Chủ nhật 13/09/2026 12:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Khái niệm giao dịch dân sự có điều kiện theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015

Trong giai đoạn trước khi Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực đã có nhiều bài viết bày tỏ quan điểm về việc sử dụng thuật ngữ “giao dịch dân sự” trong Bộ luật Dân sự năm 2015:

Giao dịch dân sự là một trong những nội dung quan trọng được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Trong bài viết này, tác giả chủ yếu tập trung nêu và phân tích các quan điểm liên quan tới giao dịch dân sự nói chung, giao dịch dân sự có điều kiện nói riêng được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 và có sự so sánh, đối chiếu với pháp luật của một số quốc gia.

1. Khái niệm giao dịch dân sự

Trong giai đoạn trước khi Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực đã có nhiều bài viết bày tỏ quan điểm về việc sử dụng thuật ngữ “giao dịch dân sự” trong Bộ luật Dân sự năm 2015:

Quan điểm thứ nhất: Không cần thay đổi vì thuật ngữ “giao dịch dân sự” được sử dụng tại Việt Nam từ thời kỳ đầu ban hành Bộ luật Dân sự năm 1995 và người dân cũng đã quen thuộc với việc sử dụng nó. Quan điểm này được sự đồng tình của PGS.TS. Đỗ Văn Đại[1], theo đó, ông cho rằng, không cần thiết phải thay đổi thuật ngữ giao dịch dân sự bởi bản chất của giao dịch dân sự và “hành vi pháp lý” là tương tự nhau, nhưng với người Việt Nam thì việc sử dụng thuật ngữ giao dịch dân sự đã gắn bó với thói quen từ 20 năm nay (từ Bộ luật Dân sự năm 1995).

Quan điểm thứ hai: Nên sử dụng thuật ngữ “hành vi pháp lý” để phù hợp với xu thế chung của thế giới. Đồng tình với quan điểm này có bà Bùi Thị Thanh Hằng với dẫn chứng rằng, việc sử dụng thuật ngữ “giao dịch” không bao trùm được nội hàm được ghi nhận tại Điều 121 Bộ luật Dân sự năm 2015; bên cạnh đó, nên sử dụng những thuật ngữ “hành vi pháp lý” vì có sự tương thích với thế giới để từ đó có cách hiểu tương đồng với các thuật ngữ luật, bởi thuật ngữ “hành vi pháp lý” có bản chất không khác với thuật ngữ “giao dịch dân sự”. Minh chứng cho quan điểm này là một số quốc gia đã ghi nhận việc sử dụng thuật ngữ “hành vi pháp lý”. Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan quy định tại Điều 112: “Những hành vi pháp lý là những hành vi tự nguyện, đúng pháp luật mà mục đích trực tiếp của những hành vi đó là thiết lập những quan hệ pháp lý giữa những thể nhân, pháp nhân nhằm thành lập, thay đổi, chuyển nhượng, bảo vệ hoặc chấm dứt các quyền”. Bộ luật Dân sự Nhật Bản quy định khái quát về hành vi pháp lý là như thế nào nhưng đã sử dụng thuật ngữ “a juristic act” để thể hiện những giao dịch giữa các cá nhân, pháp nhân với nhau[2].

Quan điểm thứ ba: Cần bỏ từ “dân sự” ra khỏi “giao dịch dân sự” vì việc sử dụng thuật ngữ này không có trên thế giới mà chỉ có ở Việt Nam, có thể chuyển đổi thành “giao dịch” hoặc “giao dịch pháp lý” để bao quát được cả những giao dịch thương mại, chứ việc sử dụng như hiện nay sẽ bị giới hạn là chỉ dành cho phạm vi dân sự. Tuy nhiên, cũng có nhận định cho rằng, thương mại là một bộ phận của dân sự, nhưng điều này cần xem xét vì việc quy định hai văn bản khác nhau: Bộ luật Dân sự năm 2015 điều chỉnh những quan hệ dân sự và Luật Thương mại năm 2005 điều chỉnh những quan hệ thương mại. Bên cạnh đó, các văn bản pháp luật khác như Luật Đầu tư năm 2014 cũng điều chỉnh quan hệ thương mại nhưng lại thuộc văn bản chuyên ngành. Ủng hộ cho quan điểm này là PGS.TS. Ngô Huy Cương: Việc sử dụng thuật ngữ “giao dịch dân sự” trong Bộ luật Dân sự là không chính xác bởi lẽ người ta thường sử dụng thuật ngữ “giao dịch dân sự” hay “hành vi dân sự” để phân biệt với “giao dịch thương mại” hay “hành vi thương mại”, trong khi đó Bộ luật Dân sự áp dụng cho cả quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động[3]. Ngoài ra, Bộ luật Dân sự Georgia quy định tại Điều 50: “Giao dịch là một tuyên bố đơn phương, song phương hoặc đa phương về ý định nhằm tạo lập, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp lý”. Quy định này của Geogia cho thấy giao dịch bao quát được cả những giao dịch dân sự nói chung và những giao dịch thương mại nói riêng.

Tác giả bài viết cho rằng, nên bỏ từ “dân sự” ra khỏi “giao dịch dân sự”, tức chỉ gọi là “giao dịch” như quan điểm của PGS.TS. Ngô Huy Cương. Theo tác giả, thuật ngữ giao dịch đã quen thuộc với người dân Việt Nam, do đó, nếu sử dụng hành vi pháp lý sẽ dẫn đến cách hiểu khác nhau của người dân, trong khi việc ban hành các văn bản pháp luật cũng phải dựa trên tình hình xã hội, phong tục, tập quán của quốc gia mình. Vì vậy, trong Bộ luật Dân sự có thể sử dụng thuật ngữ “giao dịch” hoặc “giao dịch pháp lý”.

2. Khái niệm về giao dịch dân sự có điều kiện

Ở mỗi nước lại có quy định khác nhau về giao dịch dân sự có điều kiện. Nhật Bản thì quy định là “hành vi pháp lý với điều kiện”. Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự Nhật Bản không đề cập tới “hành vi pháp lý với điều kiện” được hiểu như thế nào mà đưa ra cách hiểu hành vi pháp lý với điều kiện khẳng định và phủ định. Cụ thể, Điều 127 Bộ luật Dân sự Nhật Bản quy định: “Hành vi pháp lý với điều kiện khẳng định trở nên có hiệu lực chỉ khi điều kiện đó được hoàn toàn thực hiện. Hành vi pháp lý với điều kiện phủ định chấm dứt hiệu lực chỉ khi điều kiện này hoàn toàn thực hiện. Nếu các bên thể hiện ý chí rằng hiệu lực của việc thực hiện điều kiện có giá trị hồi tố thì ý chí này được chiếm ưu thế”. Bộ luật Dân sự Thái Lan thì quy định là hành vi pháp lý có điều kiện thông qua việc xác định một điều khoản quy định sự phụ thuộc vào hiệu lực của một hành vi pháp lý vào một sự kiện chưa rõ trong tương lai, được coi là một điều kiện[4]. Do vậy, có thể thấy Bộ luật Dân sự Thái Lan đưa ra một điều kiện hành vi pháp lý và điều khoản xác định hiệu lực của hành vi pháp lý phụ thuộc vào một điều kiện. Bộ luật Dân sự Thái Lan cũng phân loại hành vi pháp lý có điều kiện xảy ra trước, hành vi pháp lý có điều kiện xảy ra sau và hiệu lực của hồi tố. Bộ luật Dân sự Đức thì không quy định cụ thể giao dịch pháp lý có điều kiện mà quy định những điều kiện làm phát sinh quyền và điều kiện làm chấm dứt quyền. Cụ thể, Điều 158 quy định: “Nếu một giao dịch pháp lý được thiết lập tùy thuộc vào một điều kiện làm phát sinh quyền, khi điều kiện đó được thỏa mãn, giao dịch pháp lý đó sẽ phát sinh hiệu lực. Nếu một giao dịch pháp lý được thiết lập tủy thuộc vào điều kiện làm chấm dứt quyền, khi điều kiện đó được đáp ứng thì hiệu lực của giao dịch pháp lý đó sẽ chấm dứt, vào thời điểm này tình trạng pháp lý trước đây sẽ được hồi tố”[5].

Điểm giống của những hệ thống văn bản pháp luật của Nhật Bản, Thái Lan và Đức là không đưa ra khái niệm giao dịch (hành vi) pháp lý có điều kiện, mà chủ yếu tập trung vào việc xác định điều kiện làm ảnh hưởng tới hiệu lực của một giao dịch (hành vi) pháp lý có điều kiện. Việc phân loại giao dịch (hành vi) pháp lý giữa các quốc gia này tuy có cách quy định từ ngữ khác nhau như điều kiện xảy ra trước, điều kiện xảy ra sau hoặc điều kiện làm phát sinh quyền, điều kiện làm chấm dứt quyền hoặc điều kiện khẳng định, điều kiện phủ định, nhưng nhìn chung, giao dịch (hành vi) pháp lý có điều kiện phân loại thành giao dịch (hành vi) pháp lý có điều kiện phát sinh và giao dịch (hành vi) pháp lý có điều kiện hủy bỏ.

Hiện nay, tại Việt Nam, tác giả chưa tìm thấy công trình nghiên cứu nào đi sâu phân tích quy định liên quan tới giao dịch dân sự có điều kiện được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Tác giả nhận thấy rằng tên gọi của Điều 120 chưa phù hợp với nội dung được đề cập trong điều khoản này. Bởi tên gọi của Điều 120 là giao dịch dân sự có điều kiện, nhưng nội dung bên trong của điều khoản thì không đưa ra khái niệm về giao dịch dân sự có điều kiện mà chỉ nêu những nội dung liên quan tới điều kiện được các bên thỏa thuận thêm trong giao dịch dân sự. Khoản 1 Điều 120 Bộ luật Dân sự năm 2015 nhằm hướng tới việc xác lập điều kiện trong giao dịch dân sự có điều kiện là dựa trên sự thỏa thuận về điều kiện phát sinh hoặc hủy bỏ và khi điều kiện phát sinh hoặc hủy bỏ đó xảy ra thì giao dịch dân sự phát sinh hoặc hủy bỏ; khoản 2 là hướng tới nguyên tắc nhằm đảm bảo tính khách quan của điều kiện được áp dụng trong giao dịch dân sự có điều kiện. Thêm nữa, nhìn lại hệ thống các điều kiện quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 của Việt Nam về giao dịch dân sự có điều kiện gồm Điều 120 về giao dịch dân sự có điều kiện, Điều 284 về thực hiện nghĩa vụ có điều kiện, Điều 402 về phân loại hợp đồng dân sự và trong đó có đưa ra khái niệm về hợp đồng dân sự có điều kiện cho thấy có một số bất hợp lý: (i) Bộ luật Dân sự không đưa ra khái niệm về giao dịch dân sự có điều kiện mà chỉ đề cập tới hợp đồng dân sự có điều kiện mặc dù hợp đồng dân sự có điều kiện là một hình thức của giao dịch dân sự có điều kiện, tức là vấn đề chung không được khái quát mà chỉ khái quát một hình thức cụ thể; (ii) Điều khoản quy định về việc xác lập điều kiện trong giao dịch dân sự có điều kiện là dựa trên sự thỏa thuận, bởi cả ba điều luật đã nêu đều đề cập tới sự thỏa thuận điều kiện của các bên. Do đó, điều này sẽ trở nên bất hợp lý đối với hành vi pháp lý đơn phương có điều kiện, đặc biệt đối với di chúc có điều kiện. Bởi bản chất của hành vi pháp lý đơn phương là giao dịch trong đó thể hiện ý chí của một bên nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Thông thường, hành vi pháp lý đơn phương được xác lập theo ý chí của một bên chủ thể duy nhất (lập di chúc, từ chối hưởng thừa kế). Trong nhiều trường hợp, hành vi pháp lý đơn phương chỉ phát sinh hậu quả pháp lý khi có người khác đáp ứng được những điều kiện nhất định do người xác lập giao dịch đưa ra. Nếu hành vi pháp lý đơn phương có điều kiện là một hình thức của giao dịch dân sự có điều kiện thì Điều 120 Bộ luật Dân sự năm 2015 có thể dẫn tới cách hiểu là đối với hành vi pháp lý đơn phương có điều kiện thì điều khoản quy định về điều kiện làm phát sinh, hủy bỏ hành vi pháp lý đơn phương đó phải do các bên thỏa thuận. Vậy câu hỏi đặt ra là, trong trường hợp xác định đối với di chúc có điều kiện thì cách hiểu được đề cập ở trên sẽ không có giá trị pháp lý.

Chính vì vậy, quy định liên quan tới giao dịch dân sự có điều kiện trong Bộ luật Dân sự năm 2015 cần được chỉnh sửa sao cho phù hợp với quy định chung liên quan tới các giao dịch trên thực tiễn. Theo tác giả, thứ nhất, việc quy định tại Điều 120 về giao dịch dân sự có điều kiện cần quy định chi tiết hơn và mang tính chất khái quát chung hơn nhằm phù hợp với vị trí của giao dịch dân sự nói chung và giao dịch dân sự có điều kiện nói riêng trong Bộ luật Dân sự. Thứ hai, nhìn lại các quy định của Bộ luật Dân sự Nhật Bản, Thái Lan và Đức, tác giả nhận thấy rằng từ “thỏa thuận” cần được loại bỏ khỏi nội dung Điều 120. Ngoài ra, việc quy định về giao dịch dân sự có điều kiện có thể xây dựng theo hai cách: Cách 1, quy định chi tiết từng giao dịch dân sự có điều kiện phát sinh, giao dịch dân sự có điều kiện hủy bỏ như hầu hết được xây dựng trong Bộ luật Dân sự Nhật Bản, Thái Lan và Đức; cách 2, xây dựng một khái niệm chung nhất về giao dịch dân sự có điều kiện và xác định điều kiện được áp dụng trong giao dịch dân sự có điều kiện. Quan điểm của tác giả là đồng tình với cách thứ hai hơn, cụ thể như sau:

“1. Nếu một giao dịch dân sự được thiết lập tùy thuộc vào một điều kiện thì khi điều kiện đó được thỏa mãn, giao dịch dân sự đó sẽ phát sinh hiệu lực hoặc chấm dứt hiệu lực.

2. Sự kiện được coi là điều kiện của giao dịch do chính người xác lập giao dịch định ra hoặc trong hợp đồng thì điều kiện đó do chính các bên thỏa thuận. Nó phải là sự kiện thuộc về tương lai. Sự kiện đó xảy ra hay không xảy ra không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các chủ thể trong giao dịch.

3. Trường hợp điều kiện làm phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự không thể xảy ra được do hành vi cố ý cản trở trực tiếp hoặc gián tiếp của một bên thì coi như điều kiện đó đã xảy ra; trường hợp có sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của một bên cố ý thúc đẩy cho điều kiện xảy ra thì coi như điều kiện đó không xảy ra.

4. Nếu theo nội dung của giao dịch dân sự có điều kiện mà các bên thể hiện ý chí rằng hiệu lực của việc thực hiện điều kiện có giá trị hồi tố thì ý chí này được chiếm ưu thế ”.

ThS. Phùng Bích Ngọc

Trường Đại học Thương mại

Tài liệu tham khảo

[1] PGS.TS. Đỗ Văn Đại, Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Hồng Đức, năm 2016.

[2] Bùi Thị Thanh Hằng và Nguyễn Thị Anh Thư, Chế định giao dịch dân sự và vấn đề sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự năm 2005, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học, Tập 30, số 1 (2014) 23-30.

[3] PGS.TS. Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật Hợp đồng (phần chung), Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2013, trang 57.

[4] Điều 144 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan, Các quyển I - VI - Hà Nội, Nxb. Chính trị quốc gia, 1995.

[5] Bộ luật Dân sự Đức, chế định nghĩa vụ, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Lao động, 2014.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: