Thứ sáu 15/05/2026 17:23
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kinh nghiệm quản trị đại học ở một số nước và gợi ý tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quản trị đại học ở Việt Nam

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học được thông qua ngày 19/01/2018 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2019. Trong đó, Luật đã có những sửa đổi, bổ sung cơ bản về vấn đề quản trị đại học như: Thống nhất về tên gọi Hội đồng trường hoặc Hội đồng quản trị (gọi chung là Hội đồng trường) ở trường công lập và tư thục; quy định cụ thể về quyền, trách nhiệm của Hội đồng trường và tiêu chuẩn, chức năng, nhiệm vụ của thành viên Hội đồng, Chủ tịch Hội đồng; xác định rõ vị trí pháp lý của Hội đồng trường và mối quan hệ với Hiệu trưởng; phân biệt Hội đồng trường với Hội đồng đại học phù hợp với tính chất của từng loại hình cơ sở giáo dục đại học.

Nhìn chung, các quy định được sửa đổi theo hướng Hội đồng trường là đại diện cho chủ sở hữu và các bên có lợi ích liên quan, có thực quyền, phù hợp với tự chủ đại học trong bối cảnh thực tiễn hiện nay cũng như những năm tới. Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập quốc tế, việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quản trị đại học ở Việt Nam là cần thiết. Vì vậy, qua nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới như Hoa Kỳ, Úc, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, tác giả bài viết đã nêu lên một số đề xuất về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của bộ máy quản trị đại học và cơ cấu bộ máy quản trị đại học[1].

Pháp luật về quản trị đại học của các nước khá đa dạng về nội dung và hình thức thể hiện. Để lựa chọn được những kinh nghiệm phù hợp với quá trình hoàn thiện pháp luật về quản trị đại học ở Việt Nam, có thể nghiên cứu các nhóm sau: (i) Nhóm các nước có nền giáo dục đại học tiên tiến hàng đầu trên thế giới như: Hoa Kỳ, Úc, Nhật Bản; (ii) Nhóm các nước có triết lý giáo dục đại học có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam do có nền kinh tế chuyển đổi như Trung Quốc; (iii) Nhóm các nước trong khu vực ASEAN, đại diện là Thái Lan với giáo dục đại học tương đương ở Việt Nam nhưng đã có nhiều thành công nhất định. Bài viết này cũng giới hạn phạm vi nghiên cứu với hai nội dung cơ bản: (i) Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của bộ máy quản trị; (ii) Cơ cấu bộ máy quản trị đại học.

1. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của bộ máy quản trị đại học

Pháp luật giáo dục đại học của các nước được nghiên cứu cho thấy, về cơ bản, các cơ sở giáo dục đại học chủ yếu được phân loại thành trường công lập và trường ngoài công lập. Các cơ sở giáo dục đại học công lập và ngoài công lập có Hội đồng trường hoặc Hội đồng quản trị trong cơ cấu (sau đây gọi chung là Hội đồng trường - HĐT) hoạt động với tư cách là thiết chế quản trị của cơ sở giáo dục đại học và chủ yếu quyết định chiến lược, định hướng phát triển và những vấn đề quan trọng nhất của cơ sở giáo dục đại học.

Ở Hoa Kỳ, mỗi trường đại học gọi tên tổ chức quản trị khác nhau, đều mang nghĩa là HĐT. Đây là cơ quan chịu trách nhiệm cao nhất về chất lượng đào tạo, về sự chính trực trong học thuật, về tài chính và tài sản của nhà trường. HĐT đề ra chủ trương, đường lối và chính sách, là người giải trình và bảo vệ cho nhà trường, chịu trách nhiệm về tính thống nhất toàn vẹn cũng như chất lượng hoạt động của toàn bộ nhà trường[2]. Tuy vậy, HĐT không can thiệp vào những hoạt động hàng ngày, những công việc ở tầm quản lý vi mô của nhà trường. Chức năng của HĐT là xây dựng chiến lược, giám sát những chính sách bảo đảm chất lượng dạy và học, thông qua các chương trình đào tạo, xây dựng cơ chế tổ chức nhân sự, trong đó có các quy định về thang bậc lương bổng, quy chế bổ nhiệm và miễn nhiệm các chức vụ chủ chốt nhưng không can thiệp trực tiếp vào việc tuyển dụng nhân sự của nhà trường, trừ trường hợp lựa chọn và bổ nhiệm chức danh Hiệu trưởng. Về tài chính, vai trò của HĐT là thiết lập cơ chế và chính sách, giúp cho hoạt động tài chính của nhà trường diễn ra lành mạnh, kiểm soát chi phí nhằm bảo đảm ngân sách của nhà trường được sử dụng một cách đúng đắn và tìm kiếm các cơ hội giúp ổn định cán cân tài chính của nhà trường. HĐT hoạt động như một cơ quan lập pháp của nhà trường và chủ yếu là giải quyết những vấn đề về chính sách, cơ chế để vận hành bộ máy quản lý nhà trường. Trên cơ sở những chính sách và cơ chế chung ấy, Hiệu trưởng - người được HĐT thuê có trách nhiệm xây dựng những quy định cụ thể, quản lý mọi hoạt động của trường và chịu trách nhiệm trước HĐT[3].

Ở Úc, HĐT nhìn chung có nhiệm vụ: (i) Bổ nhiệm và giám sát hoạt động của Hiệu trưởng; (ii) Thông qua sứ mệnh và chiến lược phát triển của trường; (iii) Giám sát việc điều hành trường; (iv) Xem xét ngân sách hàng năm và kế hoạch kinh doanh của trường; (v) Xây dựng chính sách và các nguyên tắc hoạt động của trường. HĐT có nhiều tiểu ban như tiểu ban tài chính, tiểu ban xây dựng và tài sản, tiểu ban kiểm soát, tiểu ban quản lý rủi ro… Hiệu trưởng chịu trách nhiệm điều hành hoạt động của trường theo đường lối, chính sách do HĐT đưa ra[4].

Ở Trung Quốc, mô hình HĐT mới được thí điểm áp dụng từ năm 2014. Bên cạnh việc tham gia đánh giá chất lượng quản trị đại học, đánh giá chất lượng đào tạo; phát triển hợp tác xã hội và thu hút tài trợ cho ngân sách trường, HĐT còn tham gia dự thảo hoặc sửa đổi quy định quan trọng của nhà trường[5].

Ở Nhật Bản, năm 2004 bắt đầu áp dụng mô hình tập đoàn đại học quốc gia nhằm thúc đẩy sự độc lập, tự chủ của các trường đại học của Nhật Bản. Mỗi tập đoàn đại học quốc gia phải xây dựng một kế hoạch hoạt động trung hạn dựa trên các mục tiêu trung hạn cho giai đoạn sáu năm đã được Bộ trưởng Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ (MEXT) đề ra và tự thúc đẩy hoạt động giáo dục và nghiên cứu của trường theo kế hoạch đó[6]. HĐT là bộ phận quyết định cao nhất, có quyền quyết định về tài chính và do Chủ tịch trường đứng đầu. Ở trường tư thục, thành phần, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐT, Chủ tịch HĐT quy định tại Điều 36 Luật Pháp nhân trường học tư thục, theo đó, HĐT gồm các ủy viên quản trị, quyết định các công việc của pháp nhân trường học và giám sát việc thực hiện các công việc của các ủy viên quản trị.

Ở Thái Lan, ngoài Ủy ban Giáo dục đại học, Chính phủ thực hiện quản lý các trường đại học thông qua các HĐT. HĐT của các trường đại học công lập chịu trách nhiệm về quản lý nhân sự trong phạm vi quy chế của Ủy ban Giáo dục đại học quốc gia. Trong khi đó, HĐT của các trường đại học công lập tự chủ và các trường đại học tư thục có quyền kiểm soát đầy đủ đối với việc quản lý nhân sự và tài chính của trường[7].

2. Cơ cấu bộ máy quản trị đại học

Nghiên cứu về thành phần HĐT của các cơ sở giáo dục đại học, có thể thấy sự phong phú, đa dạng, tùy thuộc vào từng quốc gia.

Ở Hoa Kỳ, các trường đại học có các mô hình quản trị khá đa dạng, tuy nhiên cũng có nhiều nét tương đồng, cách thức bầu ra HĐT của trường đại học khá đa dạng, tuy nhiên, dù được bổ nhiệm theo phương thức nào, nhiệm vụ của họ phải vì lợi ích cao nhất của trường, không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác. Trong điều lệ thành lập trường có thể có quy định về thành phần và cách thức bổ nhiệm thành viên HĐT. Ví dụ: HĐT Đại học Massachusetts hiện có 22 người, gồm 03 người kỳ cựu không chính thức được bầu và 19 thành viên được bầu chọn, 17 người trong số này được Nhà nước liên bang bổ nhiệm, trong số đó, ít nhất phải có 05 người là cựu sinh viên và một người là đại diện của lực lượng lao động trong trường. Hai thành viên còn lại là sinh viên và do sinh viên chọn theo nhiệm kỳ từng năm[8].

Cách thức bầu chọn và bổ nhiệm thành viên HĐT của các cơ sở giáo dục đại học ở Hoa Kỳ, ở các trường công lập, chính quyền tiểu bang sẽ bổ nhiệm phần lớn thành viên HĐT, thường là những người có tên tuổi, uy tín, phần lớn là các tỷ phú, cựu sinh viên và là những người có đóng góp tài chính hoặc có khả năng thu hút tài chính cho nhà trường. Họ sẽ tiến hành các hoạt động gây quỹ cho nhà trường sau này và không thu về một lợi ích tài chính nào cho bản thân trong các hoạt động đó. Ngược lại, ở trường tư, HĐT ban đầu là những người sáng lập, những người đầu tư tiền xây dựng nhà trường. Sau này, HĐT sẽ có toàn quyền bầu chọn những thành viên mới để bổ sung khi có yêu cầu[9].

Ở Úc, HĐT được thành lập ở các trường công theo Luật Giáo dục của mỗi tiểu bang, có khoảng 15 thành viên (thường không quá 22 thành viên). Thành phần HĐT thường gồm: Các thành viên đương nhiên (Ban giám hiệu); các thành viên được bổ nhiệm bởi HĐT trên cơ sở khuyến nghị của Ủy ban lựa chọn ứng viên; các thành viên bổ nhiệm bởi Bộ Giáo dục/Thủ hiến của Bang/vùng lãnh thổ; thành viên được bầu từ đội ngũ giáo viên (thường bằng hoặc lớn hơn số thành viên do HĐT bổ nhiệm); các thành viên được bầu từ đội ngũ cán bộ hành chính; các sinh viên được chỉ định hoặc bầu theo cách thức do HĐT quy định. Nhiệm kỳ của từng loại thành viên HĐT thường tùy thuộc vào quy định trong Điều lệ Trường (thường từ 01 năm đến 05 năm). Đối với các trường tư, cơ cấu tổ chức và quản trị cơ bản tương tự như các trường công. Tuy nhiên, thành phần của HĐT của trường tư gồm: Các thành viên thường trực của HĐT (02 người); các thành viên bình thường (06 người); cựu sinh viên (12 người); học viên sau đại học (01 người); sinh viên hệ cử nhân (01 người); thành viên của cộng đồng; thành viên ủy thác (10 - 20 người) có thể không phải là những thành viên bỏ phiếu[10].

Ở Trung Quốc, Quyết định số 37/BGD-2014 do Bộ Giáo dục ban hành quy định HĐT do trường đại học thành lập. Theo quy định này, HĐT có tối thiểu 21 thành viên; thường hoạt động với nhiệm kỳ 05 năm. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, thiết chế HĐT trong cơ cấu tổ chức của trường đại học chưa được thể chế hóa trong Luật Giáo dục đại học sửa đổi năm 2015. Thường HĐT gồm có chủ sở hữu hoặc người đại diện, hiệu trưởng, giảng viên, nhân viên. Hơn một phần ba thành phần HĐT cần có 05 năm kinh nghiệm giảng dạy trở lên. Đối với trường tư thục, HĐT bao gồm 05 thành viên trở lên và có một Hội trưởng hoặc một Chủ tịch. Danh sách Hội trưởng và các thành viên hoặc là Chủ tịch và các thành viên phải được báo cáo cơ quan phê duyệt hồ sơ (Điều 21 Luật Xúc tiến giáo dục tư thục)[11].

Ở Thái Lan, đối với các trường đại học công lập, Chủ tịch cũng như các thành viên của HĐT do Nhà vua bổ nhiệm, được lựa chọn trong số các viên chức quản lý của trường, các thành viên của khoa chuyên môn hoặc các thành viên khác của chính quyền Thái Lan. Các trường đại học công lập tự chủ có thêm thành phần là các chuyên gia bên ngoài trường. Trong các cơ sở đại học tư thục, người thành lập trường đề xuất Chủ tịch và các thành viên của HĐT, sau đó, Bộ trưởng Bộ giáo dục bổ nhiệm. Thành phần của HĐT đại học tư được quy định tại Điều 28 Luật Cơ sở giáo dục đại học tư năm 1999 (sửa đổi năm 2007). Chủ tịch HĐT và các thành viên của HĐT sẽ được Bộ trưởng Bộ Giáo dục bổ nhiệm trên cơ sở các đề xuất và lựa chọn. HĐT sẽ lựa chọn một thành viên trở thành Phó Chủ tịch Hội đồng và bổ nhiệm thư ký của Hội đồng[12].

Ở Nhật Bản, mỗi trường đại học quốc gia có 03 bộ phận: (i) HĐT là cơ quan có quyền cao nhất, có quyền quyết định về tài chính; (ii) Hội đồng quản lý/điều hành có trách nhiệm quyết định các vấn đề về hành chính, điều hành hoạt động của trường; (iii) Hội đồng giáo dục và nghiên cứu thực hiện những nhiệm vụ liên quan đến đào tạo và nghiên cứu[13]. Chủ tịch trường là người đứng đầu HĐT, thường được lựa chọn bởi Ủy ban lựa chọn chủ tịch bao gồm các thành viên trong và ngoài trường. Ở một số trường đại học vẫn áp dụng chế độ bầu chủ tịch thông qua bỏ phiếu. Còn Hiệu trưởng thì đứng đầu Hội đồng quản lý điều hành, thực hiện quản lý điều hành các công việc của trường[14].

3. Một vài gợi ý tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quản trị đại học ở Việt Nam

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học đã sửa đổi các quy định về quản trị đại học theo hướng thống nhất về tên gọi HĐT ở trường công lập và tư thục; quy định cụ thể về quyền, trách nhiệm của HĐT và tiêu chuẩn, chức năng, nhiệm vụ của thành viên Hội đồng, Chủ tịch Hội đồng; xác định rõ vị trí pháp lý của HĐT và mối quan hệ với Hiệu trưởng; phân biệt HĐT với Hội đồng đại học phù hợp với tính chất của từng loại hình cơ sở giáo dục đại học. Nhìn chung, các quy định về HĐT nói chung và HĐT tại các cơ sở công lập nói riêng được sửa đổi, bổ sung theo hướng HĐT là đại diện cho chủ sở hữu và các bên có lợi ích liên quan, có thực quyền, phù hợp với tự chủ đại học trong bối cảnh thực tiễn hiện nay cũng như những năm tới. Tuy nhiên, để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quản trị đại học ở Việt Nam, từ việc nghiên cứu một số kinh nghiệm nước ngoài về quản trị đại học, tác giả có một số đề xuất như sau:

Một là, về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của bộ máy quản trị đại học

Qua nghiên cứu cho thấy, bên cạnh việc quyết định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển, quyết định nhân sự hiệu trưởng, chính sách tài chính và các vấn đề quan trọng khác của trường thì HĐT còn thực hiện nhiệm vụ phát triển hợp tác xã hội và thu hút tài trợ cho ngân sách trường. Do đó, để HĐT có thể phát huy hiệu quả vai trò của mình trong bối cảnh mở rộng quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học, nâng cao chất lượng đào tạo và tăng nguồn thu cho cơ sở giáo dục đại học, thiết nghĩ, chúng ta cần học tập kinh nghiệm của nước ngoài về vấn đề này, bổ sung thêm nhiệm vụ và quyền hạn của HĐT về “thu hút tài trợ cho trường” và “tăng cường sự gắn kết của nhà trường với các tổ chức, doanh nghiệp để khai thác nguồn lực một cách hiệu quả”. Với uy tín và năng lực của mình, HĐT sẽ là cầu nối của nhà trường với doanh nghiệp, xã hội để góp phần đẩy mạnh hiệu quả các hoạt động của trường. Bên cạnh đó, với tính chất của HĐT, thẩm quyền hiện nay của HĐT quá cụ thể, nhiều nhiệm vụ mang tính vi mô, chưa phù hợp với việc quyết định những vấn đề lớn của trường, có khi “lấn sân” sang việc quản lý, điều hành hàng ngày của cơ quan quản lý. Vì vậy, cần học tập kinh nghiệm của các nước trong việc xem xét, quy định lại vấn đề này.

Hai là, về cơ cấu bộ máy quản trị đại học

Qua nghiên cứu về Luật Giáo dục đại học ở nhiều nước trên thế giới cho thấy, có các xu hướng khác nhau về thành phần HĐT ở trường công lập, ngoài công lập. Xu hướng thứ nhất là, trao quyền định đoạt cao cho các cơ sở giáo dục đại học gồm cả trường công và trường tư trong việc xác định số lượng, thành phần hội đồng (Hoa Kỳ). Xu hướng thứ hai là, Nhà nước quy định cụ thể số lượng, thành phần HĐT và thường liệt kê trong văn bản luật và đa số các nước thuộc nhóm này có luật riêng về các cơ sở công lập và tư thục (Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản).

Ở Việt Nam, kinh nghiệm của Hoa Kỳ về việc phân quyền rất cao cho các trường tự quyết định về số lượng và tiêu chuẩn của các thành viên HĐT là không phù hợp với điều kiện thực tế nước ta. Kinh nghiệm của các nước Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản về việc ban hành quy định pháp luật về số lượng tối thiểu, thành phần và tiêu chuẩn thành viên HĐT sẽ phù hợp với bối cảnh cụ thể của Việt Nam, khi thiết chế này chưa được nhận thức đầy đủ, đúng đắn từ các bên có liên quan. Luật Giáo dục đại học sửa đổi đã quy định theo hướng này với mục đích định hướng và đưa HĐT về đúng với vị trí để phát huy được vai trò của mình. Về điều kiện, thành phần HĐT, Luật Giáo dục đại học sửa đổi về cơ bản đã tiếp thu kinh nghiệm nước ngoài, nhưng vẫn còn một số điểm chưa phù hợp, cụ thể:

- Về thành viên đại diện cho người học: Luật Giáo dục đại học hiện hành quy định đại diện cho người học là đại diện Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên. Tuy nhiên, trong trường có hai thiết chế có sự tham gia của người học là Đoàn Thanh niên và Hội Sinh viên, cần có sự tham gia của đại diện hai thiết chế này. Đặc biệt, cần quy định rõ đại diện phải là sinh viên hệ đại học và học viên/nghiên cứu sinh hệ sau đại học (không phải là giảng viên, chuyên viên của trường) để sự tham gia của họ thực sự đại diện cho giới người học, mang tính thực chất hơn.

- Về thành viên mời ngoài trường: Luật Giáo dục đại học hiện hành quy định các đối tượng này phải được bầu ở hội nghị toàn thể hoặc hội nghị đại biểu. Trong khi đó, nước ngoài mời những người có uy tín trong xã hội tham gia HĐT để tăng uy tín cho HĐT, không cần bất cứ thủ tục bầu nào để thấy sự trân trọng đối với họ. Hơn nữa, cần xác định rõ những đối tượng mời ngoài trường thuộc nhóm không phải bầu, giống như thành viên đương nhiên.

- Về đại diện cho cơ quan quản lý: Ngay cả ở nước có giáo dục đại học tự chủ cao như Hoa Kỳ, chính quyền bang cử và bổ nhiệm phần lớn thành viên HĐT công lập, Thống đốc bang là Chủ tịch HĐT. Trong khi đó, Luật Giáo dục đại học hiện hành lại không quy định số lượng thành viên HĐT đại diện cho cơ quan quản lý, đồng thời, Chủ tịch HĐT phải là cán bộ cơ hữu của trường. Quy định này hạn chế sự tham gia của những người có uy tín, thực sự có khả năng dẫn dắt, định hướng trường nhưng công tác ở các cương vị lãnh đạo, đồng thời, chưa phù hợp với quy định HĐT là cơ quan đại diện cho chủ sở hữu, mà mới chỉ tập trung vào sự tham gia của các bên liên quan.

- Về nhiệm kỳ của HĐT: Mặc dù thành phần của HĐT khá đa dạng nhưng Luật Giáo dục đại học hiện hành lại quy định nhiệm kỳ chung cho tất cả các nhóm đối tượng là 05 năm[15] là chưa hợp lý. Bởi vì, trong thành phần đương nhiên của HĐT có đại diện Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên là người học của trường đại học[16], đại diện cho tiếng nói và quyền lợi của người học hiện đang học tập tại các cơ sở giáo dục đại học. Tuy nhiên, thời gian học của người học tại các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam là rất khác nhau tùy theo trình độ đào tạo, vì thế, nên học tập kinh nghiệm của Hoa Kỳ và Úc, chia theo từng nhóm đối tượng chứ không có nhiệm kỳ chung. Đối với thành viên là đại diện của sinh viên nên có nhiệm kỳ từ 01 đến 02 năm.

Dù còn khá sớm để bàn đến việc bổ sung mới cho Luật Giáo dục đại học, nhưng những kinh nghiệm nước ngoài sẽ giúp chúng ta thấy nhiều cách tiếp cận khác nhau để đề ra các giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật, coi đổi mới quản trị đại học là khâu đột phá trong việc phát triển giáo dục đại học ở giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay.

PGS.TS. Vũ Thị Lan Anh

Đại học Luật Hà Nội



[1]. Nghiên cứu được thực hiện trong khuôn khổ Đề tài khoa học cấp Bộ “Đổi mới mô hình quản trị Đại học Luật đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động và thực hiện tự chủ đại học”, Bộ Tư pháp.

[2]. Xem thêm: “Leadership and Governance”, p. 14, nguồn: http://www.msche.org/, truy cập ngày 10/4/2020.

[3]. NCS.ThS. Phạm Quý Đạt, “Mô hình quản trị đại học ở Hoa Kỳ và kinh nghiệm cho Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo “Quản trị đại học tại một số quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam”, Trường Đại học Luật Hà Nội, tháng 10/2018, tr. 51.

[4]. Xem: TS. Nguyễn Bá Bình, Kinh nghiệm giáo dục đại học của Úc trong Đề án khoa học “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sửa đổi, bổ sung Luật Giáo dục đại học năm 2012” thuộc Chương trình khoa học giáo dục quốc gia; Australian Government, The Higher Education Reform Package (2017) https://docs.education.gov.au/system/files/doc/other/ed17-0138_-_he_-_glossy_budget_report_acc.pdf, truy cập tháng 5/2019; Melbourne Centre for the Study of Higher Education, Visions for Australian Tertiary Education (2017), https://melbourne-cshe.unimelb.edu.au/__data/assets/pdf_file/0006/2263137/ MCSHE-Visions-for-Aust-Ter-Ed-web2.pdf, truy cập tháng 5/2019.

[5]. Trung Quốc quản trị giáo dục đại học: Thí điểm Hội đồng trường, nguồn: https://giaoducthoidai.vn/trung-quoc-quan-tri-gddh-thi-diem-hoi-dong-truong-3773127.html, truy cập ngày 12/4/2020.

[6]. TS. Phan Thị Lan Hương, “Mô hình quản trị đại học hiện đại ở Nhật Bản và một số kinh nghiệm cho Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo “Quản trị đại học tại một số quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam”, Trường Đại học Luật Hà Nội, tháng 10/2018, tr. 41.

[7]. TS. Đào Lệ Thu, Kinh nghiệm giáo dục đại học của Thái Lan trong Đề án khoa học “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sửa đổi, bổ sung Luật Giáo dục đại học năm 2012” thuộc Chương trình khoa học giáo dục quốc gia.

[8]. PGS. TS. Vũ Thị Lan Anh & ThS. Nguyễn Quang Huy, Kinh nghiệm giáo dục đại học của Hoa Kỳ trong Đề án khoa học “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sửa đổi, bổ sung Luật Giáo dục đại học năm 2012” thuộc Chương trình khoa học giáo dục quốc gia.

[9]. PGS. TS. Vũ Thị Lan Anh & ThS. Nguyễn Quang Huy, tlđd.

[10]. TS. Nguyễn Bá Bình, tlđd.

[11]. ThS. Vũ Thùy Trang, Kinh nghiệm giáo dục đại học của Trung Quốc trong Đề án khoa học “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sửa đổi, bổ sung Luật Giáo dục đại học năm 2012” thuộc Chương trình khoa học giáo dục quốc gia.

[12]. TS. Đào Lệ Thu, tlđd.

[13]. Jun OBA (RIHE, Hiroshima University), Incorporation of National Universities in Japanand its Impact uponInstitutional Governance, https://home.hiroshima-u.ac.jp/oba/docs/incorporation2006.pdf, truy cập 10/4/2020.

[14]. ThS. Nguyễn Đức Việt, Kinh nghiệm giáo dục đại học của Nhật Bản trong Đề án khoa học “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sửa đổi, bổ sung Luật Giáo dục đại học năm 2012” thuộc Chương trình khoa học giáo dục quốc gia.

[15]. Khoản 10 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học.

[16]. Khoản 10 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: