rõ ràng về trường hợp này sẽ rất dễ xảy ra những tranh chấp phát sinh liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của cá nhân A và công ty B.

- Quy định của pháp luật dân sự hiện hành cũng thiếu hẳn nội dung liên quan đến việc quy định trách nhiệm của các thành viên hợp tác đối với bên thứ ba trong quá trình các thành viên hợp tác này giao kết hợp đồng dân sự đối với bên thứ ba. Về mặt pháp lý, quyền lợi của các bên trong quan hệ dân sự cần phải được bình đẳng, pháp luật bảo vệ như nhau. Tuy nhiên, trong HĐHT, nếu như pháp luật chỉ bảo vệ cho các thành viên hợp tác là các bên tham gia quan hệ HĐHT mà không bảo vệ cho bên thứ ba giao kết hợp đồng với thành viên HĐHT sau khi HĐHT phát sinh hiệu lực là một thiếu sót cần phải giải quyết kịp thời, dứt điểm. Giả sử, nếu như một bên là A giao kết hợp đồng với bên thứ ba là C để phục vụ cho hoạt động hợp tác với B trong quá trình thực hiện HĐHT, trong quá trình giao kết hợp đồng, giữa A và C xảy ra tranh chấp, các cơ quan tiến hành tố tụng dân sự rất khó có thể tìm kiếm các nội dung quy định cụ thể về việc giải quyết tranh chấp này sao cho bảo đảm quyền lợi của cả A và C.

Tóm lại, HĐHT là một trong những loại hợp đồng thông dụng, trước khi được pháp luật dân sự thừa nhận thì nó đã khá phổ biến trong giao lưu dân sự bởi nó chứa đựng những tính chất ưu việt giúp cho các thành viên trong quan hệ hợp tác cùng nhau chia sẻ vốn, công sức, lợi nhuận để thực hiện những công việc cụ thể nhằm phục vụ lợi ích của nhau. Để lựa chọn hình thức hợp tác theo HĐHT trên cơ sở quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, các cá nhân, tổ chức có ý định hợp tác cùng cần phải tìm hiểu rõ những ưu điểm, hạn chế của việc hợp tác trong hợp đồng này nhằm hạn chế, giảm thiếu tối đa những rủi ro có thể xảy ra và bảo đảm quyền, lợi ích thiết thân cho chính mình.

Nguyễn Sỹ Anh
Công ty TNHH E - WISDOM Toàn Cầu

Tài liệu tham khảo:

[1]. Tham khảo thêm Mục 1 - Năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự, Chương III Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2]. Tham khảo thêm Chương IV Bộ luật Dân sự năm 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: