Thứ tư 13/05/2026 01:39
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Khái niệm và đặc trưng của hợp đồng cộng đồng

Tóm tắt: Hợp đồng cộng đồng còn được gọi là hợp đồng tập thể được giao kết giữa một nhóm cá nhân hay tổ chức, có hiệu lực áp dụng đối với tất cả các thành viên trong nhóm, cho dù từng thành viên này không phải là bên giao kết trực tiếp hợp đồng, đôi khi còn có hiệu lực áp dụng đối với cả những người không phải là thành viên trong nhóm (ví dụ thỏa ước lao động tập thể). Bài viết này tập trung phân tích để làm rõ hơn khái niệm và những đặc trưng cơ bản của hợp đồng cộng đồng dưới giác độ pháp lý.

Abstract: Community contract - also called as collective contract - is entered between a group of inpiduals or organizations, having effect to all group members although each member is not a direct signing party of the contract. It may sometimes have applying effect to non-members of the group (e.g. collective labor contract). The article concentrates on analysis to more clearly bring out the concept and fundamental characteristics of community contract from the legal aspect.

1. Khái niệm hợp đồng cộng đồng

Hợp đồng cộng đồng còn được gọi là hợp đồng tập thể (collective contract). Khi phân loại hợp đồng, về mặt học thuật, người ta thường nhắc đến cặp phân loại là hợp đồng cá nhân và hợp đồng cộng đồng. Cách phân loại như vậy làm nổi bật đặc trưng quan trọng của hợp đồng cộng đồng về phương diện chủ thể giao kết, sự biểu lộ ý chí và nhất là về hiệu lực của hợp đồng.

Nếu hợp đồng cá nhân được hiểu là loại hợp đồng do các cá nhân hay pháp nhân đơn lẻ giao kết với nhau và chỉ có hiệu lực áp dụng giới hạn đối với các bên giao kết đó[1], thì hợp đồng cộng đồng có hiệu lực đối với cả những người không tham gia giao kết, ngay cả đối với những người phản đối các điều kiện của hợp đồng. Vì vậy, hợp đồng cá nhân và hợp đồng cộng đồng rất khác nhau về phương diện hiệu lực. Hợp đồng cộng đồng đã đi ra ngoài khuôn khổ của nguyên tắc hiệu lực tương đối của hợp đồng. Có nhiều nhà phê bình cho rằng hợp đồng cộng đồng không thể là một phần của lý thuyết chung về hợp đồng[2].

Học thuyết về tự do ý chí được xem xét trên nhiều phương diện khác nhau: Về phương diện triết học, học thuyết này cho rằng, không ai có thể bị ép buộc làm hay không làm điều gì mà họ không muốn; về phương diện đạo đức, học thuyết này cho rằng, không ai có thể bị ép buộc làm hay không làm điều gì mà không xuất phát từ lợi ích của họ; còn về phương diện kinh tế, học thuyết cho rằng, con người cần được đề cao lợi ích cá nhân để thúc đẩy sự phát triển của xã hội[3]. Nếu căn cứ vào nền tảng triết học quan trọng này của hành vi pháp lý nói chung và của hợp đồng nói riêng, có thể thấy, hợp đồng cộng đồng đã phần nào đi ra ngoài nền tảng triết học. Tuy nhiên, một học thuyết không thể bao quát tất cả. Sự phát triển của xã hội khiến nhiều nhà lập pháp thừa nhận các hợp đồng cộng đồng nhằm mục đích tránh xung đột xã hội[4]. PGS. TS Ngô Huy Cương nhấn mạnh ý nghĩa thực sự của tự do ý chí trong đời sống xã hội hiện đại như sau: “Có lẽ tự do ý chí có một giá trị nổi bật là hạn chế sự can thiệp của chính quyền vào tự do của công dân, bên cạnh những giá trị quan trọng khác. Ý tưởng tự do ý chí ra đời thực sự nhằm tới mục tiêu mở rộng tối đa các quyền tự do đối với tài sản và các lợi ích của tư nhân và thu hẹp tối đa sự can thiệp của chính quyền vào khu vực tư nhân”[5]. Như vậy, học thuyết tự do ý chí không thể giải quyết được toàn bộ các vấn đề của hợp đồng trong một xã hội hiện đại. Có lẽ bởi lý do đó, bên cạnh nguyên tắc tự do hợp đồng, các nền tài phán còn đưa các nguyên tắc khác vào các đạo luật trong lĩnh vực luật tư như nguyên tắc thiện chí, nguyên tắc áp dụng tập quán và thói quen ứng xử. Bộ luật Dân sự năm 2015 đã đề cập tới nhiều nguyên tắc khác liên quan tới bảo vệ trật tự công và đạo đức xã hội (Điều 3). Các ngoại lệ mà hợp đồng cộng đồng chứa đựng thực sự đòi hỏi pháp luật phải có quy định rõ ràng hơn về loại hợp đồng này. Có thể giải nghĩa khái niệm hợp đồng cộng đồng (hay hợp đồng tập thể) mang tính tham khảo như sau: “Hợp đồng tập thể là loại hợp đồng được giao kết giữa một nhóm cá nhân hay tổ chức, có hiệu lực áp dụng đối với tất cả các thành viên trong nhóm, cho dù từng thành viên này không phải là bên giao kết trực tiếp hợp đồng, đôi khi còn có hiệu lực áp dụng đối với cả những người không phải là thành viên trong nhóm (ví dụ thỏa ước lao động tập thể)6.

Từ các nghiên cứu ở trên, có thể thấy: (i) Hợp đồng cộng đồng liên quan đến nhiều người trong một hoặc nhiều cộng đồng nhất định; (ii) Hợp đồng cộng đồng có hiệu lực đối với tất cả các thành viên trong một hoặc nhiều cộng đồng nhất định có liên quan, thậm chí có hiệu lực đối với cả những thành viên khác ngoài cộng đồng hoặc các cộng đồng đó; (iii) Yếu tố ý chí của các thành viên bị hợp đồng ràng buộc không phải là yếu tố cần thiết và được xem xét; (iv) Người trực tiếp giao kết nhân danh cộng đồng hoặc các cộng đồng.

Như vậy, hợp đồng cộng đồng có nhiều điểm khác biệt với những loại hợp đồng truyền thống khác mà khiến cho lý thuyết chung cho hợp đồng không thể bao quát. Vấn đề này lý giải cho lý do tại sao các Bộ luật Dân sự được ban hành ở thế kỷ XIX không đề cập tới phân loại hợp đồng cộng đồng. Ngày nay, hợp đồng cộng đồng có ý nghĩa kinh tế, xã hội rất lớn khiến cho người ta không thể bỏ qua nó. Chẳng hạn, ở Việt Nam hiện nay, mặc dù Bộ luật Dân sự năm 2015 không đề cập tới hợp đồng cộng đồng, nhưng các đạo luật như Bộ luật Lao động năm 2012, Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Phá sản năm 2014 đều có các quy định chi tiết về hợp đồng cộng đồng.

2. Phân loại hợp đồng cộng đồng

Nghiên cứu ở trên cho thấy, có nhiều sự thống nhất ý chí nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một quan hệ pháp luật nào đó mà có hiệu lực hay ràng buộc ngay cả với những người không giao kết, thậm chí phản đối sự thống nhất ý chí đó (chẳng hạn như nghị quyết của đại hội đồng cổ đông công ty cổ phần, thỏa ước lao động tập thể). Thế nhưng, những sự thống nhất ý chí như vậy lại là cần thiết cho sự phát triển kinh tế, xã hội. Do đó pháp luật vẫn duy trì và kiểm soát chúng. Và khoa học pháp lý gọi đó là hợp đồng cộng đồng. Hợp đồng cộng đồng có thể được chia thành hai loại căn cứ vào hướng biểu lộ ý chí: Một là, hợp đồng giao kết giữa một bên nhân danh một hoặc nhiều cộng đồng với một hoặc nhiều bên khác mà có thể là một cá nhân, một thực thể khác hay một cộng đồng; hai là, hợp đồng giao kết giữa những người trong cùng một cộng đồng. Loại thứ nhất thường thấy trong thỏa ước lao động tập thể. Loại thứ hai thường thấy là nghị quyết của hội đồng, ví dụ như nghị quyết của đại hội đồng cổ đông công ty cổ phần và nghị quyết của hội nghị chủ nợ trong trường hợp thương nhân bị phá sản.

Trong loại hợp đồng cộng đồng thứ nhất, các bên biểu lộ ý chí đối lập nhau bởi họ trao đổi lợi ích với nhau (nói đơn giản quyền và nghĩa vụ của các bên tương ứng với nhau). Trong loại hợp đồng cộng đồng thứ hai, các bên biểu lộ ý chí đồng hướng với nhau (tuy nhiên có thể ảnh hưởng phần nào tới lợi ích của nhau). Khi nghiên cứu về sự biểu lộ ý chí, có quan điểm cho rằng, trong hợp đồng thông thường hay truyền thống phải có sự biểu lộ ý chí ngược chiều nhau và hướng tới nhau chứ không có sự biểu lộ ý chí của các bên về cùng một đích[7]. Nhận xét này chưa thỏa đáng đối với các loại hợp đồng truyền thống như hợp đồng hôn nhân, hợp đồng lập hội, hương ước… Không thể căn cứ vào hướng biểu lộ ý chí để xác định tính truyền thống hay tính hiện đại của các loại hợp đồng. Thỏa ước lao động tập thể được giao kết giữa cộng đồng người lao động với chủ sử dụng lao động có hướng biểu lộ ý chí ngược chiều nhau và hướng tới nhau giữa hai bên. Song loại hợp đồng này không thể xem là loại hợp đồng truyền thống. Trong khi hợp đồng hôn nhân luôn luôn được xem là loại hợp đồng mà hai bên nam, nữ biểu lộ ý chí đồng hướng nhắm tới mục đích chung sống và duy trì nòi giống. Nghị quyết của đại hội đồng cổ đông công ty cổ phần được giao kết giữa các thành viên của công ty với nhau nhằm một hoặc một số công việc hay mục đích cụ thể. Như vậy, xét về hình thức, họ luôn luôn biểu lộ ý chí đồng hướng. Tuy nhiên, xét cụ thể trong từng nội dung, trong từng trường hợp cụ thể, có thể có sự xung đột quyền lợi. Do đó, việc bảo vệ cổ đông thiểu số được đặt ra. Các phân tích này cho thấy, việc phân loại hợp đồng cộng đồng căn cứ vào hướng biểu lộ ý chí chỉ là một thủ pháp để tách các loại hợp đồng cộng đồng ra để nghiên cứu chứ ít có ý nghĩa về nội dung pháp lý.

Xét từ các cách phân loại khác có thể thấy:

(i) Thỏa ước lao động tập thể là hợp đồng hữu danh, hợp đồng thương lượng, hợp đồng song vụ, hợp đồng có đền bù, hợp đồng trọng hình thức, hợp đồng chắc chắn, hợp đồng kéo dài, hợp đồng vì người thứ ba. Hợp đồng hữu danh bởi thỏa ước lao động tập thể được pháp luật quy định một cách rõ ràng và có tên gọi. Hợp đồng thương lượng bởi các bên giao kết có thể thỏa thuận với nhau về các điều kiện của hợp đồng. Hợp đồng song vụ bởi các bên giao kết đều có nghĩa vụ và quyền lợi đối với nhau. Hợp đồng có đền bù bởi mỗi bên đều chịu thiệt để đổi lấy lợi ích từ bên kia. Là hợp đồng trọng hình thức bởi nó phải giao kết theo một trình tự thủ tục do luật định và bằng văn bản. Là hợp đồng chắc chắn bởi nó có hiệu lực khi các bên thỏa thuận thành. Là hợp đồng kéo dài bởi nó được thực hiện trong một khoảng thời gian dài. Là hợp đồng vì người thứ ba bởi nó là ngoại lệ của nguyên tắc hiệu lực tương đối của hợp đồng và có hiệu lực cả với những người không trực tiếp giao kết hợp đồng.

(ii) Nghị quyết của hội đồng (nghị quyết của đại hội đồng cổ đông công ty cổ phần, nghị quyết của hội đồng thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, nghị quyết của hội nghị chủ nợ của thương nhân bị phá sản…) là hợp đồng hữu danh, hợp đồng trọng hình thức, hợp đồng hiệp ý, hợp đồng chắc chắn, hợp đồng kéo dài, hợp đồng vì người thứ ba. Các đặc điểm của nghị quyết hội đồng giống với thỏa ước lao động tập thể, trừ đặc điểm là hợp đồng thương lượng, hợp đồng song vụ, hợp đồng có đền bù, hợp đồng trọng hình thức, hợp đồng chắc chắn, hợp đồng kéo dài, có nghĩa là loại hợp đồng này không thể có các đặc điểm đặc thù của hợp đồng có ý chí ngược hướng và đối với nhau như thỏa ước lao động tập thể.

Hợp đồng cộng đồng ngày nay có khuynh hướng gia tăng do hoàn cảnh của thế giới thay đổi. Điều đó có nghĩa là việc thừa nhận và điều chỉnh hợp đồng cộng đồng có ý nghĩa xã hội rất lớn. Mỗi loại hợp đồng cộng đồng trong mỗi lĩnh vực pháp luật có một vai trò và ý nghĩa riêng. Do đó, việc khái quát chung vai trò và ý nghĩa của hợp đồng cộng đồng là rất khó khăn. Tuy nhiên, nhận định trên cũng cho thấy dường như hợp đồng cộng đồng có gì đó chưa thỏa đáng lắm về mặt pháp lý. Trên thực tế, không phải bất cứ thành viên nào trong cộng đồng cũng đồng ý với hợp đồng cộng đồng được giao kết, nhưng hợp đồng vẫn có hiệu lực ràng buộc đối với họ. Đây là điểm trái với học thuyết tự do ý chí, có nghĩa là hợp đồng ảnh hưởng tới lợi ích của người không giao kết hợp đồng ngay cả khi họ phản đối. Chẳng hạn thỏa ước lao động tập thể được ký kết giữa đại diện tập thể lao động với người sử dụng lao động có hiệu lực đối với toàn thể những người lao động. Có quan niệm cho rằng, thỏa ước lao động tập thể là loại hợp đồng có tính cách lập quy tạo ra quy chế chung cho toàn thể lao động nằm ở ranh giới giữa luật công và luật tư, do đó ý chí của cá nhân không thể thay đổi được[8].

3. Hiệu lực của hợp đồng cộng đồng

Hợp đồng cộng đồng có tính chất chung về phương diện hiệu lực như trên đã nghiên cứu là một ngoại lệ của nguyên tắc hiệu lực tương đối của hợp đồng. Nhưng tùy từng loại hợp đồng cộng đồng mà hiệu lực của chúng có sự khác biệt nhất định. Đối với thỏa ước lao động tập thể, mọi thành viên trong cộng đồng đó phải tuân thủ. Pháp luật thường có quy định thời hạn có hiệu lực của thỏa ước lao động tập thể, quy định về hiệu lực của thỏa ước lao động tập thể đối với người lao động vào làm việc sau hay trước khi thỏa ước lao động tập thể có hiệu lực, mối quan hệ giữa hợp đồng lao động với thỏa ước lao động tập thể, về trường hợp chấm dứt doanh nghiệp, chia, tách hay sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp và trường hợp có tranh chấp xảy ra. Nghị quyết hội đồng trong pháp nhân và nghị quyết của hội nghị chủ nợ là các loại hợp đồng cộng đồng được giao kết giữa các thành viên trong cùng một cộng đồng đối với nhau. Do đó việc quy định cụ thể về phương diện hiệu lực không được chú ý nhiều. Thông thường pháp luật chú ý hơn tới một khía cạnh liên quan tới hiệu lực của hai loại hợp đồng này là bảo vệ người yếu thế trong giao kết hợp đồng, cụ thể là người ít vốn trong công ty và chủ nợ có khoản nợ nhỏ. Nếu các hợp đồng này đáp ứng đủ các điều kiện có hiệu lực thì mọi thành viên của nó đều phải tuân thủ. Thế nhưng, để bảo đảm nguyên tắc bình đẳng và bảo vệ người yếu thế, pháp luật thường cho phép những người này yêu cầu xem xét lại nghị quyết hay hợp đồng với các thủ tục nhất định. Vấn đề có tính chất đặc thù ở đây là các hợp đồng này có hiệu lực đối với cả những người ngoài cộng đồng đó. Nghị quyết hội đồng trong pháp nhân có hiệu lực đối với tất cả các cơ quan của pháp nhân (nếu là nghị quyết của đại hội đồng cổ đông và nghị quyết của hội đồng thành viên) và những nhân viên có liên quan của pháp nhân. Nghị quyết của hội nghị chủ nợ có hiệu lực đối với cả con nợ đang bị mở thủ tục phá sản, tòa án giải quyết vụ việc phá sản, quản tài viên và doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản.

Hiệu lực cụ thể của hợp đồng cộng đồng khó có thể quy định trong một văn bản quy phạm pháp luật vì tính phong phú nó. Vì vậy, người ta thường quy định hiệu lực của từng loại hợp đồng cộng đồng trong các văn bản tương ứng với loại hợp đồng cộng đồng đó.

ThS. Nguyễn Thị Thanh Thảo

Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân 1

Tài liệu tham khảo:

[1]. Corinne Renault-Brahinsky, Đại cương về pháp luật hợp đồng, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2002, tr. 26.

[2]. John E. C. Brierley, Roderick A. Macdonald, Quebec Civil Law- An Introduction to Quebec Private Law, Emond Montgomery Publications Limited, Toronto, Canada, 1993, p. 398.

[3]. Ngô Huy Cương, Giáo trình luật hợp đồng phần chung (Dùng cho đào tạo sau đại học), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013, tr. 24.

[4]. Vũ Văn Mẫu, Việt Nam Dân Luật luợc khảo, Quyển II - Nghĩa vụ và khế ước, Phần thứ nhất - Nguồn gốc của nghĩa vụ, In lần thứ nhất, Sài Gòn, 1963, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, tr. 70.

[5]. Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật hợp đồng phần chung (dùng cho đào tạo sau đại học), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013, tr. 35.

[6]. Corinne Renault-Brahinsky, Đại cương về pháp luật hợp đồng, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2002, tr. 26.

[7]. Trần Đình Hảo, “Chương 1- Khái niệm luật dân sự Việt Nam” (tr. 17 - 84), Giáo trình luật dân sự, Học viện Tư pháp, Nxb. Công an Nhân dân, Hà Nội, 2007, tr. 136.

[8]. Vũ Văn Mẫu, Việt Nam Dân Luật luợc khảo, Quyển II - Nghĩa vụ và khế ước, Phần thứ nhất - Nguồn gốc của nghĩa vụ, In lần thứ nhất, Sài Gòn, 1963, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, tr. 246.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.

Theo dõi chúng tôi trên: