Chủ nhật 15/03/2026 09:53
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hủy giấy chứng nhận kết hôn có coi là hủy hôn nhân trái pháp luật không?

Kết hôn là một trong những quyền cơ bản của công dân được Nhà nước tôn trọng và bảo vệ theo quy định pháp luật. Theo Điều 39 Bộ luật Dân sự quy định quyền kết hôn của công dân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ theo các quy định pháp luật về hôn nhân và gia đình. Tại khoản 2 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”.

Công dân khi đăng ký kết hôn phải tuân thủ các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; trình tự, thủ tục đăng ký kết hôn được quy định tại Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch. Cụ thể như sau:

Thẩm quyền đăng ký kết hôn: Theo khoản 1 Điều 17 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ thực hiện việc đăng ký kết hôn.

Thủ tục đăng ký kết hôn: Khoản 1 Điều 18 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP quy định khi đăng ký kết hôn hai bên phải nộp tờ khai đăng ký kết hôn hoặc giấy xác nhận tình trạng hôn nhân (theo mẫu quy định) và xuất trình giấy chứng minh nhân dân.

Nếu một người cư trú tại xã, phường, thị trấn này, nhưng đăng ký kết hôn tại xã phường thị trấn khác, phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú về tình trạng hôn nhân của người đó.

Đối với người đang trong thời hạn công tác, học tập, lao động ở nước ngoài về nước đăng ký kết hôn phải có xác nhận của cơ quan ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam tại nước sở tại về tình trạng hôn nhân của người đó.

Đối với cán bộ, chiến sỹ đang công tác trong lực lượng vũ trang thì phải có xác nhận của Thủ trưởng đơn vị.

- Thời hạn đăng ký kết hôn: Theo quy định tại Nghị định số 06/2012/NĐ-CP ngày 02/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về hộ tịch, hôn nhân gia đình và chứng thực thì thời gian đăng ký kết hôn được rút ngắn từ 5 ngày xuống còn 3 ngày.

Trong thời hạn 3 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy hai bên nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, thì Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký kết hôn cho hai bên nam, nữ. Trong trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá 5 ngày.

Trường hợp khi đăng ký kết hôn nếu hai bên nam, nữ không tuân thủ các quy định về trình tự, thủ tục đăng ký kết hôn và vi phạm các quy định về đăng ký kết hôn thì người đi đăng ký kết hôn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định số 60/2009/NĐ-CP ngày 23/7/2009 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm trong lĩnh vực tư pháp. Đối với những trường hợp đăng ký kết hôn vi phạm quy định về trình tự, thủ tục như trên thì tại điểm k, khoản 1, Điều 78 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ đăng ký và quản lý hộ tịch quy định: Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền ra quyết định thu hồi, hủy bỏ những giấy tờ hộ tịch do Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trái quy định.

Thực tiễn thi hành Nghị định số 158/2005/NĐ-CP trên địa bàn thành phố Hà Nội có trường hợp Ủy ban nhân dân cấp huyện phải ra quyết định thu hồi, huỷ bỏ giấy chứng nhận kết hôn do vi phạm về trình tự, thủ tục đăng ký kết hôn, dẫn đến việc khiếu kiện của người liên quan và một số quan điểm khác nhau về hậu quả pháp lý của việc huỷ giấy chứng nhận kết hôn trái pháp luật, xin nêu ví dụ thực tiễn như sau:

Ông Lê Xuân T 69 tuổi, thường trú tại số 6 phố Lê Thánh Tông, phường Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội kết hôn cùng bà Nguyễn Thị D 31 tuổi, thường trú tại Đội 6, thôn Hạ, xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, Hà Nội.

Sau khi kết hôn được 6 ngày thì ông T qua đời, để lại khối tài sản gồm: 2 ngôi nhà biệt thự tại trung tâm thành phố Hà Nội cùng nhiều tài sản có giá trị khác. Ngày 12/02/2009, bà Lê Thị Tú N (con gái ông Lê Xuân T) gửi đơn khiếu kiện đề nghị Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Đức thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn giữa ông Lê Xuân T và bà Nguyễn Thị D vì thiếu thủ tục khi đăng ký kết hôn do Ủy ban nhân dân xã Phù Lưu Tế đăng ký ngày 27/01/2007. Sau khi có đơn kiếu kiện Phòng Tư pháp huyện Mỹ Đức, Hà Nội tiến hành kiểm tra hồ sơ xin đăng ký kết hôn của ông T và bà D (giấy chứng nhận kết hôn số 09; quyển 01 đăng ký ngày 27/01/2007 tại Ủy ban nhân dân xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, Hà Nội) thì thấy: Ông Lê Xuân T đã có vợ, nhưng đã chết. Trong hồ sơ xin đăng ký kết hôn không có tờ khai xin đăng ký kết của ông T và bà D; Ông T không có xác nhận tình trạng hôn nhân từ thời gian 29/12/2005 đến ngày 27/01/2007. Như vậy, tại thời điểm ông Lê Xuân T và bà Nguyễn Thị D đăng ký kết hôn là đủ điều kiện kết hôn được quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình nhưng lại vi phạm thủ tục đăng ký kết hôn được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 18 của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch. Ngày 22/4/2009, Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Đức ban hành Quyết định số 595/QĐ-UBND về việc thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn số 09; quyển 01 đăng ký ngày 27/01/2007 tại Ủy ban nhân dân xã Phù Lưu Tế là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1.k Điều 78 của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch.

Từ tình huống thực tiễn trên, tác giả bài viết xin nêu một số quan điểm giải quyết cũng như hậu quả pháp lý của việc Ủy ban nhân dân cấp huyện ra quyết định thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn như sau:

Thứ nhất: Giấy chứng nhận kết hôn là một trong những giấy tờ hộ tịch. Tại thời điểm ông Lê Xuân T và bà Nguyễn Thị D đăng ký kết hôn là đủ điều kiện kết hôn được quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình, nhưng lại vi phạm thủ tục đăng ký kết hôn được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 18 của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch. Việc Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Đức ban hành Quyết định số 595/QĐ-UBND ngày 22/4/2005 về việc thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn số 09; quyển 01 đăng ký ngày 27/01/2007 tại Ủy ban nhân dân xã Phù Lưu Tế là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1.k Điều 78 của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch.

Thứ hai: Quan hệ hôn nhân giữa ông Lê Xuân T và bà Nguyễn Thị D được xác lập trên cơ sở đảm bảo đầy đủ về điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 9, đồng thời không vi phạm những trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại Điều 10 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Ủy ban nhân dân xã Phù Lưu Tế đã cấp giấy chứng nhận kết hôn cho ông T và bà D là đúng thẩm quyền. Sau khi ông T chết, do có khiếu nại, nên Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Đức kiểm tra hồ sơ đăng ký kết hôn mới phát hiện thiếu tờ khai đăng ký kết hôn và giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Nếu bình thường, chỉ cần bổ sung là hợp lệ nhưng trường hợp này người chồng lại chết. Lỗi này thuộc về trách nhiệm cán bộ tư pháp xã Phù Lưu tế đã không hướng dẫn cho người dân và không thể vì lỗi của chính quyền mà đẩy hậu quả sang cho người dân được. Căn cứ điểm k, khoản 1, Điều 78 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch, Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Đức ban hành quyết định thu hồi, hủy bỏ những giấy chứng nhận kết hôn đã cấp cho ông T và bà D là máy móc, chỉ dựa theo tư duy pháp lý đơn thuần vì các giấy tờ còn thiếu trong hồ sơ kết hôn chỉ là thủ tục hành chính phản ánh về điều kiện kết hôn mà thôi.

Thứ ba: Hậu quả pháp lý của việc Ủy ban nhân dân cấp huyện huỷ giấy chứng nhận kết hôn của cơ quan hành chính xã như thế nào; có phát sinh quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà D từ thời điểm đăng ký kết hôn đến ngày quyết định hành chính hủy quyết định đăng ký kết hôn có hiệu lực không? Lý giải vấn đề này có ý nghĩa trong tình huống thực tiễn trên là bà D có quyền thừa kế và yêu cầu phân chia di sản thừa kế của ông T, sau khi có quyết định hành chính huỷ giấy chứng nhận kết hôn hay không. Vấn đề sẽ trở nên phức tạp thêm trong trường hợp sau đó bà D có con chung với ông T… thì quyền và lợi ích hợp pháp của bà D sẽ được giải quyết như thế nào.

Thứ tư: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định rõ về việc huỷ kết hôn trái pháp luật. Cụ thể tại Điều 15 quy định về người có quyền yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật; Điều 16 quy định thẩm quyền huỷ kết hôn trái pháp luật thuộc về Toà án; Điều 17 quy định về hậu quả pháp lý của việc huỷ kết hôn trái pháp luật; căn cứ để huỷ kết hôn trái pháp luật trong trường hợp kết hôn vi phạm Điều 9 (điều kiện kết hôn) và Điều 10 (những trường hợp cấm kết hôn) Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Đối chiếu các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình với tình huống thực tiễn trên thì giả thiết có khởi kiện ra Toà án thì Toà án cũng không có căn cứ để huỷ hôn nhân trái pháp luật.

Tuy nhiên, tình huống thực tiễn trên cho thấy chỉ vì thiếu một số thủ tục hành chính chứng minh về điều kiện hôn nhân để ra một quyết định hành chính huỷ giấy chứng nhận đăng ký kết hôn đồng thời bỏ lửng hậu quả pháp lý liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cho thấy sự bất cập, không phù hợp quy định của pháp luật.

Quan điểm của tác giả đồng tình với quan điểm thứ tư, đồng thời đưa ra kiến nghị cần quy định rõ về thẩm quyền huỷ các giấy tờ hộ tịch trái pháp luật trong dự thảo Luật Hộ tịch; đối với việc kết hôn nếu có dấu hiệu trái pháp luật, thì trong mọi trường hợp việc giải quyết thuộc thẩm quyền Toà án, không để quy định chung chung dẫn đến việc Ủy ban nhân dân cấp huyện cũng có thẩm quyền huỷ giấy chứng nhận đăng ký kết hôn như tình huống thực tiễn trên.

Nguyễn Phương Nam

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: