Thứ sáu 10/04/2026 16:28
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới

Sau 15 năm thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 30/7/2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị đã có nhiều đổi mới, đạt được nhiều kết quả quan trọng, tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những hạn chế do nhiều nguyên nhân khác nhau. Chính vì vậy, nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ, thực chất trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, bảo đảm hiệu quả, thiết thực, sát với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo toàn diện của Đảng trong giai đoạn mới, ngày 17/11/2022, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 28-NQ/TW). Để thực hiện Nghị quyết này, Bộ Chính trị đã ban hành Kế hoạch số 12-KH/TW ngày 28/11/2022 (Kế hoạch số 12-KH/TW) với các nội dung cụ thể về mục đích, yêu cầu và nhiệm vụ như sau:

1. Mục đích, yêu cầu

Thứ nhất, nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, tầm quan trọng của việc đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị; nắm vững quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nêu trong Nghị quyết số 28-NQ/TW; đề cao trách nhiệm, quyết tâm chính trị, tinh thần tự giác, gương mẫu của các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong tổ chức thực hiện Nghị quyết.

Thứ hai, xác định nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, thiết thực, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng phù hợp với đặc điểm, tình hình của cơ quan, đơn vị, địa phương. Thực hiện đồng bộ với Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại.

2. Nhiệm vụ

2.1. Nhiệm vụ trọng tâm

- Cấp ủy, tổ chức đảng ban hành chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW gắn với thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII và các chủ trương, đường lối của Đảng có liên quan; kịp thời khắc phục hạn chế trong phương thức lãnh đạo của Đảng. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tạo sự thống nhất trong Đảng, đồng thuận của Nhân dân trong chấp hành, thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

- Tập trung đổi mới, nâng cao chất lượng ban hành văn bản của Đảng; công tác tổ chức - cán bộ; công tác kiểm tra, giám sát; công tác tuyên truyền, vận động.

- Phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu; đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tạo chuyển biến thực chất, lan tỏa tấm gương tiêu biểu của cán bộ, đảng viên.

- Tiếp tục đổi mới phong cách, phương pháp công tác, lề lối làm việc bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thông suốt, kịp thời của cấp ủy, tổ chức đảng. Đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong các cơ quan của hệ thống chính trị, gắn với xây dựng, áp dụng các tiêu chí, chỉ số đánh giá hiệu quả, chất lượng tổ chức, hoạt động của các cơ quan, đơn vị, địa phương.

2.2. Nhiệm vụ cụ thể

Một là, đối với Đảng đoàn Quốc hội: Lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội và quan tâm chỉ đạo xây dựng, hoàn thiện bộ máy, tổ chức của các cơ quan trực thuộc Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo hướng tinh gọn, giảm số lượng cấp phó của người đứng đầu và Ủy viên thường trực của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội; thể chế kịp thời, đầy đủ chủ trương, đường lối của Đảng, bảo đảm đồng bộ giữa văn bản của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Hai là, đối với Ban Cán sự Đảng Chính phủ: (i) Lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới công tác quản lý, điều hành của Chính phủ và hệ thống cơ quan hành chính nhà nước; hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương; sửa đổi, hoàn thiện chính sách công vụ (chế độ công vụ) để liên thông cán bộ từ cấp xã tới cấp huyện và tỉnh (thực hiện thường xuyên). (ii) Sơ kết việc thực hiện tổ chức chính quyền đô thị tại Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Đà Nẵng, trên cơ sở đó xây dựng, hoàn thiện tiêu chí, tổ chức bộ máy của mô hình chính quyền đô thị, nông thôn, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt (hoàn thành trong năm 2024). (iii) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổng kết việc thực hiện Kết luận số 86-KL/TW ngày 24/01/2014 của Bộ Chính trị về chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ; xây dựng và triển khai có hiệu quả “Chiến lược quốc gia thu hút, trọng dụng nhân tài” (hoàn thành trong năm 2024); Thông báo số 202-TB/TW ngày 26/5/2015 của Bộ Chính trị về Đề án “Thí điểm đổi mới cách tuyển chọn lãnh đạo, quản lý cấp vụ, cấp sở, cấp phòng”; tham mưu Bộ Chính trị về định hướng, giải pháp trong thời gian tới (hoàn thành trong năm 2025).

Ba là, đối với Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và Ban Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh: (i) Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì, phối hợp với đảng đoàn các tổ chức chính trị - xã hội, Ban Bí thư Trung ương Đoàn nghiên cứu, tham mưu các chủ trương, giải pháp đổi mới, nâng cao vai trò lãnh đạo của đảng đoàn, Ban Bí thư Trung ương Đoàn; kiến nghị mô hình tổ chức đảng đoàn phù hợp với nguyên tắc hiệp thương dân chủ, tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên. (ii) Lãnh đạo đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, hướng mạnh về cơ sở, sát quần chúng; thực hiện tốt vai trò đại diện cho quyền, lợi ích hợp pháp của đoàn viên, hội viên và Nhân dân. (iii) Thực hiện tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội, tích cực tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Bốn là, đối với Ban Tổ chức Trung ương: (i) Nghiên cứu, hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt động của đảng đoàn, ban cán sự đảng từ Trung ương đến địa phương. (ii) Chủ trì sơ kết, tham mưu bổ sung, sửa đổi Quy định số 164-QĐ/TW ngày 01/02/2013 của Bộ Chính trị về chế độ bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp (hoàn thành trong năm 2023); Quy định số 132-QĐ/TW ngày 08/3/2018 của Bộ Chính trị về việc kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị (hoàn thành trong năm 2024). (iii) Tham mưu sơ kết, tổng kết việc thực hiện Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương Đảng; Quy định số 101-QĐ/TW ngày 07/6/2012 của Ban Bí thư về “trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp” và Quy định số 55-QĐ/TW ngày 19/12/2016 của Bộ Chính trị về “một số việc cần làm ngay để tăng cường trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên” (hoàn thành trong năm 2024). (iv) Chủ trì tổng kết, tham mưu bổ sung, sửa đổi Hướng dẫn số 10-QĐi/TW ngày 12/12/2018 của Bộ Chính trị; Quyết định số 200-QĐ/TW ngày 02/10/2013, Quy định số 42-QĐ/TW ngày 03/10/2016 của Ban Bí thư; các quy định về chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức đảng, mối quan hệ công tác của cấp ủy đảng đối với các tổ chức trong hệ thống chính trị (hoàn thành trong năm 2025). (v) Tổng kết thực hiện Quy định về bầu cử trong Đảng (hoàn thành trong năm 2024).

Năm là, đối với Ủy ban Kiểm tra Trung ương: Chủ trì tổng kết, sửa đổi Quy chế chất vấn trong Đảng (ban hành kèm theo Quyết định số 158-QĐ/TW ngày 12/5/2008 của Bộ Chính trị) (hoàn thành trong năm 2023); chủ trì xây dựng cơ chế phối hợp hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị (hoàn thành trong năm 2024); xây dựng Đề án đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra đảng (hoàn thành trong năm 2024).

Sáu là, đối với Ban Tuyên giáo Trung ương: (i) Chủ trì tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 09/10/2014 của Bộ Chính trị khoá XI về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030 (hoàn thành trong năm 2025); (ii) Chủ trì đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động cán bộ, đảng viên và Nhân dân, đẩy mạnh công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Bảy là, đối với Ban Dân vận Trung ương: Chủ trì tổng kết việc thực hiện Quyết định số 218-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị khóa XI ban hành Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và Nhân dân tham gia góp ý xây dựng chính quyền (hoàn thành trong năm 2023); chủ trì, phối hợp nghiên cứu đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của hệ thống chính trị, góp phần mở rộng dân chủ cơ sở, tạo sự đồng thuận của Nhân dân trong thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng (hoàn thành trong năm 2024).

Tám là, đối với Ban Kinh tế Trung ương: Chủ trì, phối hợp nghiên cứu, tham mưu tiếp tục đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo của tỉnh ủy, thành ủy trong lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội (hoàn thành trong năm 2023).

Chín là, đối với Hội đồng Lý luận Trung ương: Tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam gắn với vai trò lãnh đạo, cầm quyền và yêu cầu không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng (hoàn thành trong năm 2024).

Mười là, đối với Văn phòng Trung ương Đảng: (i) Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng thông tin phục vụ lãnh đạo. Tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ thông tin, báo cáo của các cấp ủy, tổ chức (thực hiện thường xuyên). (ii) Chủ trì tổng kết thực hiện Kết luận số 82-KL/TW ngày 16/8/2010 của Bộ Chính trị về cải cách thủ tục hành chính trong Đảng, đổi mới lề lối, tác phong công tác trong các cơ quan lãnh đạo của Đảng và cơ quan tham mưu, giúp việc cấp ủy, tổ chức đảng các cấp; hoàn thiện quy định, quy trình về ban hành văn bản của Đảng; quy định về việc sơ kết, tổng kết nghị quyết, chủ trương của Đảng (hoàn thành trong năm 2024). (iii) Chủ trì tổng kết 15 năm thực hiện Quy định số 216-QĐ/TW ngày 01/4/2009 của Bộ Chính trị về quan hệ lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư với đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước và một số tổ chức đảng trực thuộc ở Trung ương (hoàn thành trong năm 2024).

Mười một là, đối với các tỉnh ủy, thành ủy, Đảng ủy trực thuộc Trung ương: (i) Nghiên cứu, cụ thể hóa Nghị quyết số 28-NQ/TW, Kế hoạch số 12-KH/TW thực hiện bằng các chương trình, kế hoạch phù hợp với điều kiện thực tế của cơ quan, đơn vị, địa phương và bổ sung vào Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII và nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp (hoàn thành trong năm 2023). (ii) Rà soát, hoàn thiện, ban hành các quy định, quy chế, quy trình, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị ở địa phương. Đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong các cơ quan, đơn vị, địa phương.

3. Tổ chức thực hiện

- Bộ Chính trị, Ban Bí thư tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, thường xuyên kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW và Kế hoạch số 12-KH/TW.

- Các đồng chí bí thư tỉnh ủy, thành ủy, đảng đoàn, ban cán sự đảng, đảng ủy trực thuộc Trung ương, Ban Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh chủ trì, chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW.

- Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan thường xuyên theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc tổ chức thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW và Kế hoạch số 12-KH/TW, định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Uyên Nhi

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.

Theo dõi chúng tôi trên: