Thứ bảy 16/05/2026 21:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Khái niệm đại diện và phân loại hình thức đại diện theo pháp luật của một số quốc gia

Tóm tắt: Đại diện là chế định pháp luật được ghi nhận trong tất cả các hệ thống pháp luật các nước trên thế giới, bởi đó là chế định quan trọng trong đời sống xã hội. Bài viết này trình bày khái quát về khái niệm đại diện và phân loại các hình thức đại diện theo quy định pháp luật của một số quốc gia.

Tóm tắt: Đại diện là chế định pháp luật được ghi nhận trong tất cả các hệ thống pháp luật các nước trên thế giới, bởi đó là chế định quan trọng trong đời sống xã hội. Bài viết này trình bày khái quát về khái niệm đại diện và phân loại các hình thức đại diện theo quy định pháp luật của một số quốc gia.

Abstract: Representation is a legal institution which is provided in all legal systems of the world, because it is an important institution in the social life. This paper generally presents the term of representation and classification of representation forms in accordance with the law of some nations.

1. Khái niệm về đại diện

Chúng ta có thể khẳng định đại diện là một quan hệ giữa các chủ thể mà theo đó, một cá nhân hay pháp nhân nhân danh và vì lợi ích của một chủ thể khác để xác lập và thực hiện một giao dịch. Người đã nhân danh người khác thực hiện hành động trong phạm vi thẩm quyền được cho phép sẽ ràng buộc trách nhiệm của người được nhân danh đó. Sự ràng buộc trách nhiệm đó là điều tất yếu bởi trong đó thể hiện ý chí đại diện của người thực hiện, ý chí tiến hành giao dịch và hướng tới việc phục vụ lợi ích của người được nhân danh[1]. Đó được coi là những yếu tố cần thiết khi xác định có tồn tại quan hệ đại diện không.

Theo pháp luật của Anh, khái niệm này được thể hiện dưới góc độ mối quan hệ ủy thác giữa hai chủ thể với nhau: “Đại diện là mối quan hệ ủy thác được phát sinh khi một người (người được đại diện) thỏa thuận với một người khác (người đại diện) rằng người đại diện sẽ hành động nhân danh người được đại diện dựa trên phạm vi được đại diện, và người đại diện thể hiện sự đồng thuận hoặc đồng ý khác để hành động”[2]. Theo pháp luật Hoa Kỳ, “đại diện là việc một người hành động nhân danh và thay mặt cho một người khác, trên cơ sở người đại diện đã được trao và thừa nhận một số mức độ thẩm quyền để thực hiện hoạt động đó”[3]. Pháp luật Việt Nam ghi nhận khái niệm đại diện tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự”.

Nhìn chung, pháp luật các nước đều diễn tả mối quan hệ giữa các chủ thể, theo đó, người đại diện là người nhân danh và vì lợi ích của người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch với người thứ ba. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp, cá nhân có thể xác lập, thực hiện giao dịch thông qua người đại diện mà có một số trường hợp họ phải tự mình xác lập. Thông thường, đó là những giao dịch liên quan đến quyền nhân thân - vốn có đặc tính không thể chuyển giao cho người khác được, ví dụ như là thực hiện việc hòa giải trong việc giải quyết ly hôn giữa vợ và chồng tại Tòa án.

2. Phân loại các hình thức đại diện

Phân loại đại diện được hiểu là sự phân chia sắp xếp đại diện thành các loại hình khác nhau dựa trên những dấu hiệu đặc trưng nhằm xác định khái niệm, những yếu tố nhất định để xác định quy tắc pháp lý kèm theo nhằm bảo vệ các bên tham gia quan hệ đại diện và bên thứ ba. Đại diện là một quan hệ cơ bản, xuất hiện thông thường trong đời sống xã hội, phát triển rộng rãi trong quan hệ xã hội luật tư điều chỉnh. Do đó, với từng hoàn cảnh đặc thù của quan hệ đại diện (đại diện cho cá nhân, đại diện cho pháp nhân trong quan hệ thương mại), việc duy trì một nguyên tắc chung điều chỉnh quan hệ đại diện là điều không thể. Mặt khác, đại diện là chế định phát triển từ từ theo sự phát triển của quan hệ xã hội ngày càng phức tạp trong bối cảnh thương mại, việc bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bên thứ ba cần dựa trên sự xác định của yếu tố trong quan hệ đại diện riêng biệt như: Yếu tố lỗi của người đại diện và người được đại diện. Từ đó, việc phân loại là cần thiết và được xác định theo ý định của các nhà lập pháp. Từ cơ sở phân loại này, hệ thống các quy tắc pháp lý riêng biệt được xác lập đối với từng loại đại diện. Ví dụ điển hình của quy tắc pháp lý riêng biệt đó là: Đối với đại diện theo ủy quyền, việc hình thành quan hệ đại diện dựa trên sự thỏa thuận nên quy tắc điều chỉnh mang tính chất tôn trọng và linh hoạt giữa các bên trong quan hệ đại diện. Đặc trưng này khác hoàn toàn với trường hợp đại diện theo quy định của pháp luật.

2.1. Phân loại dựa trên căn cứ phát sinh quan hệ đại diện

Cách phân loại này dựa trên nguồn gốc hình thành nên quan hệ đại diện. Pháp luật Việt Nam đang đi theo xu hướng này. Tìm hiểu các quy định về đại diện tại Bộ luật Dân sự năm1995, đến Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015, đại diện được phân chia thành đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền. Có hai căn cứ được xác định bao gồm hai căn cứ: theo quy định pháp luật và theo thỏa thuận và tương ứng là hai loại đại diện: Đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền.

Thứ nhất, đại diện theo pháp luật

Pháp luật Việt Nam ghi nhận khái niệm đại diện theo pháp luật theo hướng: “Đại diện do pháp luật quy định, theo điều lệ của pháp nhân hoặc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định”[4]. Rõ ràng, từ khái niệm này có thể thấy các nhà lập pháp nhìn nhận ở góc độ nguồn gốc hình thành quan hệ đại diện chứ không dựa trên tính chất hay mức độ của quyền đại diện. Từ đó, phạm vi quyền đại diện theo pháp luật cũng được rộng mở hơn, chỉ bị giới hạn bởi quy định của pháp luật.

Đối tượng có người đại diện theo pháp luậtcó thể là cá nhân hoặc pháp nhân. Đối với cá nhân, quan hệ này được xác lập trong trường hợp người được đại diện là các cá nhân chưa thành niên, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất năng lực hành vi dân sự hoặc là người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi. Đây là việc đại diện được xác lập trong trường hợp cá nhân không có khả năng hoặc không đủ điều kiện xác lập giao dịch dân sự. Người đại diện theo pháp luật ở đây là người giám hộ hoặc cũng có thể là người do Tòa án chỉ định khi không xác định được người đại diện theo pháp luật. Quy định này khắc phục thực tế không xác định được người đại diện của người chưa thành niên hay người được giám hộ và bảo vệ lợi ích chính đáng của các chủ thể trên.

Đối với pháp nhân, đại diện theo pháp luật của pháp nhân hiểu theo một nghĩa đơn giản, đó là sự chỉ định một người tự nhiên đại diện cho pháp nhân, nhân danh pháp nhân, thực hiện các hành động hàng ngày với các hành vi cần thiết để thực hiện nhiệm vụ của pháp nhân. Bản chất pháp nhân vốn là thực thể pháp lý nhân tạo, do đó, pháp nhân luôn phải có người đại diện từ khi thành lập đến lúc kết thúc hoạt động. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể là người được chỉ định theo quy định pháp luật hoặc theo điều lệ pháp nhân hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (ví dụ như trường hợp đại diện theo pháp luật của công ty do Tòa án chỉ định trong trường hợp công ty phá sản mà người đại diện theo pháp luật trốn tránh).

So sánh với các nước, chúng ta nhìn thấy điểm tương tự trong quy định pháp luật của Pháp. Các nước theo truyền thống luật thực định, tiêu biểu là Pháp quy định khá khái quát về khái niệm đại diện rồi mới phân tích từng loại hình cụ thể. Theo Bộ luật Dân sự Pháp, người đại diện theo pháp luật là người được chỉ định một cách hợp pháp để đại diện và bảo vệ quyền lợi của người khác. Người đại diện theo pháp luật hành động nhân danh và đại diện cho người được đại diện. Người được đại diện này có thể là một người không có sự phát triển hoàn hảo về thể chất (trẻ vị thành niên, người phải có sự giám hộ) hoặc là một pháp nhân (công ty, hiệp hội...). Ví dụ: Người quản lý của công ty có thể là đại diện hợp pháp của công ty. Người đại diện hợp pháp là một người tự nhiên (nghĩa là một cá nhân) có trách nhiệm pháp lý để đại diện cho một người khác[5].

Từ đó, có thể rút ra khẳng định: Đại diện theo pháp luật bản chất là hình thức đại diện mà căn cứ phát sinh, thẩm quyền đều dựa trên quy định của pháp luật, không thể xác lập dựa trên ý kiến của người được đại diện.

Thứ hai, đại diện theo ủy quyền

Đại diện theo ủy quyền là việc đại diện được xác lập trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên trong quan hệ đại diện. Hình thức đại diện này được xác lập trong trường hợp khi cá nhân, pháp nhân ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác thay mặt họ, nhân danh họ để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự khi có nhu cầu. Đó có thể là trường hợp các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân khi thực hiện các giao dịch có liên quan đến tài sản chung thì có thể thỏa thuận cử cá nhân, pháp nhân khác đại diện theo ủy quyền (Điều 138 Bộ luật Dân sự năm 2015). Tuy nhiên, có một số trường hợp, pháp luật không cho phép cá nhân được ủy quyền cho người khác thực hiện, ví dụ như trường hợp đương sự trong vụ án ly hôn không thể ủy quyền cho người khác giải quyết vụ án ly hôn giữa hai vợ chồng đương sự tại Tòa án.

Đối với pháp nhân, hình thức đại diện theo ủy quyền này thường được sử dụng như là sự ủy quyền về thẩm quyền của người đại diện trong doanh nghiệp. Quy định này được đánh giá như là một trong những công cụ pháp lý tốt nhất để đảm bảo tính linh hoạt trong hoạt động của pháp nhân mà không chịu ảnh hưởng bắt buộc về các quyền hạn của người đại diện theo pháp luật được xác định trong văn bản luật.

Có thể nhận thấy, theo pháp luật Việt Nam, đại diện được phân chia thành hai loại dựa trên tiêu chí căn cứ phát sinh quan hệ đại diện: theo quy định pháp luật và theo thỏa thuận các bên. Từ hai căn cứ phát sinh quan hệ đó, có thể nhận thấy “đối với đại diện theo pháp luật, phạm vi được xác định khá mềm mỏng trên căn bản lợi ích của người được đại diện, trừ khi pháp luật có quy định khác (chẳng hạn trong điều lệ công ty); còn đối với đại diện theo ủy quyền, phạm vi được định trên căn bản ý chí của chủ ủy”[6].

2.2. Phân loại dựa trên đối tượng người được đại diện

Dựa trên căn cứ này, chúng ta có thể phân thành hai nhóm: Đại diện của cá nhân và đại diện của pháp nhân.

Thứ nhất, đại diện của cá nhân

Xem xét đại diện của cá nhân, có hai trường hợp: (i) Việc đại diện là bắt buộc do cá nhân không đủ điều kiện để thiết lập giao dịch với người thứ ba (do độ tuổi hay trình độ nhận thức, tình trạng thể chất liên quan quyết định đến năng lực thực hiện giao dịch); (ii) Việc có người đại diện là tùy chọn của cá nhân. Trong quan hệ đại diện của cá nhân, việc xác định tư cách người đại diện và người được đại diện khá dễ dàng bởi các cá nhân là các tự nhiên nhân tồn tại trên thực tế. Do đó, sự tồn tại về ý chí của người được đại diện cũng dễ dàng chứng minh, kể cả trong trường hợp cá nhân đó có sự khiếm khuyết về thể chất thì căn cứ xác định dấu hiệu để xác định họ cần có người đại diện đã được luật quy định rất rõ ràng.

Thứ hai, đại diện của pháp nhân

Đối với đại diện của pháp nhân, câu trả lời sẽ là phức tạp hơn bởi, nếu không có người đại diện, tư cách pháp nhân mà luật cho phép không có tác dụng bởi pháp nhân không có ý chí thực, không thể bằng hành vi của mình tham gia quan hệ. Năng lực chủ thể của pháp nhân gồm có năng lực pháp luật và năng lực hành vi đơn giản chỉ là đi mượn từ người đại diện. Do đó, chúng ta kết luận: Đại diện của pháp nhân là bắt buộc, nếu không có đại diện, pháp nhân chỉ là ảo ảnh[7].

Người được đại diện trong mối quan hệ đại diện theo pháp luật của pháp nhân là ai? Pháp nhân hay là người thành lập pháp nhân? Chúng ta cần làm rõ câu trả lời này bằng cách làm rõ có sự tồn tại của pháp nhân với ý chí của pháp nhân không. Ý chí của pháp nhân bản chất là ý chí của những người sở hữu pháp nhân hay là ý chí tập thể của tổ chức mà ý chí đó đại diện cho mục đích, chức năng, nhiệm vụ mà pháp nhân đó hướng tới? Hiện nay có nhiều quan điểm tranh cãi về vấn đề này. Có quan điểm cho rằng, pháp nhân có ý chí của pháp nhân bản chất là ý chí của chủ sở hữu pháp nhân, bởi pháp luật chỉ có thể ghi nhận con người là chủ thể duy nhất có ý chí. Có quan điểm trái ngược trong việc xác định ý chí tập thể này: “Một lợi ích khác biệt với lợi ích cá nhân; một tổ chức có thể phát hành một ý chí tập thể khi có đại diện”[8]. Việc xác định rõ ý chí của pháp nhân có tác dụng trong việc xác định tư cách người được đại diện ở đây bao gồm toàn bộ các chủ sở hữu của pháp nhân hay chỉ đơn thuần là pháp nhân với tư cách pháp lý độc lập với chức năng, mục đích rõ ràng. Đi xa hơn là để xác định nghĩa vụ trung thành của người đại diện với cổ đông, thành viên của công ty hay với công ty đó. Phân tích luận điểm này dưới góc độ luật học, chúng ta đánh giá lại một số khía cạnh của người đại diện theo thuyết người đại diện trong học thuyết kinh tế luật liên quan đến mẫu thuẫn lợi ích giữa người đại diện và các chủ sở hữu của công ty. Theo góc độ cá nhân của tác giả, thì ý chí của pháp nhân ở đây mang đặc thù là ý chí tập thể vay mượn từ số đông các thành viên sở hữu công ty. Pháp nhân không có ý chí thực song tập thể có khả năng biểu đạt ý chí của tập thể để bảo vệ quyền lợi của tập thể đó. Do vậy, ý chí của pháp nhân được xác định từ bên ngoài. Theo đó, lợi ích của pháp nhân là lợi ích quan trọng nhất, đứng trên lợi ích của các chủ sở hữu của pháp nhân. Bởi pháp nhân hình thành trong bối cảnh cần có mối liên hệ bên ngoài và lẽ dĩ nhiên nó cũng phải chịu trách nhiệm đối với các bên liên quan trong xã hội chứ không đơn thuần là phép cộng của những người thành lập và sở hữu pháp nhân.

2.3. Các cách phân loại khác

Có những cách phân loại đại diện khác dựa trên các tiêu chí về nguồn gốc hình thành quan hệ đại diện, song cũng có yếu tố liên quan đến nội dung thẩm quyền đại diện. Theo luật của Pháp, đại diện được chia thành ba loại[9]:

Thứ nhất, đại diện theo pháp luật của cá nhân, pháp nhân

Đây là trường hợp người đại diện được chỉ định rõ theo quy định của pháp luật như trường hợp cha mẹ là đại diện của trẻ chưa thành niên. Đối với pháp nhân, luật pháp quy định một số người thành lập nhất định của pháp nhân đó có quyền đại diện cho pháp nhân đó (ví dụ như công ty hợp danh).

Thứ hai, đại diện tư pháp

Người đại diện này thường được chỉ định theo quyết định tư pháp như quyết định của thẩm phán trong các vụ việc phá sản...

Thứ ba, đại diện ủy quyền

Đối với đại diện ủy quyền, đây thường là kết quả của một hợp đồng ủy nhiệm theo đó người được đại diện trao quyền cho người đại diện để thực hiện một hành động pháp lý nhân danh họ trong phạm vi giới hạn thỏa thuận. Cũng tương tự như pháp luật Việt Nam, nếu người đại diện vượt quá thẩm quyền được trao cho anh ta, các hành vi pháp lý do người đại diện ký kết sẽ bị vô hiệu. Trong trường hợp, người đại diện thiết lập giao dịch vượt quá thẩm quyền đại diện hoặc không có quyền đại diện, trách nhiệm pháp lý được đặt ra với người được đại diện khi họ có những dấu hiệu chứng tỏ sự đồng ý và người thứ ba là người ngay tình, có thiện chí trong trong giao dịch.

Trong doanh nghiệp, cũng cần lưu ý đến hai yếu tố: Yếu tố thứ nhất, đã có các quy định về giới hạn phạm vi thẩm quyền của từng cơ quan cụ thể trong doanh nghiệp được đưa ra bởi luật doanh nghiệp và điều lệ cụ thể của công ty. Yếu tố thứ hai là thông thường có sự ủy quyền rõ ràng. Khi người thứ ba có căn cứ để tin vào quyền đại diện của người xác lập hợp đồng với mình và vì hoàn cảnh không cho phép bên thứ ba xác minh thực tế của các quyền hạn này thì doanh nghiệp vẫn phải bị ràng buộc trách nhiệm với bên thứ ba.

ThS. Nguyễn Thị Thanh

Khoa Luật, Đại học Vinh









[1]. Ngô Huy Cương, Giáo trình Pháp luật hợp đồng Việt Nam, trang 293, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2013.

[2]. Agency law in commercial practice, P.15, Danny Busch and Laura Macgregor and Peter Watts, (2016) Oxford university Press.

[3]. Foundations of business law and legal invironment, Cengage Learning, p.76, Philip J Scaletta Jr and George D Cameron III,; 7th edition, 2009.

[4]. Khoản 1 Điều 135 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[5]. Bộ luật Dân sự Pháp, https://www.trans-lex.org/601101/_/french-civil-code-2016/, truy cập ngày 01/06/2018.

[6]. Nguyễn Hoàng Duy, Nghĩa vụ của người quản lý công ty theo pháp luật Việt Nam, trang 285, Luận văn Thạc sĩ luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

[7]. De la distinction entre la capacité, le pouvoir et la représentation, https://aurelienbamde.com/2017/07/14/ de-la-distinction-entre-la-capacite-le-pouvoir-et-la-representation/ (truy cập ngày 09/9/2018).

[8]. John Farrar, Corporate Governance: Theories, Principles, and Practice (2nd ed, 2005), tr. 103-105.

[9]. De la distinction entre la capacité, le pouvoir et la représentation,https://aurelienbamde.com/2017/07/14/ de-la-distinction-entre-la-capacite-le-pouvoir-et-la-representation/ (truy cập ngày 09/9/2018).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: