Thứ bảy 14/03/2026 09:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Khái niệm giao dịch dân sự có điều kiện theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015

Trong giai đoạn trước khi Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực đã có nhiều bài viết bày tỏ quan điểm về việc sử dụng thuật ngữ “giao dịch dân sự” trong Bộ luật Dân sự năm 2015:

Giao dịch dân sự là một trong những nội dung quan trọng được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Trong bài viết này, tác giả chủ yếu tập trung nêu và phân tích các quan điểm liên quan tới giao dịch dân sự nói chung, giao dịch dân sự có điều kiện nói riêng được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 và có sự so sánh, đối chiếu với pháp luật của một số quốc gia.

1. Khái niệm giao dịch dân sự

Trong giai đoạn trước khi Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực đã có nhiều bài viết bày tỏ quan điểm về việc sử dụng thuật ngữ “giao dịch dân sự” trong Bộ luật Dân sự năm 2015:

Quan điểm thứ nhất: Không cần thay đổi vì thuật ngữ “giao dịch dân sự” được sử dụng tại Việt Nam từ thời kỳ đầu ban hành Bộ luật Dân sự năm 1995 và người dân cũng đã quen thuộc với việc sử dụng nó. Quan điểm này được sự đồng tình của PGS.TS. Đỗ Văn Đại[1], theo đó, ông cho rằng, không cần thiết phải thay đổi thuật ngữ giao dịch dân sự bởi bản chất của giao dịch dân sự và “hành vi pháp lý” là tương tự nhau, nhưng với người Việt Nam thì việc sử dụng thuật ngữ giao dịch dân sự đã gắn bó với thói quen từ 20 năm nay (từ Bộ luật Dân sự năm 1995).

Quan điểm thứ hai: Nên sử dụng thuật ngữ “hành vi pháp lý” để phù hợp với xu thế chung của thế giới. Đồng tình với quan điểm này có bà Bùi Thị Thanh Hằng với dẫn chứng rằng, việc sử dụng thuật ngữ “giao dịch” không bao trùm được nội hàm được ghi nhận tại Điều 121 Bộ luật Dân sự năm 2015; bên cạnh đó, nên sử dụng những thuật ngữ “hành vi pháp lý” vì có sự tương thích với thế giới để từ đó có cách hiểu tương đồng với các thuật ngữ luật, bởi thuật ngữ “hành vi pháp lý” có bản chất không khác với thuật ngữ “giao dịch dân sự”. Minh chứng cho quan điểm này là một số quốc gia đã ghi nhận việc sử dụng thuật ngữ “hành vi pháp lý”. Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan quy định tại Điều 112: “Những hành vi pháp lý là những hành vi tự nguyện, đúng pháp luật mà mục đích trực tiếp của những hành vi đó là thiết lập những quan hệ pháp lý giữa những thể nhân, pháp nhân nhằm thành lập, thay đổi, chuyển nhượng, bảo vệ hoặc chấm dứt các quyền”. Bộ luật Dân sự Nhật Bản quy định khái quát về hành vi pháp lý là như thế nào nhưng đã sử dụng thuật ngữ “a juristic act” để thể hiện những giao dịch giữa các cá nhân, pháp nhân với nhau[2].

Quan điểm thứ ba: Cần bỏ từ “dân sự” ra khỏi “giao dịch dân sự” vì việc sử dụng thuật ngữ này không có trên thế giới mà chỉ có ở Việt Nam, có thể chuyển đổi thành “giao dịch” hoặc “giao dịch pháp lý” để bao quát được cả những giao dịch thương mại, chứ việc sử dụng như hiện nay sẽ bị giới hạn là chỉ dành cho phạm vi dân sự. Tuy nhiên, cũng có nhận định cho rằng, thương mại là một bộ phận của dân sự, nhưng điều này cần xem xét vì việc quy định hai văn bản khác nhau: Bộ luật Dân sự năm 2015 điều chỉnh những quan hệ dân sự và Luật Thương mại năm 2005 điều chỉnh những quan hệ thương mại. Bên cạnh đó, các văn bản pháp luật khác như Luật Đầu tư năm 2014 cũng điều chỉnh quan hệ thương mại nhưng lại thuộc văn bản chuyên ngành. Ủng hộ cho quan điểm này là PGS.TS. Ngô Huy Cương: Việc sử dụng thuật ngữ “giao dịch dân sự” trong Bộ luật Dân sự là không chính xác bởi lẽ người ta thường sử dụng thuật ngữ “giao dịch dân sự” hay “hành vi dân sự” để phân biệt với “giao dịch thương mại” hay “hành vi thương mại”, trong khi đó Bộ luật Dân sự áp dụng cho cả quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động[3]. Ngoài ra, Bộ luật Dân sự Georgia quy định tại Điều 50: “Giao dịch là một tuyên bố đơn phương, song phương hoặc đa phương về ý định nhằm tạo lập, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp lý”. Quy định này của Geogia cho thấy giao dịch bao quát được cả những giao dịch dân sự nói chung và những giao dịch thương mại nói riêng.

Tác giả bài viết cho rằng, nên bỏ từ “dân sự” ra khỏi “giao dịch dân sự”, tức chỉ gọi là “giao dịch” như quan điểm của PGS.TS. Ngô Huy Cương. Theo tác giả, thuật ngữ giao dịch đã quen thuộc với người dân Việt Nam, do đó, nếu sử dụng hành vi pháp lý sẽ dẫn đến cách hiểu khác nhau của người dân, trong khi việc ban hành các văn bản pháp luật cũng phải dựa trên tình hình xã hội, phong tục, tập quán của quốc gia mình. Vì vậy, trong Bộ luật Dân sự có thể sử dụng thuật ngữ “giao dịch” hoặc “giao dịch pháp lý”.

2. Khái niệm về giao dịch dân sự có điều kiện

Ở mỗi nước lại có quy định khác nhau về giao dịch dân sự có điều kiện. Nhật Bản thì quy định là “hành vi pháp lý với điều kiện”. Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự Nhật Bản không đề cập tới “hành vi pháp lý với điều kiện” được hiểu như thế nào mà đưa ra cách hiểu hành vi pháp lý với điều kiện khẳng định và phủ định. Cụ thể, Điều 127 Bộ luật Dân sự Nhật Bản quy định: “Hành vi pháp lý với điều kiện khẳng định trở nên có hiệu lực chỉ khi điều kiện đó được hoàn toàn thực hiện. Hành vi pháp lý với điều kiện phủ định chấm dứt hiệu lực chỉ khi điều kiện này hoàn toàn thực hiện. Nếu các bên thể hiện ý chí rằng hiệu lực của việc thực hiện điều kiện có giá trị hồi tố thì ý chí này được chiếm ưu thế”. Bộ luật Dân sự Thái Lan thì quy định là hành vi pháp lý có điều kiện thông qua việc xác định một điều khoản quy định sự phụ thuộc vào hiệu lực của một hành vi pháp lý vào một sự kiện chưa rõ trong tương lai, được coi là một điều kiện[4]. Do vậy, có thể thấy Bộ luật Dân sự Thái Lan đưa ra một điều kiện hành vi pháp lý và điều khoản xác định hiệu lực của hành vi pháp lý phụ thuộc vào một điều kiện. Bộ luật Dân sự Thái Lan cũng phân loại hành vi pháp lý có điều kiện xảy ra trước, hành vi pháp lý có điều kiện xảy ra sau và hiệu lực của hồi tố. Bộ luật Dân sự Đức thì không quy định cụ thể giao dịch pháp lý có điều kiện mà quy định những điều kiện làm phát sinh quyền và điều kiện làm chấm dứt quyền. Cụ thể, Điều 158 quy định: “Nếu một giao dịch pháp lý được thiết lập tùy thuộc vào một điều kiện làm phát sinh quyền, khi điều kiện đó được thỏa mãn, giao dịch pháp lý đó sẽ phát sinh hiệu lực. Nếu một giao dịch pháp lý được thiết lập tủy thuộc vào điều kiện làm chấm dứt quyền, khi điều kiện đó được đáp ứng thì hiệu lực của giao dịch pháp lý đó sẽ chấm dứt, vào thời điểm này tình trạng pháp lý trước đây sẽ được hồi tố”[5].

Điểm giống của những hệ thống văn bản pháp luật của Nhật Bản, Thái Lan và Đức là không đưa ra khái niệm giao dịch (hành vi) pháp lý có điều kiện, mà chủ yếu tập trung vào việc xác định điều kiện làm ảnh hưởng tới hiệu lực của một giao dịch (hành vi) pháp lý có điều kiện. Việc phân loại giao dịch (hành vi) pháp lý giữa các quốc gia này tuy có cách quy định từ ngữ khác nhau như điều kiện xảy ra trước, điều kiện xảy ra sau hoặc điều kiện làm phát sinh quyền, điều kiện làm chấm dứt quyền hoặc điều kiện khẳng định, điều kiện phủ định, nhưng nhìn chung, giao dịch (hành vi) pháp lý có điều kiện phân loại thành giao dịch (hành vi) pháp lý có điều kiện phát sinh và giao dịch (hành vi) pháp lý có điều kiện hủy bỏ.

Hiện nay, tại Việt Nam, tác giả chưa tìm thấy công trình nghiên cứu nào đi sâu phân tích quy định liên quan tới giao dịch dân sự có điều kiện được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Tác giả nhận thấy rằng tên gọi của Điều 120 chưa phù hợp với nội dung được đề cập trong điều khoản này. Bởi tên gọi của Điều 120 là giao dịch dân sự có điều kiện, nhưng nội dung bên trong của điều khoản thì không đưa ra khái niệm về giao dịch dân sự có điều kiện mà chỉ nêu những nội dung liên quan tới điều kiện được các bên thỏa thuận thêm trong giao dịch dân sự. Khoản 1 Điều 120 Bộ luật Dân sự năm 2015 nhằm hướng tới việc xác lập điều kiện trong giao dịch dân sự có điều kiện là dựa trên sự thỏa thuận về điều kiện phát sinh hoặc hủy bỏ và khi điều kiện phát sinh hoặc hủy bỏ đó xảy ra thì giao dịch dân sự phát sinh hoặc hủy bỏ; khoản 2 là hướng tới nguyên tắc nhằm đảm bảo tính khách quan của điều kiện được áp dụng trong giao dịch dân sự có điều kiện. Thêm nữa, nhìn lại hệ thống các điều kiện quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 của Việt Nam về giao dịch dân sự có điều kiện gồm Điều 120 về giao dịch dân sự có điều kiện, Điều 284 về thực hiện nghĩa vụ có điều kiện, Điều 402 về phân loại hợp đồng dân sự và trong đó có đưa ra khái niệm về hợp đồng dân sự có điều kiện cho thấy có một số bất hợp lý: (i) Bộ luật Dân sự không đưa ra khái niệm về giao dịch dân sự có điều kiện mà chỉ đề cập tới hợp đồng dân sự có điều kiện mặc dù hợp đồng dân sự có điều kiện là một hình thức của giao dịch dân sự có điều kiện, tức là vấn đề chung không được khái quát mà chỉ khái quát một hình thức cụ thể; (ii) Điều khoản quy định về việc xác lập điều kiện trong giao dịch dân sự có điều kiện là dựa trên sự thỏa thuận, bởi cả ba điều luật đã nêu đều đề cập tới sự thỏa thuận điều kiện của các bên. Do đó, điều này sẽ trở nên bất hợp lý đối với hành vi pháp lý đơn phương có điều kiện, đặc biệt đối với di chúc có điều kiện. Bởi bản chất của hành vi pháp lý đơn phương là giao dịch trong đó thể hiện ý chí của một bên nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Thông thường, hành vi pháp lý đơn phương được xác lập theo ý chí của một bên chủ thể duy nhất (lập di chúc, từ chối hưởng thừa kế). Trong nhiều trường hợp, hành vi pháp lý đơn phương chỉ phát sinh hậu quả pháp lý khi có người khác đáp ứng được những điều kiện nhất định do người xác lập giao dịch đưa ra. Nếu hành vi pháp lý đơn phương có điều kiện là một hình thức của giao dịch dân sự có điều kiện thì Điều 120 Bộ luật Dân sự năm 2015 có thể dẫn tới cách hiểu là đối với hành vi pháp lý đơn phương có điều kiện thì điều khoản quy định về điều kiện làm phát sinh, hủy bỏ hành vi pháp lý đơn phương đó phải do các bên thỏa thuận. Vậy câu hỏi đặt ra là, trong trường hợp xác định đối với di chúc có điều kiện thì cách hiểu được đề cập ở trên sẽ không có giá trị pháp lý.

Chính vì vậy, quy định liên quan tới giao dịch dân sự có điều kiện trong Bộ luật Dân sự năm 2015 cần được chỉnh sửa sao cho phù hợp với quy định chung liên quan tới các giao dịch trên thực tiễn. Theo tác giả, thứ nhất, việc quy định tại Điều 120 về giao dịch dân sự có điều kiện cần quy định chi tiết hơn và mang tính chất khái quát chung hơn nhằm phù hợp với vị trí của giao dịch dân sự nói chung và giao dịch dân sự có điều kiện nói riêng trong Bộ luật Dân sự. Thứ hai, nhìn lại các quy định của Bộ luật Dân sự Nhật Bản, Thái Lan và Đức, tác giả nhận thấy rằng từ “thỏa thuận” cần được loại bỏ khỏi nội dung Điều 120. Ngoài ra, việc quy định về giao dịch dân sự có điều kiện có thể xây dựng theo hai cách: Cách 1, quy định chi tiết từng giao dịch dân sự có điều kiện phát sinh, giao dịch dân sự có điều kiện hủy bỏ như hầu hết được xây dựng trong Bộ luật Dân sự Nhật Bản, Thái Lan và Đức; cách 2, xây dựng một khái niệm chung nhất về giao dịch dân sự có điều kiện và xác định điều kiện được áp dụng trong giao dịch dân sự có điều kiện. Quan điểm của tác giả là đồng tình với cách thứ hai hơn, cụ thể như sau:

“1. Nếu một giao dịch dân sự được thiết lập tùy thuộc vào một điều kiện thì khi điều kiện đó được thỏa mãn, giao dịch dân sự đó sẽ phát sinh hiệu lực hoặc chấm dứt hiệu lực.

2. Sự kiện được coi là điều kiện của giao dịch do chính người xác lập giao dịch định ra hoặc trong hợp đồng thì điều kiện đó do chính các bên thỏa thuận. Nó phải là sự kiện thuộc về tương lai. Sự kiện đó xảy ra hay không xảy ra không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các chủ thể trong giao dịch.

3. Trường hợp điều kiện làm phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự không thể xảy ra được do hành vi cố ý cản trở trực tiếp hoặc gián tiếp của một bên thì coi như điều kiện đó đã xảy ra; trường hợp có sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của một bên cố ý thúc đẩy cho điều kiện xảy ra thì coi như điều kiện đó không xảy ra.

4. Nếu theo nội dung của giao dịch dân sự có điều kiện mà các bên thể hiện ý chí rằng hiệu lực của việc thực hiện điều kiện có giá trị hồi tố thì ý chí này được chiếm ưu thế ”.

ThS. Phùng Bích Ngọc

Trường Đại học Thương mại

Tài liệu tham khảo

[1] PGS.TS. Đỗ Văn Đại, Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Hồng Đức, năm 2016.

[2] Bùi Thị Thanh Hằng và Nguyễn Thị Anh Thư, Chế định giao dịch dân sự và vấn đề sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự năm 2005, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học, Tập 30, số 1 (2014) 23-30.

[3] PGS.TS. Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật Hợp đồng (phần chung), Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2013, trang 57.

[4] Điều 144 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan, Các quyển I - VI - Hà Nội, Nxb. Chính trị quốc gia, 1995.

[5] Bộ luật Dân sự Đức, chế định nghĩa vụ, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Lao động, 2014.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: