Thứ bảy 30/05/2026 18:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kinh nghiệm đánh giá hiệu quả hoạt động khu vực công ở Hàn Quốc và một số gợi mở đối với Việt Nam

Trong phạm vi bài viết, tác giả đề cập khái quát công cuộc cải cách hành chính ở Hàn Quốc và sự ra đời của hệ thống đánh giá hiệu quả khu vực công, các phương thức đánh giá hoạt động của chính quyền, những ưu nhược điểm của các phương thức đánh giá này và có một số gợi mở cho Việt Nam trong việc xây dựng cơ chế đánh giá hiệu quả hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước.

Sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997, Hàn Quốc phải thừa nhận sự lạc hậu trong các phương thức điều hành bộ máy nhà nước. Từ đó, Hàn Quốc nhanh chóng xây dựng chương trình cải cách khu vực công trên cơ sở học hỏi kinh nghiệm một số quốc gia khác. Đặc biệt, một hệ thống tiêu chí và đánh giá cải cách với mục đích nâng cao hiệu quả, tính hiệu lực và trách nhiệm giải trình trong quản trị nhà nước đã được xây dựng, với dấu mốc quan trọng là sự ra đời của Đạo luật về đánh giá hoạt động của chính quyền năm 2001. Đến nay, Đạo luật khung về đánh giá hoạt động của chính quyền năm 2006 (gọi tắt là Đạo luật khung) quy định các nội dung cụ thể về hệ thống đánh giá, đã qua một số lần sửa đổi mà gần đây nhất vào năm 2017, nhưng các nội dung cơ bản vẫn được duy trì.

1. Khái quát cải cách hành chính ở Hàn Quốc và sự ra đời của hệ thống đánh giá hiệu quả khu vực công

Sau chiến tranh Triều Tiên, Hàn Quốc là một trong những quốc gia nghèo trên thế giới. Tuy nhiên, chỉ sau hơn 40 năm, Hàn Quốc đã phát triển “ngoạn mục”, trở thành một trong “bốn con hổ châu Á”. Mặc dù vậy, năm 1997, Hàn Quốc đã rơi vào tình trạng khủng hoảng tài chính hết sức tồi tệ. Quỹ Tiền tệ quốc tế IMF đã chi một khoản tiền lớn nhất trong số các khoản tiền mà IMF đã từng giúp đỡ các nước để giúp Hàn Quốc vượt qua khủng hoảng này, đi kèm điều kiện Chính phủ nước này phải tiến hành những cải cách mạnh mẽ về chính sách phát triển kinh tế và cải cách nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực công[1].

Chính cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 cũng buộc Hàn Quốc phải thừa nhận sự lạc hậu trong các phương thức điều hành bộ máy nhà nước. Từ đó, Hàn Quốc nhanh chóng xây dựng chương trình cải cách khu vực công trên cơ sở học hỏi kinh nghiệm một số quốc gia khác. Đặc biệt, một hệ thống tiêu chí và đánh giá cải cách với mục đích nâng cao hiệu quả, tính hiệu lực và trách nhiệm giải trình trong quản trị nhà nước đã được xây dựng, với dấu mốc quan trọng là sự ra đời của Đạo luật về đánh giá hoạt động của chính quyền năm 2001. Tuy nhiên, hệ thống này thực chất đã manh nha xuất hiện từ Hệ thống Đánh giá chương trình và chính sách năm 1961. Trên cơ sở đó, cùng việc kế thừa kinh nghiệm của Đạo luật về kết quả và hoạt động của Chính phủ Hoa Kỳ năm 1993, hệ thống đánh giá này ngày một phát triển. Đến nay, Đạo luật khung về đánh giá hoạt động của chính quyền năm 2006 (Đạo luật khung) quy định các nội dung cụ thể về hệ thống đánh giá, đã qua một số lần sửa đổi mà gần đây nhất vào năm 2017, nhưng các nội dung cơ bản vẫn được duy trì.

Trong Đạo luật khung, nhà làm luật đã đưa ra khái niệm “đánh giá hoạt động của chính quyền”, là hoạt động đánh giá các chính sách, chương trình hoạt động… của các cơ quan hành chính trung ương[2], các cơ quan hành chính địa phương và các thiết chế công, nhằm đảm bảo hiệu quả, tính hiệu lực và trách nhiệm giải trình trong quản trị nhà nước. Việc đánh giá phải bảo đảm tính tự trị và độc lập, công khai, minh bạch, những phương pháp khách quan được áp dụng trong đánh giá để bảo đảm kết quả công bằng và tin cậy. Trong phạm vi bài viết này, các tác giả sẽ đề cập tới hai phương thức đánh giá hoạt động của chính quyền phổ biến nhất: tự đánh giá và đánh giá riêng biệt của cơ quan trung ương.

2. Các phương thức đánh giá hoạt động phổ biến

Như đã đề cập, hai phương thức tự đánh giá và đánh giá riêng biệt là phổ biến nhất trong hoạt động đánh giá khu vực công ở Hàn Quốc, trong đó:

- Tự đánh giá (internal evaluation/self-evaluation) là hoạt động đánh giá bắt buộc được tiến hành bởi các cơ quan nhà nước trung ương (cơ quan cấp bộ), mà cụ thể là các ủy ban đánh giá thuộc các cơ quan này. Trong khi đó, đánh giá riêng biệt (specific evaluation) là công cụ bổ sung cho hoạt động tự đánh giá, được thực hiện bởi Ủy ban chuyên phụ trách việc đánh giá hoạt động của chính quyền (gọi tắt là UBCT) cùng với Văn phòng Thủ tướng (gọi tắt là VPTT).

- Tự đánh giá tập trung vào các hoạt động liên quan tới chính sách và chương trình ngắn hạn (hàng năm), còn đánh giá riêng biệt quan tâm tới các hoạt động của từng cơ quan riêng biệt, các chiến lược từ trung đến dài hạn (chương trình kế hoạch chiến lược tổng thể) có liên quan trực tiếp tới các chính sách chủ chốt của quốc gia.

Theo Đạo luật khung, người đứng đầu cơ quan cấp bộ chịu trách nhiệm xây dựng chương trình, kế hoạch chiến lược tổng thể nhằm đáp ứng các mục tiêu chiến lược của cơ quan nhà nước và kế hoạch hoạt động hàng năm, gồm các nghĩa vụ, mục tiêu hoạt động hàng năm, chỉ số hoạt động hàng năm và kết quả hoạt động tài chính của 03 năm trở về trước[3].

Các cơ quan nhận hướng dẫn về hoạt động hàng năm từ UBCT vào tháng 01. Sau đó, mỗi cơ quan phải chuẩn bị và nộp bản kế hoạch hoạt động hàng năm cho UBCT. Kế hoạch này sẽ được UBCT và VPTT xem xét, đánh giá, có thể có đề xuất sửa đổi, bổ sung và sẽ tiếp tục được hoàn thiện bởi chính các cơ quan xây dựng nó. Sau giai đoạn này là những phát triển của các kế hoạch tự đánh giá của các cơ quan và đánh giá riêng biệt của UBCT.

Một là, tự đánh giá của các cơ quan cấp bộ

Theo khoản 2 Điều 2 Đạo luật khung, tự đánh giá được thực hiện bởi cơ quan cấp bộ, liên quan tới chính sách của chính các cơ quan này, với mục đích nâng cao chất lượng và trách nhiệm giải trình của việc điều hành chính quyền, tập trung vào 03 lĩnh vực: (i) các chính sách chủ chốt; (ii) các dự án tài chính (ngân sách); (iii) năng lực tổ chức (về các khía cạnh như quản trị nhân sự, quản lý tổ chức, hoạt động tài chính, mức độ thông tin, công bố/tiết lộ thông tin và quản trị sự thay đổi).

Các lĩnh vực được đánh giá cơ bản nói trên vẫn được giữ nguyên, nhưng cách phân loại và tên gọi có thể được điều chỉnh qua mỗi năm tùy thuộc vào tình hình cấp thiết của chính quyền. Ví dụ, năm 2015, việc tự đánh giá tập trung vào các lĩnh vực: Các chính sách quan trọng, dự án tài chính, dự án nghiên cứu và phát triển và năng lực quản lý hành chính. Đến năm 2016, những lĩnh vực được đánh giá là: Các chính sách quan trọng, dự án tài chính tổng hợp và năng lực quản lý hành chính[4].

Theo quy định, mỗi cơ quan cấp bộ phải tự mình xác định kế hoạch, mục tiêu hoạt động, trên cơ sở hướng dẫn tự đánh giá đã nhận từ UBCT và chương trình kế hoạch chiến lược của cơ quan đó[5]. Sau đó, cơ quan này cũng tự mình thực hiện việc đánh giá hàng năm. Người đứng đầu mỗi cơ quan cấp bộ được giao nhiệm vụ thiết lập và quản lý một ủy ban tự đánh giá[6] để giám sát quy trình đánh giá. Mặc dù các cơ quan phải tự mình lựa chọn kế hoạch, mục tiêu và cơ chế thực hiện hoạt động tự đánh giá, nhưng về cơ bản, việc tự đánh giá vẫn tuân theo một quy trình chung:

Các cơ quan cấp bộ tự mình xác định vấn đề cần đánh giá và xây dựng kế hoạch tự đánh giá, nộp cho UBCT vào tháng 4 hàng năm. Các ủy ban tự đánh giá sẽ tiến hành tự đánh giá vào đầu tháng 7, theo dõi và lấy ý kiến từ tháng 8 đến tháng 11. Đến cuối tháng 3 năm tiếp theo, người đứng đầu cơ quan cấp bộ cùng các ủy ban tự đánh giá phải báo cáo kết quả cho UBCT. Sau khi UBCT cân nhắc và quyết định, Báo cáo kết quả tự đánh giá sẽ được gửi tới VPTT và Nội các. Đặc biệt, việc đánh giá lại có thể được VPTT tiến hành nếu như nhận thấy có sự thiếu khách quan, thiếu tin cậy trong đó. Báo cáo tiếp đó sẽ được nộp để UBCT xem xét, chấp thuận. Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy hệ thống tự đánh giá của Hàn Quốc được thiết lập tương tự như trong Đạo luật về kết quả và hoạt động của Chính phủ Hoa Kỳ, đây là việc học hỏi kinh nghiệm của Hàn Quốc trong quá trình xây dựng phương thức đánh giá này.

Trong quá trình tự đánh giá, những người đứng đầu cơ quan cấp bộ phải thực hiện một chuỗi nhiệm vụ: Vừa tổ chức thực hành tự đánh giá, vừa chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch, xem xét các chính sách có vướng mắc gì, đồng thời tiến hành các biện pháp tự nguyện sửa chữa khi những đánh giá phát hiện vấn đề[7]. Không những vậy, người này còn có trách nhiệm phân tích kết quả đánh giá trên các lĩnh vực tổ chức hoạt động, ngân sách, nhân sự và bồi thường, trong đó bao gồm cả kết quả đánh giá của năm trước để giúp cho việc cân nhắc với ngân sách năm tiếp theo. Như vậy, vai trò của người đứng đầu các cơ quan cấp bộ trong quá trình trên vô cùng quan trọng, trách nhiệm của họ khá nặng nề.

Hai là, đánh giá riêng biệt

Đánh giá riêng biệt (specific evaluation) là đánh giá của Thủ tướng Chính phủ đối với các chính sách của cơ quan cấp bộ mà cần thiết cho việc quản lý tích hợp của nền hành chính quốc gia[8]. Như vậy, đánh giá này phục vụ việc điều chỉnh các chính sách quan trọng và năng lực tổ chức hành chính của các cơ quan, quản lý các vấn đề quốc gia dưới sự hướng dẫn của Thủ tướng.

Hầu hết các cơ quan cấp bộ đều chịu sự điều chỉnh của các đánh giá riêng biệt. Những lĩnh vực chủ chốt của việc đánh giá riêng biệt thường xuyên thay đổi theo thời gian, phụ thuộc vào sự quan tâm của mỗi chính quyền dưới thời các Tổng thống khác nhau, tuy nhiên đều là những lĩnh vực liên quan tới chiến lược dài hạn[9]. Thẩm quyền đánh giá được trao rộng rãi cho VPTT cùng 05 nhóm các cơ quan cấp bộ giám sát. Ngoài ra, để việc đánh giá đạt hiệu quả, trong những hoạt động đầu tiên, UBCT còn thành lập các tiểu ban đánh giá[10] đối với từng lĩnh vực, ngoại trừ lĩnh vực “Công khai chính sách”[11].

Việc đánh giá riêng biệt bao gồm 02 loại: Đánh giá trung hạn (tháng 6) và đánh giá tổng kết (tháng 12) hàng năm. Thủ tướng, đồng Chủ tịch của UBCT, sẽ thảo luận về kết quả đánh giá với những người đứng đầu cơ quan cấp bộ. Sau đó, Thủ tướng đánh giá và trình bày báo cáo này với Nội các vào cuối năm. Những phản hồi sẽ được sử dụng cho việc cải thiện chính sách, xây dựng ngân sách và quản lý các tổ chức, quản lý công chức. Kết quả đánh giá cũng được Bộ Chiến lược và tài chính sử dụng để cân nhắc việc cắt giảm hay tăng thêm ngân sách. Ngoài ra, trong hoạt động đánh giá riêng biệt, Thủ tướng được giao nhiệm vụ công bố kết quả đánh giá thông qua các phương tiện thông tin như Internet.

Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy, việc đánh giá riêng biệt này dường như thống nhất hơn, tập trung hơn so với tự đánh giá, bởi UBCT là cơ quan trực tiếp chịu trách nhiệm xây dựng các thủ tục đánh giá riêng biệt và bộ chỉ số đánh giá riêng biệt, từ đó, tránh được việc thiếu thống nhất, rời rạc như trong phương thức tự đánh giá.

3. Một số nhận xét

Hệ thống đánh giá hoạt động của chính quyền tại Hàn Quốc có một số ưu điểm nổi bật sau:

Thứ nhất, việc thường xuyên xây dựng báo cáo, kế hoạch đã giúp các cơ quan cấp Bộ quen với việc lên kế hoạch chiến lược dài hạn và kế hoạch hàng năm. Quan trọng nhất, các cơ quan này còn có thể tiến hành những biện pháp phòng ngừa để cải thiện chất lượng của chính sách[12]. Việc này đóng góp quan trọng vào việc cải thiện chất lượng công việc của các cơ quan, khi họ phải chủ động tìm hướng giải quyết, khắc phục hạn chế trong công việc.

Thứ hai, thông qua hệ thống đánh giá, các công chức nhà nước cũng lĩnh hội được những kinh nghiệm quý giá trong việc lên kế hoạch làm việc cho chính bản thân họ và xác định cách thức phải làm để đạt được mục tiêu của mình. Nhờ vậy, công chức của chính quyền Hàn Quốc có thể có phương pháp để nâng cao chất lượng công việc của mình.

Thứ ba, phương thức đánh giá của cơ quan cấp bộ tại Hàn Quốc không những là một hệ thống đánh giá, mà còn được coi là khởi điểm của “các hoạt động mang tính khích lệ”. Việc tự đánh giá chính sách được liên kết với hệ thống quản lý hoạt động, qua đó, kết quả đánh giá được tự động phản ánh trong hoạt động của từng công chức riêng lẻ. Từ đây, chính quyền Hàn Quốc đã xây dựng nên những ý tưởng cải cách hành chính mới, một trong số đó là chế độ lương, thưởng dựa theo đánh giá chất lượng hoạt động của từng cá nhân, trái với cơ chế trả lương theo cấp bậc kiểu truyền thống. Ngoài ra, kết quả hoạt động của các cơ quan cũng là cơ sở để tính toán phân bổ ngân sách cho cơ quan này vào năm sau. Đồng thời, việc phản hồi thông tin và chế độ thưởng phạt minh bạch đã khuyến khích việc thực hiện các cam kết trong quá trình đánh giá…

Thứ tư, Đạo luật khung đặc biệt đã đề cập đến “hệ thống đánh giá điện tử tích hợp”, theo đó, các kế hoạch đánh giá chính quyền tích hợp với thông tin về việc thành lập, điều hành và nâng cao hệ thống đánh giá điện tử tích hợp. Điều này cho thấy Chính phủ Hàn Quốc đã tận dụng tối đa sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong việc đánh giá hoạt động của chính quyền nói riêng và cải cách hành chính công nói chung. Nhờ vậy, quy trình đánh giá được diễn ra nhanh gọn, hiệu quả, mang tính liên kết cao, tạo ra một phạm vi rộng lớn, đa dạng, với nhiều mục đích khác nhau.

Tuy vậy, hệ thống đánh giá hoạt động của chính quyền tại Hàn Quốc vẫn còn một số bất cập, chủ yếu là do tính riêng lẻ, chưa thật sự thống nhất và một số cơ quan, cá nhân lại có phần “đa nhiệm”, cụ thể:

Một là, hệ thống đánh giá hoạt động chính quyền của Hàn Quốc dường như đang “gồng mình” để bao quát tất cả các lĩnh vực của khu vực công. Hệ thống đánh giá không chỉ gồm việc đánh giá các lĩnh vực của cơ quan trung ương, mà còn cả của cơ quan địa phương và các thiết chế công với quá nhiều mục tiêu. Người đứng đầu các cơ quan cấp bộ phải thực hiện một chuỗi công việc trong hoạt động tự đánh giá. Điều này có thể dẫn đến sự quá tải trong hoạt động của các cơ quan này và vô hình trung khiến cho chất lượng của công việc không thực sự phát huy được hiệu quả cao nhất.

Hai là, tổ chức và hoạt động của UBCT còn hạn chế. Là tổ chức đi đầu trong hệ thống đánh giá, tuy nhiên, vai trò của UBCT lại chưa thực sự rõ ràng, khi việc giám sát đối với các đánh giá hoạt động riêng biệt lại được giao cho cơ quan khác. Những cơ quan giám sát này đang tiến hành các đánh giá một cách độc lập với UBCT, khiến cho UBCT gặp khó khăn trong việc điều phối các loại đánh giá riêng biệt.

Ngoài ra, UBCT thực chất lại hoạt động như một Hội nghị thảo luận và phải đối mặt với những hạn chế về nhân sự. UBCT chỉ gồm 14 thành viên, chỉ 03 trong số đó là cựu thành viên chính thức. Hơn nữa, những thành viên này không làm việc toàn thời gian mà chỉ tham gia các buổi hội nghị một lần mỗi tuần. Điều này có lẽ không đủ để giúp họ hiểu tổng thể quá trình của đánh giá hoạt động trên nhiều lĩnh vực. Nhiệm kỳ của họ cũng bị giới hạn trong hai năm, tuy nhiên, có thể được thêm một nhiệm kỳ tiếp theo. Mặc dù vậy, thực tế thì hầu hết các thành viên chỉ làm việc trong một nhiệm kỳ.

Ba là, một số hoạt động trong hệ thống đánh giá lại chưa thực sự liên kết, thống nhất. Hạn chế này thể hiện ở việc thiếu liên kết giữa các kế hoạch hàng năm với chiến lược dài hạn trên thực tế, giữa việc phân công các cơ quan thực hiện trong hoạt động tự đánh giá. Mỗi lĩnh vực được tiến hành bởi một cơ quan khác nhau, tuy nhiên, UBCT cùng với VPTT trực tiếp điều hành các hoạt động đánh giá một cách độc lập với nhân sự độc lập đối với các cơ quan này. Các cơ quan giám sát, ngoại trừ VPTT, cũng thực hiện các quy trình đánh giá, phương pháp đánh giá và hệ thống khen thưởng riêng...[13].

4. Một số gợi mở cho Việt Nam trong việc xây dựng cơ chế đánh giá hiệu quả hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước

Trong lĩnh vực công tại Việt Nam, cải cách hành chính là một trong những nhiệm vụ trọng tâm theo Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020. Trong quá trình này, việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước là một nhiệm vụ quan trọng, để từ kết quả đánh giá đó, có thể có những định hướng tiếp tục nâng cao chất lượng của hoạt động hành chính.

Từ những đánh giá trên, bài viết đưa ra một số kinh nghiệm trong việc đánh giá hoạt động của chính quyền ở Hàn Quốc có thể áp dụng cho Việt Nam trong quá trình xây dựng cơ chế đánh giá hiệu quả hoạt động của cơ quan hành chính, cụ thể:

Thứ nhất, việc kết hợp giữa phương thức tự đánh giá và đánh giá riêng biệt, cùng việc đẩy mạnh xây dựng các kế hoạch ngắn hạn, dài hạn, có thể là một gợi ý cho Việt Nam. Trong đó, tự đánh giá được áp dụng như một công cụ đánh giá chính thức, đánh giá riêng biệt với vai trò bổ sung. Điều này là bởi việc tự đánh giá là công cụ đánh giá hiệu quả cho hoạt động hàng năm trong khu vực công, trong khi đánh giá riêng biệt lại là công cụ hữu hiệu cho cơ chế hoạt động trong các chính sách, chương trình dài hạn quan trọng của quốc gia, đóng vai trò quan trọng để kết nối giữa các mục tiêu và thành tựu đã đạt được.

Thứ hai, các hệ thống mang tính khuyến khích nên được áp dụng. Việc đánh giá không phải là hoạt động cuối cùng, mà là bước đầu tiên của chu trình chính sách, bởi những kết quả sẽ được xem xét và mang tính quyết định với các bước tiếp theo trong chu trình cải cách đó. Các hệ thống này nếu được áp dụng có thể tạo nên động lực cho những người liên quan đến đối tượng được đánh giá, tạo động lực cho họ nâng cao chất lượng công việc vào những năm tiếp theo, đóng góp chung vào việc cải thiện chất lượng các hoạt động hành chính.

Thứ ba, việc ứng dụng công nghệ nên được tận dụng tối đa, đặc biệt trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay. Kinh nghiệm của Hàn Quốc cho thấy, với sự hỗ trợ của công nghệ, cụ thể là hệ thống thông tin điện tử, các quy trình đánh giá có thể được diễn ra nhanh gọn hơn, nội dung vừa bao quát, vừa hệ thống. Bên cạnh đó, việc công khai, minh bạch thông tin cũng được bảo đảm. Trong quá trình xây dựng cơ chế đánh giá hiệu quả cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin cũng nên được tích cực triển khai, qua đó, vừa mang lại hiệu quả, vừa nâng cao tính công khai, minh bạch, thậm chí cả sự tương tác với người dân.

ThS. Đinh Công Tuấn

Doãn Nhật Linh

Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp





[1]. Corning, Gregory (2000), Managing the Asian Meltdown: The IMF and South Korea. Institute for the Study of Diplomacy School of Foreign Service, Georgetown University, Pew Case Study, 1.

[2]. Bao gồm cơ quan dưới Tổng thống và các cơ quan dưới/giúp việc cho Thủ tướng Chính phủ được quy định bởi Nghị định của Tổng thống.

[3]. Theo khoản 2 Điều 5 và khoản 2 Điều 6 Đạo luật khung.

[4]. Thực chất có sự thay đổi này là do việc đánh giá các dự án nghiên cứu và phát triển đã được nhập cùng với đánh giá các dự án tài chính tổng hợp.

[5]. Điều 15 Đạo luật khung.

[6]. Ủy ban tự đánh giá này bao gồm 10 - 30 thành viên, thường có nhiệm kỳ 02 năm, có thể được bổ nhiệm thêm tối đa 01 nhiệm kỳ nữa. Theo khoản 2 Điều 14 Đạo luật khung, hơn 2/3 thành viên của ủy ban tự đánh giá là dân thường.

[7]. Seung-Bum Yang, Ador R. Torneo, “Government Performance Management and Evaluation in South Korea: History and Current Practices”, xem tại https://www.researchgate.net/publication/286922661, truy cập ngày 15/3/2020.

[8]. Khoản 4 Điều 2 Đạo luật khung.

[9]. Ví dụ, năm 2016, có 05 lĩnh vực được đánh giá: Các nhiệm vụ quốc gia chủ chốt, việc cải cách thể chế, việc công khai chính sách, tiêu chuẩn hóa để khắc phục những hạn chế, những vấn đề phổ biến trong cơ quan. Tuy nhiên, những năm 2010, các lĩnh vực đánh giá bao gồm: Khả năng quản lý chính sách, chính sách nghiên cứu và phát triển, vấn đề cung cấp việc làm, các chính sách phát triển bền vững, việc cải cách thể chế, sự hài lòng của nhân dân, các chính sách quốc gia chủ chốt.

[10]. Các tiểu ban này gồm các thành viên và chuyên gia đến từ các trường đại học, cơ sở nghiên cứu, tổ chức phi Chính phủ và một số công chức từ Văn phòng phân tích và đánh giá chính sách.

[11]. Được giám sát bởi tiểu ban do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành lập.

[12]. Văn phòng Thủ tướng Chính phủ và Đại học Chung-Ang, “2012 Modularization of Korea’s Development Experience: Korea’s Government Performance Evaluation System and Operating Experience”, 2013.

[13]. Văn phòng Thủ tướng Chính phủ và Đại học Chung-Ang, “2012 Modularization of Korea’s Development Experience: Korea’s Government Performance Evaluation System and Operating Experience”, 2013.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: