Thứ bảy 10/10/2026 06:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Khái niệm đại diện và phân loại hình thức đại diện theo pháp luật của một số quốc gia

Tóm tắt: Đại diện là chế định pháp luật được ghi nhận trong tất cả các hệ thống pháp luật các nước trên thế giới, bởi đó là chế định quan trọng trong đời sống xã hội. Bài viết này trình bày khái quát về khái niệm đại diện và phân loại các hình thức đại diện theo quy định pháp luật của một số quốc gia.

Tóm tắt: Đại diện là chế định pháp luật được ghi nhận trong tất cả các hệ thống pháp luật các nước trên thế giới, bởi đó là chế định quan trọng trong đời sống xã hội. Bài viết này trình bày khái quát về khái niệm đại diện và phân loại các hình thức đại diện theo quy định pháp luật của một số quốc gia.

Abstract: Representation is a legal institution which is provided in all legal systems of the world, because it is an important institution in the social life. This paper generally presents the term of representation and classification of representation forms in accordance with the law of some nations.

1. Khái niệm về đại diện

Chúng ta có thể khẳng định đại diện là một quan hệ giữa các chủ thể mà theo đó, một cá nhân hay pháp nhân nhân danh và vì lợi ích của một chủ thể khác để xác lập và thực hiện một giao dịch. Người đã nhân danh người khác thực hiện hành động trong phạm vi thẩm quyền được cho phép sẽ ràng buộc trách nhiệm của người được nhân danh đó. Sự ràng buộc trách nhiệm đó là điều tất yếu bởi trong đó thể hiện ý chí đại diện của người thực hiện, ý chí tiến hành giao dịch và hướng tới việc phục vụ lợi ích của người được nhân danh[1]. Đó được coi là những yếu tố cần thiết khi xác định có tồn tại quan hệ đại diện không.

Theo pháp luật của Anh, khái niệm này được thể hiện dưới góc độ mối quan hệ ủy thác giữa hai chủ thể với nhau: “Đại diện là mối quan hệ ủy thác được phát sinh khi một người (người được đại diện) thỏa thuận với một người khác (người đại diện) rằng người đại diện sẽ hành động nhân danh người được đại diện dựa trên phạm vi được đại diện, và người đại diện thể hiện sự đồng thuận hoặc đồng ý khác để hành động”[2]. Theo pháp luật Hoa Kỳ, “đại diện là việc một người hành động nhân danh và thay mặt cho một người khác, trên cơ sở người đại diện đã được trao và thừa nhận một số mức độ thẩm quyền để thực hiện hoạt động đó”[3]. Pháp luật Việt Nam ghi nhận khái niệm đại diện tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự”.

Nhìn chung, pháp luật các nước đều diễn tả mối quan hệ giữa các chủ thể, theo đó, người đại diện là người nhân danh và vì lợi ích của người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch với người thứ ba. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp, cá nhân có thể xác lập, thực hiện giao dịch thông qua người đại diện mà có một số trường hợp họ phải tự mình xác lập. Thông thường, đó là những giao dịch liên quan đến quyền nhân thân - vốn có đặc tính không thể chuyển giao cho người khác được, ví dụ như là thực hiện việc hòa giải trong việc giải quyết ly hôn giữa vợ và chồng tại Tòa án.

2. Phân loại các hình thức đại diện

Phân loại đại diện được hiểu là sự phân chia sắp xếp đại diện thành các loại hình khác nhau dựa trên những dấu hiệu đặc trưng nhằm xác định khái niệm, những yếu tố nhất định để xác định quy tắc pháp lý kèm theo nhằm bảo vệ các bên tham gia quan hệ đại diện và bên thứ ba. Đại diện là một quan hệ cơ bản, xuất hiện thông thường trong đời sống xã hội, phát triển rộng rãi trong quan hệ xã hội luật tư điều chỉnh. Do đó, với từng hoàn cảnh đặc thù của quan hệ đại diện (đại diện cho cá nhân, đại diện cho pháp nhân trong quan hệ thương mại), việc duy trì một nguyên tắc chung điều chỉnh quan hệ đại diện là điều không thể. Mặt khác, đại diện là chế định phát triển từ từ theo sự phát triển của quan hệ xã hội ngày càng phức tạp trong bối cảnh thương mại, việc bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bên thứ ba cần dựa trên sự xác định của yếu tố trong quan hệ đại diện riêng biệt như: Yếu tố lỗi của người đại diện và người được đại diện. Từ đó, việc phân loại là cần thiết và được xác định theo ý định của các nhà lập pháp. Từ cơ sở phân loại này, hệ thống các quy tắc pháp lý riêng biệt được xác lập đối với từng loại đại diện. Ví dụ điển hình của quy tắc pháp lý riêng biệt đó là: Đối với đại diện theo ủy quyền, việc hình thành quan hệ đại diện dựa trên sự thỏa thuận nên quy tắc điều chỉnh mang tính chất tôn trọng và linh hoạt giữa các bên trong quan hệ đại diện. Đặc trưng này khác hoàn toàn với trường hợp đại diện theo quy định của pháp luật.

2.1. Phân loại dựa trên căn cứ phát sinh quan hệ đại diện

Cách phân loại này dựa trên nguồn gốc hình thành nên quan hệ đại diện. Pháp luật Việt Nam đang đi theo xu hướng này. Tìm hiểu các quy định về đại diện tại Bộ luật Dân sự năm1995, đến Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015, đại diện được phân chia thành đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền. Có hai căn cứ được xác định bao gồm hai căn cứ: theo quy định pháp luật và theo thỏa thuận và tương ứng là hai loại đại diện: Đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền.

Thứ nhất, đại diện theo pháp luật

Pháp luật Việt Nam ghi nhận khái niệm đại diện theo pháp luật theo hướng: “Đại diện do pháp luật quy định, theo điều lệ của pháp nhân hoặc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định”[4]. Rõ ràng, từ khái niệm này có thể thấy các nhà lập pháp nhìn nhận ở góc độ nguồn gốc hình thành quan hệ đại diện chứ không dựa trên tính chất hay mức độ của quyền đại diện. Từ đó, phạm vi quyền đại diện theo pháp luật cũng được rộng mở hơn, chỉ bị giới hạn bởi quy định của pháp luật.

Đối tượng có người đại diện theo pháp luậtcó thể là cá nhân hoặc pháp nhân. Đối với cá nhân, quan hệ này được xác lập trong trường hợp người được đại diện là các cá nhân chưa thành niên, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất năng lực hành vi dân sự hoặc là người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi. Đây là việc đại diện được xác lập trong trường hợp cá nhân không có khả năng hoặc không đủ điều kiện xác lập giao dịch dân sự. Người đại diện theo pháp luật ở đây là người giám hộ hoặc cũng có thể là người do Tòa án chỉ định khi không xác định được người đại diện theo pháp luật. Quy định này khắc phục thực tế không xác định được người đại diện của người chưa thành niên hay người được giám hộ và bảo vệ lợi ích chính đáng của các chủ thể trên.

Đối với pháp nhân, đại diện theo pháp luật của pháp nhân hiểu theo một nghĩa đơn giản, đó là sự chỉ định một người tự nhiên đại diện cho pháp nhân, nhân danh pháp nhân, thực hiện các hành động hàng ngày với các hành vi cần thiết để thực hiện nhiệm vụ của pháp nhân. Bản chất pháp nhân vốn là thực thể pháp lý nhân tạo, do đó, pháp nhân luôn phải có người đại diện từ khi thành lập đến lúc kết thúc hoạt động. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể là người được chỉ định theo quy định pháp luật hoặc theo điều lệ pháp nhân hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (ví dụ như trường hợp đại diện theo pháp luật của công ty do Tòa án chỉ định trong trường hợp công ty phá sản mà người đại diện theo pháp luật trốn tránh).

So sánh với các nước, chúng ta nhìn thấy điểm tương tự trong quy định pháp luật của Pháp. Các nước theo truyền thống luật thực định, tiêu biểu là Pháp quy định khá khái quát về khái niệm đại diện rồi mới phân tích từng loại hình cụ thể. Theo Bộ luật Dân sự Pháp, người đại diện theo pháp luật là người được chỉ định một cách hợp pháp để đại diện và bảo vệ quyền lợi của người khác. Người đại diện theo pháp luật hành động nhân danh và đại diện cho người được đại diện. Người được đại diện này có thể là một người không có sự phát triển hoàn hảo về thể chất (trẻ vị thành niên, người phải có sự giám hộ) hoặc là một pháp nhân (công ty, hiệp hội...). Ví dụ: Người quản lý của công ty có thể là đại diện hợp pháp của công ty. Người đại diện hợp pháp là một người tự nhiên (nghĩa là một cá nhân) có trách nhiệm pháp lý để đại diện cho một người khác[5].

Từ đó, có thể rút ra khẳng định: Đại diện theo pháp luật bản chất là hình thức đại diện mà căn cứ phát sinh, thẩm quyền đều dựa trên quy định của pháp luật, không thể xác lập dựa trên ý kiến của người được đại diện.

Thứ hai, đại diện theo ủy quyền

Đại diện theo ủy quyền là việc đại diện được xác lập trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên trong quan hệ đại diện. Hình thức đại diện này được xác lập trong trường hợp khi cá nhân, pháp nhân ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác thay mặt họ, nhân danh họ để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự khi có nhu cầu. Đó có thể là trường hợp các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân khi thực hiện các giao dịch có liên quan đến tài sản chung thì có thể thỏa thuận cử cá nhân, pháp nhân khác đại diện theo ủy quyền (Điều 138 Bộ luật Dân sự năm 2015). Tuy nhiên, có một số trường hợp, pháp luật không cho phép cá nhân được ủy quyền cho người khác thực hiện, ví dụ như trường hợp đương sự trong vụ án ly hôn không thể ủy quyền cho người khác giải quyết vụ án ly hôn giữa hai vợ chồng đương sự tại Tòa án.

Đối với pháp nhân, hình thức đại diện theo ủy quyền này thường được sử dụng như là sự ủy quyền về thẩm quyền của người đại diện trong doanh nghiệp. Quy định này được đánh giá như là một trong những công cụ pháp lý tốt nhất để đảm bảo tính linh hoạt trong hoạt động của pháp nhân mà không chịu ảnh hưởng bắt buộc về các quyền hạn của người đại diện theo pháp luật được xác định trong văn bản luật.

Có thể nhận thấy, theo pháp luật Việt Nam, đại diện được phân chia thành hai loại dựa trên tiêu chí căn cứ phát sinh quan hệ đại diện: theo quy định pháp luật và theo thỏa thuận các bên. Từ hai căn cứ phát sinh quan hệ đó, có thể nhận thấy “đối với đại diện theo pháp luật, phạm vi được xác định khá mềm mỏng trên căn bản lợi ích của người được đại diện, trừ khi pháp luật có quy định khác (chẳng hạn trong điều lệ công ty); còn đối với đại diện theo ủy quyền, phạm vi được định trên căn bản ý chí của chủ ủy”[6].

2.2. Phân loại dựa trên đối tượng người được đại diện

Dựa trên căn cứ này, chúng ta có thể phân thành hai nhóm: Đại diện của cá nhân và đại diện của pháp nhân.

Thứ nhất, đại diện của cá nhân

Xem xét đại diện của cá nhân, có hai trường hợp: (i) Việc đại diện là bắt buộc do cá nhân không đủ điều kiện để thiết lập giao dịch với người thứ ba (do độ tuổi hay trình độ nhận thức, tình trạng thể chất liên quan quyết định đến năng lực thực hiện giao dịch); (ii) Việc có người đại diện là tùy chọn của cá nhân. Trong quan hệ đại diện của cá nhân, việc xác định tư cách người đại diện và người được đại diện khá dễ dàng bởi các cá nhân là các tự nhiên nhân tồn tại trên thực tế. Do đó, sự tồn tại về ý chí của người được đại diện cũng dễ dàng chứng minh, kể cả trong trường hợp cá nhân đó có sự khiếm khuyết về thể chất thì căn cứ xác định dấu hiệu để xác định họ cần có người đại diện đã được luật quy định rất rõ ràng.

Thứ hai, đại diện của pháp nhân

Đối với đại diện của pháp nhân, câu trả lời sẽ là phức tạp hơn bởi, nếu không có người đại diện, tư cách pháp nhân mà luật cho phép không có tác dụng bởi pháp nhân không có ý chí thực, không thể bằng hành vi của mình tham gia quan hệ. Năng lực chủ thể của pháp nhân gồm có năng lực pháp luật và năng lực hành vi đơn giản chỉ là đi mượn từ người đại diện. Do đó, chúng ta kết luận: Đại diện của pháp nhân là bắt buộc, nếu không có đại diện, pháp nhân chỉ là ảo ảnh[7].

Người được đại diện trong mối quan hệ đại diện theo pháp luật của pháp nhân là ai? Pháp nhân hay là người thành lập pháp nhân? Chúng ta cần làm rõ câu trả lời này bằng cách làm rõ có sự tồn tại của pháp nhân với ý chí của pháp nhân không. Ý chí của pháp nhân bản chất là ý chí của những người sở hữu pháp nhân hay là ý chí tập thể của tổ chức mà ý chí đó đại diện cho mục đích, chức năng, nhiệm vụ mà pháp nhân đó hướng tới? Hiện nay có nhiều quan điểm tranh cãi về vấn đề này. Có quan điểm cho rằng, pháp nhân có ý chí của pháp nhân bản chất là ý chí của chủ sở hữu pháp nhân, bởi pháp luật chỉ có thể ghi nhận con người là chủ thể duy nhất có ý chí. Có quan điểm trái ngược trong việc xác định ý chí tập thể này: “Một lợi ích khác biệt với lợi ích cá nhân; một tổ chức có thể phát hành một ý chí tập thể khi có đại diện”[8]. Việc xác định rõ ý chí của pháp nhân có tác dụng trong việc xác định tư cách người được đại diện ở đây bao gồm toàn bộ các chủ sở hữu của pháp nhân hay chỉ đơn thuần là pháp nhân với tư cách pháp lý độc lập với chức năng, mục đích rõ ràng. Đi xa hơn là để xác định nghĩa vụ trung thành của người đại diện với cổ đông, thành viên của công ty hay với công ty đó. Phân tích luận điểm này dưới góc độ luật học, chúng ta đánh giá lại một số khía cạnh của người đại diện theo thuyết người đại diện trong học thuyết kinh tế luật liên quan đến mẫu thuẫn lợi ích giữa người đại diện và các chủ sở hữu của công ty. Theo góc độ cá nhân của tác giả, thì ý chí của pháp nhân ở đây mang đặc thù là ý chí tập thể vay mượn từ số đông các thành viên sở hữu công ty. Pháp nhân không có ý chí thực song tập thể có khả năng biểu đạt ý chí của tập thể để bảo vệ quyền lợi của tập thể đó. Do vậy, ý chí của pháp nhân được xác định từ bên ngoài. Theo đó, lợi ích của pháp nhân là lợi ích quan trọng nhất, đứng trên lợi ích của các chủ sở hữu của pháp nhân. Bởi pháp nhân hình thành trong bối cảnh cần có mối liên hệ bên ngoài và lẽ dĩ nhiên nó cũng phải chịu trách nhiệm đối với các bên liên quan trong xã hội chứ không đơn thuần là phép cộng của những người thành lập và sở hữu pháp nhân.

2.3. Các cách phân loại khác

Có những cách phân loại đại diện khác dựa trên các tiêu chí về nguồn gốc hình thành quan hệ đại diện, song cũng có yếu tố liên quan đến nội dung thẩm quyền đại diện. Theo luật của Pháp, đại diện được chia thành ba loại[9]:

Thứ nhất, đại diện theo pháp luật của cá nhân, pháp nhân

Đây là trường hợp người đại diện được chỉ định rõ theo quy định của pháp luật như trường hợp cha mẹ là đại diện của trẻ chưa thành niên. Đối với pháp nhân, luật pháp quy định một số người thành lập nhất định của pháp nhân đó có quyền đại diện cho pháp nhân đó (ví dụ như công ty hợp danh).

Thứ hai, đại diện tư pháp

Người đại diện này thường được chỉ định theo quyết định tư pháp như quyết định của thẩm phán trong các vụ việc phá sản...

Thứ ba, đại diện ủy quyền

Đối với đại diện ủy quyền, đây thường là kết quả của một hợp đồng ủy nhiệm theo đó người được đại diện trao quyền cho người đại diện để thực hiện một hành động pháp lý nhân danh họ trong phạm vi giới hạn thỏa thuận. Cũng tương tự như pháp luật Việt Nam, nếu người đại diện vượt quá thẩm quyền được trao cho anh ta, các hành vi pháp lý do người đại diện ký kết sẽ bị vô hiệu. Trong trường hợp, người đại diện thiết lập giao dịch vượt quá thẩm quyền đại diện hoặc không có quyền đại diện, trách nhiệm pháp lý được đặt ra với người được đại diện khi họ có những dấu hiệu chứng tỏ sự đồng ý và người thứ ba là người ngay tình, có thiện chí trong trong giao dịch.

Trong doanh nghiệp, cũng cần lưu ý đến hai yếu tố: Yếu tố thứ nhất, đã có các quy định về giới hạn phạm vi thẩm quyền của từng cơ quan cụ thể trong doanh nghiệp được đưa ra bởi luật doanh nghiệp và điều lệ cụ thể của công ty. Yếu tố thứ hai là thông thường có sự ủy quyền rõ ràng. Khi người thứ ba có căn cứ để tin vào quyền đại diện của người xác lập hợp đồng với mình và vì hoàn cảnh không cho phép bên thứ ba xác minh thực tế của các quyền hạn này thì doanh nghiệp vẫn phải bị ràng buộc trách nhiệm với bên thứ ba.

ThS. Nguyễn Thị Thanh

Khoa Luật, Đại học Vinh









[1]. Ngô Huy Cương, Giáo trình Pháp luật hợp đồng Việt Nam, trang 293, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2013.

[2]. Agency law in commercial practice, P.15, Danny Busch and Laura Macgregor and Peter Watts, (2016) Oxford university Press.

[3]. Foundations of business law and legal invironment, Cengage Learning, p.76, Philip J Scaletta Jr and George D Cameron III,; 7th edition, 2009.

[4]. Khoản 1 Điều 135 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[5]. Bộ luật Dân sự Pháp, https://www.trans-lex.org/601101/_/french-civil-code-2016/, truy cập ngày 01/06/2018.

[6]. Nguyễn Hoàng Duy, Nghĩa vụ của người quản lý công ty theo pháp luật Việt Nam, trang 285, Luận văn Thạc sĩ luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

[7]. De la distinction entre la capacité, le pouvoir et la représentation, https://aurelienbamde.com/2017/07/14/ de-la-distinction-entre-la-capacite-le-pouvoir-et-la-representation/ (truy cập ngày 09/9/2018).

[8]. John Farrar, Corporate Governance: Theories, Principles, and Practice (2nd ed, 2005), tr. 103-105.

[9]. De la distinction entre la capacité, le pouvoir et la représentation,https://aurelienbamde.com/2017/07/14/ de-la-distinction-entre-la-capacite-le-pouvoir-et-la-representation/ (truy cập ngày 09/9/2018).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.

Theo dõi chúng tôi trên: