Thứ bảy 14/03/2026 14:26
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Khái niệm và đặc trưng của hợp đồng cộng đồng

Tóm tắt: Hợp đồng cộng đồng còn được gọi là hợp đồng tập thể được giao kết giữa một nhóm cá nhân hay tổ chức, có hiệu lực áp dụng đối với tất cả các thành viên trong nhóm, cho dù từng thành viên này không phải là bên giao kết trực tiếp hợp đồng, đôi khi còn có hiệu lực áp dụng đối với cả những người không phải là thành viên trong nhóm (ví dụ thỏa ước lao động tập thể). Bài viết này tập trung phân tích để làm rõ hơn khái niệm và những đặc trưng cơ bản của hợp đồng cộng đồng dưới giác độ pháp lý.

Abstract: Community contract - also called as collective contract - is entered between a group of inpiduals or organizations, having effect to all group members although each member is not a direct signing party of the contract. It may sometimes have applying effect to non-members of the group (e.g. collective labor contract). The article concentrates on analysis to more clearly bring out the concept and fundamental characteristics of community contract from the legal aspect.

1. Khái niệm hợp đồng cộng đồng

Hợp đồng cộng đồng còn được gọi là hợp đồng tập thể (collective contract). Khi phân loại hợp đồng, về mặt học thuật, người ta thường nhắc đến cặp phân loại là hợp đồng cá nhân và hợp đồng cộng đồng. Cách phân loại như vậy làm nổi bật đặc trưng quan trọng của hợp đồng cộng đồng về phương diện chủ thể giao kết, sự biểu lộ ý chí và nhất là về hiệu lực của hợp đồng.

Nếu hợp đồng cá nhân được hiểu là loại hợp đồng do các cá nhân hay pháp nhân đơn lẻ giao kết với nhau và chỉ có hiệu lực áp dụng giới hạn đối với các bên giao kết đó[1], thì hợp đồng cộng đồng có hiệu lực đối với cả những người không tham gia giao kết, ngay cả đối với những người phản đối các điều kiện của hợp đồng. Vì vậy, hợp đồng cá nhân và hợp đồng cộng đồng rất khác nhau về phương diện hiệu lực. Hợp đồng cộng đồng đã đi ra ngoài khuôn khổ của nguyên tắc hiệu lực tương đối của hợp đồng. Có nhiều nhà phê bình cho rằng hợp đồng cộng đồng không thể là một phần của lý thuyết chung về hợp đồng[2].

Học thuyết về tự do ý chí được xem xét trên nhiều phương diện khác nhau: Về phương diện triết học, học thuyết này cho rằng, không ai có thể bị ép buộc làm hay không làm điều gì mà họ không muốn; về phương diện đạo đức, học thuyết này cho rằng, không ai có thể bị ép buộc làm hay không làm điều gì mà không xuất phát từ lợi ích của họ; còn về phương diện kinh tế, học thuyết cho rằng, con người cần được đề cao lợi ích cá nhân để thúc đẩy sự phát triển của xã hội[3]. Nếu căn cứ vào nền tảng triết học quan trọng này của hành vi pháp lý nói chung và của hợp đồng nói riêng, có thể thấy, hợp đồng cộng đồng đã phần nào đi ra ngoài nền tảng triết học. Tuy nhiên, một học thuyết không thể bao quát tất cả. Sự phát triển của xã hội khiến nhiều nhà lập pháp thừa nhận các hợp đồng cộng đồng nhằm mục đích tránh xung đột xã hội[4]. PGS. TS Ngô Huy Cương nhấn mạnh ý nghĩa thực sự của tự do ý chí trong đời sống xã hội hiện đại như sau: “Có lẽ tự do ý chí có một giá trị nổi bật là hạn chế sự can thiệp của chính quyền vào tự do của công dân, bên cạnh những giá trị quan trọng khác. Ý tưởng tự do ý chí ra đời thực sự nhằm tới mục tiêu mở rộng tối đa các quyền tự do đối với tài sản và các lợi ích của tư nhân và thu hẹp tối đa sự can thiệp của chính quyền vào khu vực tư nhân”[5]. Như vậy, học thuyết tự do ý chí không thể giải quyết được toàn bộ các vấn đề của hợp đồng trong một xã hội hiện đại. Có lẽ bởi lý do đó, bên cạnh nguyên tắc tự do hợp đồng, các nền tài phán còn đưa các nguyên tắc khác vào các đạo luật trong lĩnh vực luật tư như nguyên tắc thiện chí, nguyên tắc áp dụng tập quán và thói quen ứng xử. Bộ luật Dân sự năm 2015 đã đề cập tới nhiều nguyên tắc khác liên quan tới bảo vệ trật tự công và đạo đức xã hội (Điều 3). Các ngoại lệ mà hợp đồng cộng đồng chứa đựng thực sự đòi hỏi pháp luật phải có quy định rõ ràng hơn về loại hợp đồng này. Có thể giải nghĩa khái niệm hợp đồng cộng đồng (hay hợp đồng tập thể) mang tính tham khảo như sau: “Hợp đồng tập thể là loại hợp đồng được giao kết giữa một nhóm cá nhân hay tổ chức, có hiệu lực áp dụng đối với tất cả các thành viên trong nhóm, cho dù từng thành viên này không phải là bên giao kết trực tiếp hợp đồng, đôi khi còn có hiệu lực áp dụng đối với cả những người không phải là thành viên trong nhóm (ví dụ thỏa ước lao động tập thể)6.

Từ các nghiên cứu ở trên, có thể thấy: (i) Hợp đồng cộng đồng liên quan đến nhiều người trong một hoặc nhiều cộng đồng nhất định; (ii) Hợp đồng cộng đồng có hiệu lực đối với tất cả các thành viên trong một hoặc nhiều cộng đồng nhất định có liên quan, thậm chí có hiệu lực đối với cả những thành viên khác ngoài cộng đồng hoặc các cộng đồng đó; (iii) Yếu tố ý chí của các thành viên bị hợp đồng ràng buộc không phải là yếu tố cần thiết và được xem xét; (iv) Người trực tiếp giao kết nhân danh cộng đồng hoặc các cộng đồng.

Như vậy, hợp đồng cộng đồng có nhiều điểm khác biệt với những loại hợp đồng truyền thống khác mà khiến cho lý thuyết chung cho hợp đồng không thể bao quát. Vấn đề này lý giải cho lý do tại sao các Bộ luật Dân sự được ban hành ở thế kỷ XIX không đề cập tới phân loại hợp đồng cộng đồng. Ngày nay, hợp đồng cộng đồng có ý nghĩa kinh tế, xã hội rất lớn khiến cho người ta không thể bỏ qua nó. Chẳng hạn, ở Việt Nam hiện nay, mặc dù Bộ luật Dân sự năm 2015 không đề cập tới hợp đồng cộng đồng, nhưng các đạo luật như Bộ luật Lao động năm 2012, Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Phá sản năm 2014 đều có các quy định chi tiết về hợp đồng cộng đồng.

2. Phân loại hợp đồng cộng đồng

Nghiên cứu ở trên cho thấy, có nhiều sự thống nhất ý chí nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một quan hệ pháp luật nào đó mà có hiệu lực hay ràng buộc ngay cả với những người không giao kết, thậm chí phản đối sự thống nhất ý chí đó (chẳng hạn như nghị quyết của đại hội đồng cổ đông công ty cổ phần, thỏa ước lao động tập thể). Thế nhưng, những sự thống nhất ý chí như vậy lại là cần thiết cho sự phát triển kinh tế, xã hội. Do đó pháp luật vẫn duy trì và kiểm soát chúng. Và khoa học pháp lý gọi đó là hợp đồng cộng đồng. Hợp đồng cộng đồng có thể được chia thành hai loại căn cứ vào hướng biểu lộ ý chí: Một là, hợp đồng giao kết giữa một bên nhân danh một hoặc nhiều cộng đồng với một hoặc nhiều bên khác mà có thể là một cá nhân, một thực thể khác hay một cộng đồng; hai là, hợp đồng giao kết giữa những người trong cùng một cộng đồng. Loại thứ nhất thường thấy trong thỏa ước lao động tập thể. Loại thứ hai thường thấy là nghị quyết của hội đồng, ví dụ như nghị quyết của đại hội đồng cổ đông công ty cổ phần và nghị quyết của hội nghị chủ nợ trong trường hợp thương nhân bị phá sản.

Trong loại hợp đồng cộng đồng thứ nhất, các bên biểu lộ ý chí đối lập nhau bởi họ trao đổi lợi ích với nhau (nói đơn giản quyền và nghĩa vụ của các bên tương ứng với nhau). Trong loại hợp đồng cộng đồng thứ hai, các bên biểu lộ ý chí đồng hướng với nhau (tuy nhiên có thể ảnh hưởng phần nào tới lợi ích của nhau). Khi nghiên cứu về sự biểu lộ ý chí, có quan điểm cho rằng, trong hợp đồng thông thường hay truyền thống phải có sự biểu lộ ý chí ngược chiều nhau và hướng tới nhau chứ không có sự biểu lộ ý chí của các bên về cùng một đích[7]. Nhận xét này chưa thỏa đáng đối với các loại hợp đồng truyền thống như hợp đồng hôn nhân, hợp đồng lập hội, hương ước… Không thể căn cứ vào hướng biểu lộ ý chí để xác định tính truyền thống hay tính hiện đại của các loại hợp đồng. Thỏa ước lao động tập thể được giao kết giữa cộng đồng người lao động với chủ sử dụng lao động có hướng biểu lộ ý chí ngược chiều nhau và hướng tới nhau giữa hai bên. Song loại hợp đồng này không thể xem là loại hợp đồng truyền thống. Trong khi hợp đồng hôn nhân luôn luôn được xem là loại hợp đồng mà hai bên nam, nữ biểu lộ ý chí đồng hướng nhắm tới mục đích chung sống và duy trì nòi giống. Nghị quyết của đại hội đồng cổ đông công ty cổ phần được giao kết giữa các thành viên của công ty với nhau nhằm một hoặc một số công việc hay mục đích cụ thể. Như vậy, xét về hình thức, họ luôn luôn biểu lộ ý chí đồng hướng. Tuy nhiên, xét cụ thể trong từng nội dung, trong từng trường hợp cụ thể, có thể có sự xung đột quyền lợi. Do đó, việc bảo vệ cổ đông thiểu số được đặt ra. Các phân tích này cho thấy, việc phân loại hợp đồng cộng đồng căn cứ vào hướng biểu lộ ý chí chỉ là một thủ pháp để tách các loại hợp đồng cộng đồng ra để nghiên cứu chứ ít có ý nghĩa về nội dung pháp lý.

Xét từ các cách phân loại khác có thể thấy:

(i) Thỏa ước lao động tập thể là hợp đồng hữu danh, hợp đồng thương lượng, hợp đồng song vụ, hợp đồng có đền bù, hợp đồng trọng hình thức, hợp đồng chắc chắn, hợp đồng kéo dài, hợp đồng vì người thứ ba. Hợp đồng hữu danh bởi thỏa ước lao động tập thể được pháp luật quy định một cách rõ ràng và có tên gọi. Hợp đồng thương lượng bởi các bên giao kết có thể thỏa thuận với nhau về các điều kiện của hợp đồng. Hợp đồng song vụ bởi các bên giao kết đều có nghĩa vụ và quyền lợi đối với nhau. Hợp đồng có đền bù bởi mỗi bên đều chịu thiệt để đổi lấy lợi ích từ bên kia. Là hợp đồng trọng hình thức bởi nó phải giao kết theo một trình tự thủ tục do luật định và bằng văn bản. Là hợp đồng chắc chắn bởi nó có hiệu lực khi các bên thỏa thuận thành. Là hợp đồng kéo dài bởi nó được thực hiện trong một khoảng thời gian dài. Là hợp đồng vì người thứ ba bởi nó là ngoại lệ của nguyên tắc hiệu lực tương đối của hợp đồng và có hiệu lực cả với những người không trực tiếp giao kết hợp đồng.

(ii) Nghị quyết của hội đồng (nghị quyết của đại hội đồng cổ đông công ty cổ phần, nghị quyết của hội đồng thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, nghị quyết của hội nghị chủ nợ của thương nhân bị phá sản…) là hợp đồng hữu danh, hợp đồng trọng hình thức, hợp đồng hiệp ý, hợp đồng chắc chắn, hợp đồng kéo dài, hợp đồng vì người thứ ba. Các đặc điểm của nghị quyết hội đồng giống với thỏa ước lao động tập thể, trừ đặc điểm là hợp đồng thương lượng, hợp đồng song vụ, hợp đồng có đền bù, hợp đồng trọng hình thức, hợp đồng chắc chắn, hợp đồng kéo dài, có nghĩa là loại hợp đồng này không thể có các đặc điểm đặc thù của hợp đồng có ý chí ngược hướng và đối với nhau như thỏa ước lao động tập thể.

Hợp đồng cộng đồng ngày nay có khuynh hướng gia tăng do hoàn cảnh của thế giới thay đổi. Điều đó có nghĩa là việc thừa nhận và điều chỉnh hợp đồng cộng đồng có ý nghĩa xã hội rất lớn. Mỗi loại hợp đồng cộng đồng trong mỗi lĩnh vực pháp luật có một vai trò và ý nghĩa riêng. Do đó, việc khái quát chung vai trò và ý nghĩa của hợp đồng cộng đồng là rất khó khăn. Tuy nhiên, nhận định trên cũng cho thấy dường như hợp đồng cộng đồng có gì đó chưa thỏa đáng lắm về mặt pháp lý. Trên thực tế, không phải bất cứ thành viên nào trong cộng đồng cũng đồng ý với hợp đồng cộng đồng được giao kết, nhưng hợp đồng vẫn có hiệu lực ràng buộc đối với họ. Đây là điểm trái với học thuyết tự do ý chí, có nghĩa là hợp đồng ảnh hưởng tới lợi ích của người không giao kết hợp đồng ngay cả khi họ phản đối. Chẳng hạn thỏa ước lao động tập thể được ký kết giữa đại diện tập thể lao động với người sử dụng lao động có hiệu lực đối với toàn thể những người lao động. Có quan niệm cho rằng, thỏa ước lao động tập thể là loại hợp đồng có tính cách lập quy tạo ra quy chế chung cho toàn thể lao động nằm ở ranh giới giữa luật công và luật tư, do đó ý chí của cá nhân không thể thay đổi được[8].

3. Hiệu lực của hợp đồng cộng đồng

Hợp đồng cộng đồng có tính chất chung về phương diện hiệu lực như trên đã nghiên cứu là một ngoại lệ của nguyên tắc hiệu lực tương đối của hợp đồng. Nhưng tùy từng loại hợp đồng cộng đồng mà hiệu lực của chúng có sự khác biệt nhất định. Đối với thỏa ước lao động tập thể, mọi thành viên trong cộng đồng đó phải tuân thủ. Pháp luật thường có quy định thời hạn có hiệu lực của thỏa ước lao động tập thể, quy định về hiệu lực của thỏa ước lao động tập thể đối với người lao động vào làm việc sau hay trước khi thỏa ước lao động tập thể có hiệu lực, mối quan hệ giữa hợp đồng lao động với thỏa ước lao động tập thể, về trường hợp chấm dứt doanh nghiệp, chia, tách hay sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp và trường hợp có tranh chấp xảy ra. Nghị quyết hội đồng trong pháp nhân và nghị quyết của hội nghị chủ nợ là các loại hợp đồng cộng đồng được giao kết giữa các thành viên trong cùng một cộng đồng đối với nhau. Do đó việc quy định cụ thể về phương diện hiệu lực không được chú ý nhiều. Thông thường pháp luật chú ý hơn tới một khía cạnh liên quan tới hiệu lực của hai loại hợp đồng này là bảo vệ người yếu thế trong giao kết hợp đồng, cụ thể là người ít vốn trong công ty và chủ nợ có khoản nợ nhỏ. Nếu các hợp đồng này đáp ứng đủ các điều kiện có hiệu lực thì mọi thành viên của nó đều phải tuân thủ. Thế nhưng, để bảo đảm nguyên tắc bình đẳng và bảo vệ người yếu thế, pháp luật thường cho phép những người này yêu cầu xem xét lại nghị quyết hay hợp đồng với các thủ tục nhất định. Vấn đề có tính chất đặc thù ở đây là các hợp đồng này có hiệu lực đối với cả những người ngoài cộng đồng đó. Nghị quyết hội đồng trong pháp nhân có hiệu lực đối với tất cả các cơ quan của pháp nhân (nếu là nghị quyết của đại hội đồng cổ đông và nghị quyết của hội đồng thành viên) và những nhân viên có liên quan của pháp nhân. Nghị quyết của hội nghị chủ nợ có hiệu lực đối với cả con nợ đang bị mở thủ tục phá sản, tòa án giải quyết vụ việc phá sản, quản tài viên và doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản.

Hiệu lực cụ thể của hợp đồng cộng đồng khó có thể quy định trong một văn bản quy phạm pháp luật vì tính phong phú nó. Vì vậy, người ta thường quy định hiệu lực của từng loại hợp đồng cộng đồng trong các văn bản tương ứng với loại hợp đồng cộng đồng đó.

ThS. Nguyễn Thị Thanh Thảo

Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân 1

Tài liệu tham khảo:

[1]. Corinne Renault-Brahinsky, Đại cương về pháp luật hợp đồng, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2002, tr. 26.

[2]. John E. C. Brierley, Roderick A. Macdonald, Quebec Civil Law- An Introduction to Quebec Private Law, Emond Montgomery Publications Limited, Toronto, Canada, 1993, p. 398.

[3]. Ngô Huy Cương, Giáo trình luật hợp đồng phần chung (Dùng cho đào tạo sau đại học), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013, tr. 24.

[4]. Vũ Văn Mẫu, Việt Nam Dân Luật luợc khảo, Quyển II - Nghĩa vụ và khế ước, Phần thứ nhất - Nguồn gốc của nghĩa vụ, In lần thứ nhất, Sài Gòn, 1963, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, tr. 70.

[5]. Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật hợp đồng phần chung (dùng cho đào tạo sau đại học), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013, tr. 35.

[6]. Corinne Renault-Brahinsky, Đại cương về pháp luật hợp đồng, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2002, tr. 26.

[7]. Trần Đình Hảo, “Chương 1- Khái niệm luật dân sự Việt Nam” (tr. 17 - 84), Giáo trình luật dân sự, Học viện Tư pháp, Nxb. Công an Nhân dân, Hà Nội, 2007, tr. 136.

[8]. Vũ Văn Mẫu, Việt Nam Dân Luật luợc khảo, Quyển II - Nghĩa vụ và khế ước, Phần thứ nhất - Nguồn gốc của nghĩa vụ, In lần thứ nhất, Sài Gòn, 1963, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, tr. 246.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: