Thứ bảy 08/08/2026 23:36
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật về thanh lý tài sản của doanh nghiệp phá sản ở một số quốc gia trên thế giới và bài học cho Việt Nam

Cũng như phần lớn pháp luật về thanh lý tài sản phá sản của các nước trên thế giới, các quy định tương ứng của pháp luật Việt Nam cũng điều chỉnh gồm các nội dung cơ bản: (i) Tài sản phá sản và quản lý tài sản phá sản; (ii) Nội dung và chủ thể tham gia quan hệ pháp luật về thanh lý tài sản của doanh nghiệp phá sản; (iii) Thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp phá sản.

Tuy nhiên, việc xây dựng mô hình pháp luật về thanh lý tài sản phá sản cũng cần lưu ý mối liên hệ nội tại với các chế định khác trong pháp luật phá sản như: (i) Điều kiện mở thủ tục phá sản; (ii) Trình tự thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản; (iii) Thẩm quyền của cơ quan tố tụng; (iv) Hoà giải và tái tổ chức doanh nghiệp mắc nợ; (v) Biện pháp chế tài trong lĩnh vực phá sản.... và các bộ phận khác trong hệ thống pháp luật của quốc gia đó cũng như tính ảnh hưởng bởi những tác động khách quan của truyền thống pháp luật chung. Ví dụ như cấu trúc của đạo luật, sự quan niệm và đánh giá về các hiện tượng phát sinh trong quá trình giải quyết phá sản cũng như các giải thích pháp luật, các nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật nội bộ, sự ghi nhận về giá trị các nguồn pháp luật, phạm vi và kỹ thuật điều chỉnh của các quy phạm pháp luật đối với các vấn đề có liên quan... Mặt khác cũng phải thấy là việc so sánh Luật Phá sản của Việt Nam với Luật Phá sản của các nước không phải bao giờ cũng nhằm mục đích và khó có thể dựng nên một bức tranh toàn cảnh và chi tiết với tất cả những sự so sánh giữa các mô hình pháp lý này. Điều này có những lý do khách quan và chủ quan của nó. Ví dụ cũng như nhiều bộ phận pháp luật (hay chế định pháp luật khác) trong lĩnh vực dân sự, thương mại... mảng chế định pháp luật về phá sản luôn chịu sự tác động nhất định bởi những thay đổi từ sự vận động phát triển của đời sống kinh tế cũng như trong cơ chế vận hành nền kinh tế ở từng quốc gia. Bởi vậy, việc so sánh cần phải tính tới đặc thù này và đồng thời cần hướng tới những nội dung mang tính điển hình và phổ biến và qua đó có thể góp phần xây dựng các luận cứ hoàn thiện pháp luật về thanh lý tài sản ở Việt Nam hiện nay. Bài viết này có mục đích làm rõ kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật về trình tự, thủ tục thanh lý tài sản của một số quốc gia trên thế giới và những gợi mở cho Việt Nam.

1. Nội dung và chủ thể thực hiện thanh lý tài sản của doanh nghiệp phá sản

Trong Luật Phá sản của Hoa Kỳ, quyền quản lý tài sản phá sản được trao cho Tín thác viên (Trustees). Tín thác viên là người được uỷ thác quản lý tài sản, là đại diện hợp pháp thay mặt chủ sở hữu thực hiện các quyền năng đối với tài sản, tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập và vì vậy có thể trở thành nguyên đơn và bị đơn trong các quan hệ pháp luật cụ thể[1]. Chế định Tín thác viên trong Luật Phá sản của Hoa Kỳ được phân biệt cho hai trường hợp: Tín thác viên trong thủ tục thanh lý doanh nghiệp (Chương 7) và Tín thác viên trong loại thủ tục tái tổ chức (Chương 11).

Trong thủ tục tố tụng thanh lý, Tín thác viên do các chủ nợ bầu ra. Nếu chưa có Tín thác viên do các chủ nợ bầu thì Toà án có thể chỉ định Tín thác tạm thời để tiến hành việc quản lý tài sản phá sản cho đến khi người tín thác chính thức được lựa chọn. Theo thủ tục tố tụng ở Chương 7, các chủ nợ cũng có thể bầu ra một Uỷ ban với tối thiểu 3 người để tham vấn cho người tín thác và đưa ra những khuyến nghị lên Tòa án. Tín thác viên có các quyền hạn chủ yếu:

- Sử dụng hoặc bán hoặc cho thuê tài sản phá sản sau khi có thông báo của Toà án;

- Đặt cọc hoặc đầu tư một phần giá trị tài sản phá sản;

- Trên cơ sở chấp thuận của Toà án có quyền được sử dụng các chuyên gia độc lập như luật sư, kế toán, các nhà bán đấu giá, các nhân viên định giá tài sản hoặc hoạt động nhân danh những người này đối với tài sản phá sản;

- Trên cơ sở chấp thuận của Toà án có quyền tiến hành loại bỏ một hợp đồng đã thực hiện hay chưa hết hạn của con nợ…

Trong thủ tục tái tổ chức (Chương 11) việc quản lý tài sản vẫn do con nợ đảm nhiệm. Toà án sẽ chỉ định Tín thác viên nếu có những biểu hiện gian lận, không trung thực, kém năng lực, có các hành vi quản lý không phù hợp với hoạt động kinh doanh của con nợ… trong việc quản lý tài sản; Toà án cũng sẽ chỉ định Tín thác viên nếu có yêu cầu của bên có liên quan (như cổ đông có đảm bảo…). Tín thác viên theo thủ tục tái tổ chức có thẩm quyền:

- Định giá cho tất cả các tài sản nhận được;

- Kiểm tra bằng chứng của những đơn yêu cầu;

- Cung cấp các thông tin cho tất cả các chủ nợ và các bên có quyền lợi liên quan;

- Cung cấp cho Toà án và các cơ quan thuế báo cáo tài chính của quá trình hoạt động kinh doanh của con nợ;

- Thực hiện các báo tổng kết và các quyết toán cuối năm đối với việc quản lý tài sản phá sản;

- Điều tra tình hình tài chính của con nợ, nguyện vọng tiếp tục được hoạt động kinh doanh của con nợ;

- Đệ trình một bản kế hoạch hay một bản báo cáo về lý do không đưa ra được kế hoạch tái tổ chức hoặc đề nghị chuyển từ thủ tục tái tổ chức sang thủ tục thanh lý.

Trong Luật Phá sản của Nhật Bản, có định chế Quản trị viên (Kanxainin). Quản trị viên có vai trò hết sức quan trọng đối với việc quản lý tài sản của doanh nghiệp phá sản trong cả thủ tục thanh lý và thủ tục tổ chức lại. Quản trị viên trong Luật Phá sản Nhật Bản do Toà án chỉ định vào thời điểm tuyên bố phá sản (Điều 142, Điều 157). Người được uỷ thác này có thẩm quyền và quyền lực chung để duy trì, quản lý và định đoạt, hoặc bán khối tài sản phá sản và thực hiện việc phân phối công bằng, bình đẳng khối tài sản đó cho các chủ nợ trong phạm vi giới hạn về trình tự ưu tiên theo luật định giữa các khiếu nại được nộp đối với khối tài sản này. Quyền hạn và thẩm quyền của người được uỷ thác không chỉ giới hạn bởi quyền từ chối khiếu nại được nộp, quyền không chấp nhận những chuyển nhượng thiên vị hoặc gian dối trong khối tài sản và thẩm quyền khởi kiện đối với một tài sản nào đó thuộc khối tài sản đang còn tranh chấp trong thời điểm tuyên bố.

Chức năng quản lý tài sản phá sản trong Luật Phá sản của Nga được trao cho Quản tài viên (Điều 12). Quản tài viên do Toà án trọng tài bổ nhiệm trên cơ sở đề xuất của người mắc nợ và chủ nợ (cán bộ trong doanh nghiệp mắc nợ hoặc chủ nợ không được ứng cử chức Quản tài viên). Quản tài viên theo Luật Phá sản của Nga có quyền:

- Lãnh đạo doanh nghiệp, có quyền và thực hiện nghĩa vụ của người lãnh đạo doanh nghiệp theo quy định của pháp luật;

- Trong trường hợp cần thiết, không cho người lãnh đạo doanh nghiệp thực hiện các nghĩa vụ điều hành doanh nghiệp mắc nợ, tiếp nhận hoặc sa thải công nhân theo pháp luật lao động;

- Quản lý tài sản của doanh nghiệp mắc nợ;

- Vạch kế hoạch quản lý tài sản của người mắc nợ và tổ chức thực hiện kế hoạch đó;

- Thực hiện các chức năng khác theo quy định của pháp luật.

Trong InsO của Đức có chế định Người quản lý phá sản (Insolvenzverwalter). Người quản lý phá sản do Toà án bổ nhiệm cùng với việc ra Quyết định thụ lý. Trong thực tiễn tố tụng ở Đức quyết định bổ nhiệm Người quản lý phá sản là loại quyết định phức tạp nhất của Toà án bởi đây sẽ là nhân vật đóng vai trò trung tâm và xuyên suốt cả quá trình tố tụng. Người quản lý phá sản là một thể nhân có vị trí độc lập với cả hai bên chủ nợ và con nợ, là người vừa đại diện cho lợi ích cho chủ nợ và con nợ đồng thời trong nhiều trường hợp cũng chính là người đại diện cho Nhà nước trong việc giám sát hoạt động quản lý và phân chia tài sản của con nợ. Ở Đức, nếu cho đến đầu những năm 80 phần lớn Người quản lý phá sản là những luật sư thực hiện chức năng này theo phương thức bán chuyên trách thì từ giữa những năm 80 trở lại đây hoạt động theo cơ chế chuyên trách (ví dụ như các luật sư chuyên trách về phá sản, các nhà quản trị kinh doanh, các nhà tư vấn thuế…). Khác với một luật sư thuần tuý, Người quản lý phá sản không có thiên hướng giải quyết các tranh chấp pháp lý bằng con đường tố tụng mà phải hành động chủ yếu như một thương nhân. Điều này đặc biệt liên quan đến quy định trong InsO hiện hành về nghĩa vụ duy trì doanh nghiệp hay các bộ phận của doanh nghiệp vẫn tiếp tục tồn tại. Người quản lý phá sản do Toà án bổ nhiệm, giám sát và bãi miễn, hưởng tiền công theo tỷ lệ % từ khối tài sản phá sản theo quy định. Cũng cần lưu ý thêm là trong InsO của Đức còn có loại Người quản lý phá sản tạm thời (vorlaeufiger Insolvelzverwalter) do Toà án chỉ định để bảo vệ tài sản của con nợ trước các đối tượng khác và ngăn chặn các hành vi tẩu tán tài sản của bản thân con nợ hoặc tiếp tục điều hành hoạt động của con nợ trước khi có Quyết định thụ lý chính thức.

Thông qua sự đề cập tới mô hình thực hiện việc quản lý tài sản phá sản trong pháp luật phá sản của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nga và của Đức nêu trên chúng ta nhận thấy có một điểm tương đồng khá căn bản là: Việc quản lý tài sản phá sản được giao cho một thiết chế có tính trung gian và độc lập với mục đích chung là nhằm tránh những rủi ro, bảo toàn tài sản phá sản.

Theo Luật Phá sản của Trung Quốc: Thành viên của Ban thanh lý do Tòa án nhân dân chỉ định từ cơ quan chủ quản, cơ quan tài chính Chính phủ, các cơ quan hữu quan khác và các chuyên gia. Trong hoạt động, Ban thanh lý cũng có thể thuê các nhân viên cần thiết khác (Điều 24, Luật Phá sản của Trung Quốc)[2].

Khác với pháp luật phá sản của Trung Quốc và Luật Phá sản của Việt Nam năm 2004, trong phần lớn Luật Phá sản của các nước những quyền hạn để đạt được mục đích thống nhất đối với tài sản của doanh nghiệp phá sản, các quy định về chủ thể thực hiện công việc này thuộc về một chủ thể hoạt động chuyên nghiệp (Nhật Bản, Hoa Kỳ, Đức) có tính xuyên suốt cả quá trình tố tụng. Chính điều này đã tạo ra sự thống nhất trong các biện pháp xử lý cũng như sự giảm thiểu về thời gian.

2. Trình tự, thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp phá sản

- Về xác định tài sản thuộc quyền đòi nợ của chủ nợ trong việc phân chia khối tài sản phá sản

Trong Luật Phá sản của các nước khác nhau sự ghi nhận các vấn đề về xác định tài sản thuộc quyền đòi nợ của chủ nợ trong việc phân chia khối tài sản phá sản có nhiều điểm khác biệt.

Ví dụ trong Luật Phá sản Hoa Kỳ có quy định về những trường hợp khởi kiện bị coi là vô hiệu khi:

- Khiếu kiện đó không có hiệu lực bắt buộc đối với con nợ hoặc đối với tài sản của anh ta;

- Nếu là một lợi ích chưa phát sinh hoặc chưa đến hạn;

- Là những dịch vụ của những người có liên quan hoặc luật sư mà vượt quá giá trị hợp lý của những dịch vụ như vậy (khoản 502).

Về các khoản nợ bị loại trừ khỏi diện thanh toán từ khối tài sản phá sản, Luật phá sản Hoa Kỳ cũng quy định rõ:

- Thuế và các nghĩa vụ hải quan;

- Trách nhiệm pháp lý đối với việc chiếm đoạt tiền hoặc tài sản bằng cách lừa dối, đại diện không đúng thẩm quyền hoặc hoạt động gian lận;

- Trách nhiệm pháp lý đối với việc gây ra thương tích đối với một người hoặc làm hư hỏng tài sản;

- Trợ cấp cho vợ chồng hoặc con cái;

- Những khoản nợ không có trong danh mục trừ khi chủ nợ biết về vụ phá sản;

- Các khoản nợ có được do các hoạt động gian lận của con nợ trong khi thực hiện các hành động biển thủ hoặc trộm cắp;

- Các khoản nợ của sinh viên đến hạn ít hơn 05 năm trước khi có việc đệ trình vụ kiện;

- Các khoản nợ có được hoặc có thể được liệt kê trong một vụ phá sản trong đó những vụ mà con nợ được phép từ chối thanh toán nợ;

- Những khoản nợ tiêu dùng đối với những hàng hoá vượt quá 500 USD đối với một chủ nợ nếu cá nhân con nợ mắc nợ hoặc trong vòng 40 ngày trước khi thủ tục phá sản đối với con nợ được bắt đầu;

- Cá nhân con nợ có hơn 1000 USD tiền mặt theo một kế hoạch tín dụng trong vòng 20 ngày trước khi thủ tục phá sản đối với con nợ bắt đầu…(khoản 523).

Luật Phá sản của Nhật Bản cũng có những quy định tương tự. Ví dụ pháp luật của nước này còn quy định quyền yêu cầu đòi nợ của chủ nợ bị giới hạn đối với những khoản nợ là tài sản không nằm trên lãnh thổ Nhật Bản như đã được đề cập ở trên.

Luật Phá sản 2014 của Việt Nam, nhìn chung có sự thống nhất về nguyên tắc so với Luật Phá sản của các nước trong việc xác định quyền khởi kiện của chủ nợ đối với phạm vi tài sản thuộc khối tài sản phá sản, đồng thời cũng cho thấy có một số nét đặc thù:

- Việc quy định được phép hay giới hạn quyền khởi kiện của chủ nợ trong việc đòi nợ chủ yếu nghiêng về khía cạnh tính hợp pháp, đủ điều kiện của hành vi khởi kiện mà chưa có sự xác định thống nhất về sự được phép hay không được phép, và nhất là những loại tài sản thuộc diện loại trừ đối với hành vi khởi kiện (như đã dẫn trong Luật Phá sản Hoa Kỳ). Đặc điểm này cũng cho thấy rõ sự lấn át của các quy định tố tụng so với luật vật chất trong cơ cấu của Luật Phá sản 2014 của Việt Nam.

- Những khoản nợ thuộc diện được phép yêu cầu đòi nợ của các chủ nợ, trong Luật Phá sản 2014 của Việt Nam tuy không có sự xác định rõ như trong Luật Phá sản một số nước, song thông qua Điều 54 của Luật Phá sản năm 2014 quy định về thứ tự phân chia tài sản có thể cho thấy gồm:

+ Khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động, quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể đã ký kết;

+ Khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản nhằm mục đích phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã;

+ Nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ.

Ngoài ra còn một số khoản, tuy không được coi là nợ và thuộc phạm vi đòi nợ của chủ nợ song thuộc diện phải thanh toán từ tài sản phá sản là: Chi phí phá sản, tiền góp vốn, đầu tư của chủ sở hữu doanh nghiệp phá sản.

Với quy định trên có thể hiểu là ngoài những khoản nợ được xác định đó thì những khoản nợ khác là thuộc diện loại trừ? Luật Phá sản năm 2014 của Việt Nam không có quy định cụ thể điều này. Đặc điểm này cũng có thể được lý giải ở góc chiếu của sự xem xét về phạm vi của Luật Phá sản năm 2014 của Việt Nam. Rõ ràng Luật Phá sản năm 2014 của Việt Nam chỉ giới hạn sự điều chỉnh đối với các doanh nghiệp và hợp tác xã, liên hiệp các hợp tác xã và theo đó, chỉ chủ yếu nhìn nhận về các hành vi của chủ thể kinh doanh. Nếu hiểu và quan niệm như vậy thì sẽ thật là khó khăn bởi trong một môi trường hoạt động của một doanh nghiệp phát sinh hàng loạt các mối quan hệ vay mượn cũng như nhiều khoản nợ nần khác mà không phải bao giờ cũng có thể xác định được là kinh doanh hay là phi kinh doanh.

- Về trình tự phân chia tài sản phá sản

Trong Luật Phá sản của Hoa Kỳ thứ tự phân chia tài sản được xác định:

- Các chủ nợ có đảm bảo thu hồi nợ theo lợi ích đã được đảm bảo;

- Các chủ nợ được trao quyền thu hồi nợ được ưu tiên theo một thứ tự đã quy định;

- Việc thanh toán nợ cho các chủ nợ không đảm bảo đã đưa ra những yêu cầu kịp thời, đúng hạn;

- Việc thanh toán nợ cho các chủ nợ không có đảm bảo đã đưa ra những yêu cầu muộn hơn;

- Những khoản thanh toán đối với những thiệt hại có tính chất trừng phạt làm gương cho kẻ khác;

- Những chi phí từ ngày khởi kiện cho đến khi các công việc trên được tiến hành;

- Tài sản còn lại thì giao cho chủ nợ.

Những khiếu nại cùng hàng thì được trả theo một tỷ lệ tương ứng.

Trong Luật Phá sản của Nhật Bản, trình tự phân phối tài sản phá sản được xác định trên hai cơ sở là: Căn cứ vào tính chất của khoản nợ và thời gian trả nợ.

Căn cứ tính chất của các khoản nợ, các khoản nợ có ba loại:

- Khoản nợ ưu tiên (nợ lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế…);

- Khoản nợ thông thường (những khoản nợ phát sinh trong hoạt động của con nợ);

- Khoản nợ không có đảm bảo.

Khi phân chia tài sản thì trước hết phân chia cho các khoản nợ ưu tiên, còn lại thì chia cho các khoản nợ thông thường. Nếu sau khi chia cho các khoản nợ thông thường mà vẫn còn thì chia cho các khoản nợ không có đảm bảo. Song ở Nhật Bản, những khoản này trên thực tế rất ít được trả.

Căn cứ vào thời gian trả nợ có hai trường hợp:

- Người được uỷ thác có nhiệm vụ phân chia ngay lập tức khoản tiền mặt có trong tay ngay sau khi hoàn thành việc điều tra chung các khiếu nại. Việc phân phối tài sản đầu tiên này gọi là “phân phối giữa chừng”. Việc phân phối giữa chừng được thực hiện trên cơ sở bản danh sách phân phối do người được uỷ thác chuẩn bị và đệ trình lên Toà án để các bên có liên quan xem xét.

- Sau khi đã hoàn thành việc bán tất cả các tài sản thuộc khối tài sản phá sản sẽ tiến hành “phân phối cuối cùng”. Việc phân phối này cũng theo cách thức như phân phối lần đầu. Luật Phá sản Nhật Bản quy định là: Sau khi đã thực hiện phân phối cuối cùng mà lại phát hiện và thu hồi được những tài sản khác thì sẽ tiến hành “phân phối bổ sung”.

Trình tự phân phối tài sản phá sản trong Luật Phá sản của Nga được quy định:

+ Các khoản chi phí có liên quan đến:

- Thủ tục thanh lý tài sản, thù lao cho nhân viên quản lý tài sản và thanh lý tài sản,

- Việc duy trì chức năng của doanh nghiệp mắc nợ được thanh toán không cần qua thứ tự ưu tiên.

+ Thanh toán cho các chủ nợ theo thứ tự:

- Tiền bồi thường cho công dân mà người mắc nợ có trách nhiệm do gây thiệt hại đến tính mạng sức khoẻ được trả bằng khoản thanh toán tạm thời;

- Lương cho người lao động trả trợ cấp trong vòng một năm kể từ ngày mở thủ tục thanh lý, trả thù lao theo hợp đồng tác giả và hợp đồng li- xăng;

- Các khoản phải nộp ngân sách và quỹ ngoài ngân sách phát sinh trong vòng một năm tính đến ngày mở thủ tục thanh lý;

- Các chủ nợ tham gia thủ tục phá sản;

- Các thành viên tập thể lao động doanh nghiệp mắc nợ có phần đóng góp vào tài sản của doanh nghiệp mắc nợ;

- Các chủ sở hữu;

- Các yêu cầu còn lại.

Trong đó các chủ nợ thứ nhất, thứ hai và thứ ba là chủ nợ ưu đãi.

Mỗi một chủ nợ cùng một thứ tự được phân phối theo cùng tỷ lệ

(Điều 31).

Trình tự phân chia tài sản trong Luật Phá sản của Trung Quốc là:

- Khấu trừ các khoản chi phí từ phá sản;

- Các khoản lương trả cho công nhân viên chức và chi phí bảo hiểm lao động mà doanh nghiệp phải thanh toán;

- Các khoản thuế mà doanh nghiệp phải thanh toán;

- Các yêu cầu trong phá sản.

Trong trường hợp tài sản không đủ để đáp ứng theo yêu cầu thanh toán theo trật tự ưu tiên thì sẽ được phân chia theo tỉ lệ (Điều 38).

Trong InsO Đức, trình tự phân chia tài sản được quy định:

- Chi phí tố tụng;

- Các chủ nợ mới (chủ nợ từ khi có quyết định thụ lý);

- Các chủ nợ phá sản;

- Các chủ nợ thuộc hàng ưu tiên dưới (Nachrangige Insolvenzglaeubiger): Lãi suất của các khoản nợ sau khi có quyết định thụ lý, các chi phí mà của nợ do tham gia tố tụng.

Khảo cứu cách xác định các khoản nợ được thanh toán từ tài sản phá sản và thứ tự phân chia các khoản nợ đó trong Luật Phá sản của các nước cho thấy:

- Trong các khoản nợ thuộc danh mục ưu tiên thanh toán, bên cạnh các khoản có tính phổ biến như chi phí tố tụng, các khoản nợ lương và trợ cấp cho người lao động trong doanh nghiệp… thì Luật Phá sản của một số nước quan tâm tới các yếu tố như: Ý thức pháp luật của các chủ thể có liên quan để thực hiện sự ưu tiên, cho dù bản chất kinh tế của những khoản nợ có thể là tương đồng (ví dụ như Luật Phá sản của Hoa Kỳ); thời điểm phát sinh các khoản nợ (ví dụ như Luật của Đức)… Riêng đối với khoản nợ thuế, trong xu thế cải cách luật phá sản hiện đại ở nhiều nước, không còn được coi là khoản nợ thuộc diện ưu tiên mà hoàn toàn bình đẳng với các khoản nợ thương mại khác (ví dụ với trường hợp của Đức trong InsO được thông qua năm 1999). Khác với quan niệm này, ví dụ trong Luật Phá sản của Hoa Kỳ, khoản nợ thuế không thuộc diện phân chia nợ này mà được xếp vào loại tài sản loại trừ và được khấu trừ trước.

- Việc phân chia tài sản cho các chủ nợ phần lớn được trao cho người quản lý tài sản thực hiện trong quyền hạn độc lập của họ theo luật định.

- Việc phân chia tài sản có thể được thực hiện trong nhiều lần tuỳ thuộc vào tình hình tài sản thực tế của doanh nghiệp mắc nợ (như trường hợp của Nhật Bản), điều này góp phần giúp một bộ phận chủ nợ thu hồi nợ được nhanh chóng…

Theo Điều 54 của Luật Phá sản năm 2014 của Việt Nam, thứ tự ưu tiên phân chia tài sản còn lại được quy định:

+ Chi phí phá sản;

+ Khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động, quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể đã ký kết;

+ Khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản nhằm mục đích phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã;

+ Nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ.

Trường hợp giá trị tài sản của doanh nghiệp sau khi đã thanh toán đủ các khoản nói trên mà vẫn còn thì phần còn lại thuộc về chủ sở hữu của doanh nghiệp (xã viên hợp tác xã; chủ doanh nghiệp tư nhân; các thành viên của công ty; các cổ đông của công ty cổ phần; thành viên công ty hợp danh). Nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán, thì từng đối tượng cùng một thứ tự ưu tiên được thanh toán theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với số nợ. Thứ tự phân chia tài sản của tổ chức tín dụng khi bị tuyên bố phá sản sẽ được thực hiện theo Điều 101 của Luật Phá sản năm 2014. Theo đó, các khoản tiền gửi; khoản tiền tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải trả cho người gửi tiền tại tổ chức tín dụng phá sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ đứng ở hàng ưu tiên thứ ba và được thanh toán trước các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ. So sánh với những quy định có liên quan trong Luật Phá sản của các nước với Luật Phá sản năm 2014 của Việt Nam về trình tự phân chia tài sản cho thấy nguyên tắc chung của việc xác định và cách xác định diện và hàng của việc phân chia tài sản của doanh nghiệp phá sản trong Luật Phá sản năm 2014 của Việt Nam về cơ bản là tương đồng với pháp luật của các nước.

Trần Duy Tuấn
Sở Công Thương tỉnh Ninh Bình


[1] Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia - Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật (2002), Bước đầu tìm hiểu pháp luật thương mại Mỹ, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, T.72;

[2] Viện Nghiên cứu khoa học Thị trường giá cả (1990), Luật phá sản của Trung Quốc và một số nước Tây Âu, Hà Nội.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: