Thứ sáu 15/05/2026 00:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hợp đồng hợp tác theo Bộ luật Dân sự năm 2015

Bộ luật Dân sự năm 2015 được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 10 khóa XIII, có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 với những điểm mới được ghi nhận. Trong đó, chế định về hợp đồng có những đổi mới căn bản. Bộ luật dân sự năm 2015 chỉ quy định về một số hợp đồng mang tính đặc trưng và đại diện cho quan hệ pháp luật dân sự.

So với Bộ luật Dân sự năm 2005 thì Bộ luật Dân sự năm 2015 không quy định về hợp đồng mua bán nhà ở, hợp đồng thuê nhà ở, hợp đồng bảo hiểm. Những hợp đồng này đã được quy định trong Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bảo hiểm. Bên cạnh đó, Bộ luật cũng bổ sung một loại hợp đồng mới là “Hợp đồng hợp tác” để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn về hợp tác trong sản xuất, kinh doanh. Theo đó, hợp đồng hợp tác là sự thỏa thuận giữa các cá nhân, pháp nhân về việc cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm. Hợp đồng hợp tác phải được lập thành văn bản. Bên cạnh đó, Bộ luật cũng quy định những vấn đề liên quan đến nội dung của hợp đồng hợp tác; quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm dân sự của thành viên hợp tác; việc rút khỏi, gia nhập hợp đồng hợp tác; chấm dứt hợp đồng hợp tác. Trước đó, loại hợp đồng này được quy định trong Luật Đầu tư 2014 nhưng chỉ dừng lại ở định nghĩa về hợp đồng hợp tác. Bài viết này nêu khái quát về hợp đồng hợp tác, những nội dung của hợp đồng hợp tác theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, đồng thời chỉ ra những ưu điểm, hạn chế của việc hợp tác trong hợp đồng hợp tác… giúp các chủ thể trong giao lưu dân sự giảm thiểu tối đa những rủi ro có thể xảy ra và bảo đảm quyền, lợi ích thiết thân cho mình.

1. Khái quát về hợp đồng hợp tác

Trong đời sống dân sự, đặc biệt là trong hoạt động kinh doanh - thương mại, hợp tác là nhu cầu thiết yếu của các cá nhân, tổ chức. Nếu không có sự hợp tác sẽ rất khó để có thể một chủ thể nào đó thực hiện một công việc nhanh chóng, thuận lợi. Nhờ có sự hợp tác mà mỗi công việc hay mục đích hướng tới của các chủ thể được thực hiện nhanh chóng hơn và thúc đẩy mạnh mẽ hơn quá trình giao lưu dân sự, giao thương trong đời sống kinh doanh, đời sống xã hội. Thực chất hợp tác là quá trình các bên chia sẻ vốn góp, chia sẻ những lợi thế sẵn có của mỗi bên để cùng hướng tới những mục đích nhất định theo sự đồng thuận của các bên, cùng làm, cùng hưởng và cùng chịu rủi ro của hoạt động hợp tác.

Theo quy định tại Điều 504 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Hợp đồng hợp tác (HĐHT) là sự thỏa thuận giữa các cá nhân, pháp nhân về việc cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm”. Có thể thấy, trong HĐHT, chủ thể là những cá nhân, pháp nhân với nhau, đây cũng chính là những chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự. Để bảo đảm tính có hiệu lực của HĐHT, các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng này phải là những chủ thể có năng lực hành vi dân sự. Nói cách khác, đối với chủ thể là cá nhân thì cá nhân đó phải là người có đủ năng lực hành vi, bao gồm đủ độ tuổi nhất định và đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình[1]. Còn đối với pháp nhân tham gia quan hệ HĐHT trong các giao dịch dân sự thì pháp nhân đó có thể là pháp nhân thương mại (Điều 75 Bộ luật Dân sự năm 2015) hoặc có thể là pháp nhân phi thương mại (Điều 76 Bộ luật Dân sự năm 2015) nhưng những pháp nhân này phải thỏa mãn yếu tố về điều kiện hợp tác trong phạm vi hoạt động của pháp nhân[2]. Trong quan hệ HĐHT, các cá nhân, pháp nhân xuất phát từ yếu tố tự nguyện giao kết hợp đồng, có sự đồng thuận về quan điểm, ý kiến, nguyện vọng để cùng hướng tới một hoặc nhiều mục đích chung nào đó, do vậy bản chất thỏa thuận trong hợp đồng dân sự nói chung cũng luôn tồn tại trong mỗi HĐHT. Nếu không xuất phát từ bản chất thỏa thuận về nội dung, ý chí, mục đích... thì quá trình hợp tác cũng như quá trình phát sinh quan hệ HĐHT không tồn tại, nói cách khác nó đã vi phạm một trong những điều kiện có hiệu lực của hợp đồng nói chung và HĐHT nói riêng. Điều 504 Bộ luật Dân sự năm 2015 không quy định rõ, cụ thể về mục đích hợp tác, đối tượng hợp tác mà các bên tham gia HĐHT, tuy nhiên, thông qua quy định này có thể hiểu, HĐHT tồn tại một số đặc trưng cơ bản về khách thể, lợi ích thu được, rủi ro phải chịu, tính chất, nội dung của quan hệ hợp tác:

(i) Khách thể của HĐHT là một công việc nào đó (như công việc kinh doanh, công việc đầu tư, công việc mua bán...) cần phải thực hiện. Đối tượng trực tiếp của những công việc này là những bộ phận nhỏ cần hoàn thành để có thể thực hiện được công việc đó (như góp công, góp sức, góp tài sản, trí tuệ, thực hiện từng giai đoạn của công việc...).

(ii) Để thực hiện được hoạt động hợp tác trong HĐHT buộc các bên phải cùng đóng góp công sức hay tài sản hoặc vừa góp công sức vừa góp tài sản để làm cơ sở và làm nền tảng cho việc thực hiện cũng như triển khai các công việc liên quan đến HĐHT mà các bên đã dự định từ trước đó.

(iii) Lợi ích đạt được hay công việc đạt được theo thỏa thuận ban đầu của các chủ thể trong HĐHT sẽ được san sẻ, chia sẻ cho nhau. Tuy nhiên, nếu như trong quá trình hợp tác có những bất lợi, rủi ro xảy ra thì các bên cũng sẽ buộc phải chịu trách nhiệm cùng nhau về những bất lợi, rủi ro đó.

Để bảo đảm pháp lý cho HĐHT cũng như bảo vệ quyền lợi của các bên khi giao kết HĐHT, pháp luật dân sự quy định hình thức của loại hợp đồng này buộc phải là văn bản. Thực tế giá trị của việc hợp tác trong mỗi HĐHT là rất lớn, có những HĐHT lên tới vài trăm triệu, vài tỷ đồng, thậm chí có những hợp đồng HĐHT kinh doanh giá trị lên tới vài trăm triệu USD nên việc ký kết HĐHT đòi hỏi có sự cẩn trọng nhất định. Và sự cẩn trọng đó chỉ được thể hiện rõ nhất qua hình thức bằng văn bản. Đây là loại hình thức có thể lưu trữ khá lâu và là cơ sở, bằng chứng cho sự giao kết HĐHT giữa các chủ thể trong quan hệ hợp đồng này. Rõ ràng, cũng giống như những loại hợp đồng dân sự thông dụng khác, HĐHT chỉ phát sinh hiệu lực khi thỏa mãn đầy đủ điều kiện về nội dung, về hình thức của hợp đồng dân sự.

2. Nội dung của hợp đồng hợp tác theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015

Bộ luật Dân sự năm 2015 ra đời tạo bước đột phá khi đưa nội dung về HĐHT trong chế định hợp đồng dân sự và thừa nhận hợp đồng này như một trong số các loại hợp đồng dân sự thông dụng diễn ra thường xuyên trong giao lưu dân sự. Kế thừa những quy định trước đó về tổ hợp tác, về HĐHT giữa các nhà đầu tư, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã dành hẳn một mục (Mục 8 Chương XVI Bộ luật Dân sự năm 2015) để quy định về loại hợp đồng này với các nội dung: Khái niệm, nội dung của HĐHT, tài sản chung của các thành viên hợp tác, quyền và nghĩa vụ của các thành viên hợp tác, xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trách nhiệm dân sự của các thành viên hợp tác, rút khỏi HĐHT, gia nhập HĐHT và chấm dứt HĐHT.

Nhằm mục đích định hướng cho các cá nhân, pháp nhân tham gia vào quan hệ HĐHT và giảm thiểu tối đa các tranh chấp xảy ra, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định một nội dung quan trọng trong phần HĐHT đó là quy định về những nội dung căn bản, chủ yếu buộc phải có ở một HĐHT. Theo đó, tại Điều 505 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

“HĐHT có nội dung chủ yếu sau đây:

1. Mục đích, thời hạn hợp tác;

2. Họ, tên, nơi cư trú của cá nhân; tên, trụ sở của pháp nhân;

3. Tài sản đóng góp, nếu có;

4. Đóng góp bằng sức lao động, nếu có;

5. Phương thức phân chia hoa lợi, lợi tức;

6. Quyền, nghĩa vụ của thành viên hợp tác;

7. Quyền, nghĩa vụ của người đại diện, nếu có;

8. Điều kiện tham gia và rút khỏi HĐHT của thành viên, nếu có;

9. Điều kiện chấm dứt hợp tác”.

Bộ luật Dân sự năm 2015 đã kế thừa chọn lọc những quy định về hợp đồng hợp tác trước đây (Mẫu hướng dẫn xây dựng HĐHT ban hành kèm theo Thông tư số 04/2008/TT-BKH của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn một số quy định tại Nghị định số 151/2007/NĐ-CP ngày 10/10/2007 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác). Theo quy định này, một HĐHT chỉ có thể phát sinh hiệu lực và bảo đảm tính pháp lý khi các chủ thể trong quan hệ hợp đồng đưa những nội dung quan trọng vào quá trình giao kết hợp đồng. Đây được coi là những nội dung mà nếu thiếu đi nó thì một HĐHT có thể phát sinh tranh chấp và rất khó giải quyết trên thực tế.

3. Ưu điểm, hạn chế của việc hợp tác trong hợp đồng hợp tác

Trong những năm gần đây, hình thức hợp tác của các cá nhân, pháp nhân hay đặc biệt là của các thương nhân, nhà đầu tư trong nước, ngoài nước diễn ra khá phổ biến và thường xuyên. Sở dĩ HĐHT được lựa chọn bởi lẽ nó chứa đựng những ưu điểm vượt trội mà những hình thức đầu tư, hợp tác khác, đó là:

- Hình thức hợp tác, chia sẻ vốn góp, chia sẻ công sức để cùng “bắt tay” vào tiến hành hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động dân sự theo HĐHT giúp cho các nhà đầu tư hoặc thành viên hợp tác có thể tiết kiệm rất nhiều thời gian, công sức, tài chính… trong việc thành lập các pháp nhân mới, các tổ chức mới, qua đó tinh giản được các khâu sau khi thành lập pháp nhân mới, tổ chức mới (như chi phí vận hành, quản lý…). Khi tham gia HĐHT chỉ cần thỏa mãn điều kiện về năng lực chủ thể dân sự (năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự) là các cá nhân, pháp nhân có thể có đủ tư cách để tham gia vào HĐHT. HĐHT luôn là đích đến ưu tiên của các thành viên hợp tác trong một số lĩnh vực đặc thù như kinh doanh, thương mại, lao động, đầu tư… để giúp các bên có thể góp công, góp sức và phân chia lợi nhuận theo phần sau khi kết thúc quá trình hợp tác. Rõ ràng, khác với các hình thức đầu tư, hợp tác phức tạp khác, đối với HĐHT, sau khi phân chia lợi nhuận thì các bên cũng chấm dứt tư cách hợp tác với nhau mà không cần thiết phải làm các thủ tục khác như giải thể tổ chức, pháp nhân.

- Trong quá trình hợp tác, các bên là thành viên của HĐHT hỗ trợ lẫn nhau những thiếu sót, yếu điểm trong quá trình hợp tác một cách thuận lợi, dễ dàng hơn bởi họ đã có sự liên quan về quyền, nghĩa vụ lẫn nhau trong quá trình hợp tác. Điều này có thể thấy rõ khi nếu như các đối tác có sự am hiểu khác nhau về lĩnh vực hợp tác, một bên có vốn, một bên thiếu vốn nhưng lại có sự am hiểu về lĩnh vực hợp tác thì cả hai bên đều có thể bổ sung cho nhau những thiếu sót đó nhằm tạo những điều kiện hợp lý, thuận lợi cho hoạt động hợp tác. Sự hỗ trợ theo hướng này giúp cho “cả hai bên đều có lợi” khi quyết định tham gia vào HĐHT với mục đích hướng tới những lợi ích chung và lợi ích riêng của nhau.

- Trong quá trình thực hiện việc hợp tác trong HĐHT, các thành viên nhân danh chính mình để chủ động tham gia thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình. Sự chủ động này sẽ giúp cho chính những thành viên hợp tác linh hoạt, độc lập, tự chủ trong hoạt động hợp tác và có liên quan nhưng không chịu sự phụ thuộc, chi phối của thành viên còn lại trong HĐHT. Đối với hình thức hợp tác theo HĐHT, các thành viên hợp tác có thể đàm phán, thương lượng với nhau về cơ chế chia sẻ lợi ích cũng như nghĩa vụ trong hoạt động hợp tác, các thành viên hợp tác còn có thể linh hoạt thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận trong hợp đồng mà không chịu sự ràng buộc bởi cá nhân hay pháp nhân nào khác. Có thể thấy, hình thức hợp tác là một hình thức triển vọng, khuyến khích sự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau của các chủ thể trong giao lưu dân sự khi có nhu cầu hợp tác nhằm tạo ra lợi nhuận hay hướng tới những mục đích cụ thể nào đó. Những ưu việt của HĐHT được thừa nhận kịp thời trong Bộ luật Dân sự năm 2015 đã chứng tỏ nỗ lực của nhà lập pháp khi thừa nhận quyền hợp tác trong giao lưu dân sự của các cá nhân, tổ chức trong quy định pháp luật.

Bên cạnh những ưu điểm, việc hợp tác trong HĐHT còn tồn tại những hạn chế nhất định khiến cho các thành viên hợp tác không thể thoát khỏi những khó khăn trong và sau quá trình hợp tác như:

- Không cần thành lập các pháp nhân, tổ chức mới để đứng ra đại diện cho các thành viên hợp tác trong quá trình hợp tác mặc dù là ưu điểm nhưng đó cũng là hạn chế của việc hợp tác trong HĐHT. Bởi lẽ, ngay sau khi giao kết HĐHT, các thành viên hợp tác đã xác định quyền hạn, nghĩa vụ của mình lập tức phải thực hiện một số hoạt động đặc thù hoặc một số hợp đồng phụ cụ thể như hợp đồng mua bán, hợp đồng thuê, mượn… để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hợp tác. Tuy nhiên, vì không có tổ chức, pháp nhân nào “đứng mũi, chịu sào” cho các thành viên hợp tác trong HĐHT nên việc giao kết các hợp đồng đặc thù, cụ thể phục vụ cho HĐHT lại do chính “đơn phương, độc mã” một trong số các thành viên hợp tác giao kết với các chủ thể có liên quan đến hợp đồng đặc thù, cụ thể đó. Rõ ràng, điều đáng nói ở đây là các thành viên hợp tác lại nhân danh chính mình trong qua hệ hợp đồng này và đây cũng là mấu chốt để xảy ra những tranh chấp phát sinh sau này liên quan trực tiếp đến lợi ích của các bên trong HĐHT. Giả sử hai chủ thể là cá nhân A và công ty B giao kết với nhau một HĐHT, để thuận lợi cho việc hợp tác, công ty B đứng ra sử dụng con dấu, tài khoản và các giấy tờ chứng mình tư cách pháp nhân của mình để giao kết một hợp đồng thuê nhà làm trụ sở cho việc hợp tác thay cho cá nhân A. Vấn đề cần lưu ý ở đây là nếu như không có sự thỏa thuận rõ ràng về trường hợp này sẽ rất dễ xảy ra những tranh chấp phát sinh liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của cá nhân A và công ty B.

- Quy định của pháp luật dân sự hiện hành cũng thiếu hẳn nội dung liên quan đến việc quy định trách nhiệm của các thành viên hợp tác đối với bên thứ ba trong quá trình các thành viên hợp tác này giao kết hợp đồng dân sự đối với bên thứ ba. Về mặt pháp lý, quyền lợi của các bên trong quan hệ dân sự cần phải được bình đẳng, pháp luật bảo vệ như nhau. Tuy nhiên, trong HĐHT, nếu như pháp luật chỉ bảo vệ cho các thành viên hợp tác là các bên tham gia quan hệ HĐHT mà không bảo vệ cho bên thứ ba giao kết hợp đồng với thành viên HĐHT sau khi HĐHT phát sinh hiệu lực là một thiếu sót cần phải giải quyết kịp thời, dứt điểm. Giả sử, nếu như một bên là A giao kết hợp đồng với bên thứ ba là C để phục vụ cho hoạt động hợp tác với B trong quá trình thực hiện HĐHT, trong quá trình giao kết hợp đồng, giữa A và C xảy ra tranh chấp, các cơ quan tiến hành tố tụng dân sự rất khó có thể tìm kiếm các nội dung quy định cụ thể về việc giải quyết tranh chấp này sao cho bảo đảm quyền lợi của cả A và C.

Tóm lại, HĐHT là một trong những loại hợp đồng thông dụng, trước khi được pháp luật dân sự thừa nhận thì nó đã khá phổ biến trong giao lưu dân sự bởi nó chứa đựng những tính chất ưu việt giúp cho các thành viên trong quan hệ hợp tác cùng nhau chia sẻ vốn, công sức, lợi nhuận để thực hiện những công việc cụ thể nhằm phục vụ lợi ích của nhau. Để lựa chọn hình thức hợp tác theo HĐHT trên cơ sở quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, các cá nhân, tổ chức có ý định hợp tác cùng cần phải tìm hiểu rõ những ưu điểm, hạn chế của việc hợp tác trong hợp đồng này nhằm hạn chế, giảm thiếu tối đa những rủi ro có thể xảy ra và bảo đảm quyền, lợi ích thiết thân cho chính mình.

Nguyễn Sỹ Anh
Công ty TNHH E - WISDOM Toàn Cầu

Tài liệu tham khảo:

[1]. Tham khảo thêm Mục 1 - Năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự, Chương III Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2]. Tham khảo thêm Chương IV Bộ luật Dân sự năm 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: