Thứ năm 12/03/2026 06:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kinh nghiệm thừa nhận và sử dụng luật tục ở một số quốc gia trên thế giới

Trong các xã hội tiền nhà nước, luật tục giữ vai trò thống trị. Cũng như ở Việt Nam, các dân tộc ở các nước trên thế giới đều có luật tục riêng của mình để điều chỉnh các quan hệ trong cộng đồng tộc người.

Khái niệm luật tục được các nhà khoa học nước ta bàn luận nhiều, nhưng về cơ bản thống nhất khái niệm được đưa vào Từ điển Luật học: “Luật tục là những quy tắc xử sự mang tính chất bắt buộc do các cộng đồng làng xã xây dựng nên và được truyền từ đời này sang đời khác”(1). Luật tục có thể tồn tại bằng truyền miệng hoặc có thể được ghi bằng văn bản. Luật tục là pháp luật của các cộng đồng làng xã hoặc của cả một cộng đồng dân tộc thiểu số. Luật tục, khi có nội dung phù hợp với tiến bộ xã hội, tạo được công bằng, công lý và trật tự xã hội, thì được Nhà nước thừa nhận và trở thành pháp luật tập quán, còn nếu cổ hủ, lạc hậu hoặc mang tính chất mê tín dị đoan thì sẽ bị Nhà nước cấm đoán(2).

Luật tục hay tập quán pháp, tương đương với các thuật ngữ nước ngoài “Customary laws”, “Folk laws” là một hiện tượng xã hội phổ biến của nhân loại ở thời kỳ phát triển tiền công nghiệp và còn tồn tại đến ngày nay trong nhiều tộc người trên thế giới, nhất là ở châu Á và châu Phi(3). Cho đến thế kỷ XIX, các chính phủ thực dân trên toàn thế giới chủ yếu quan tâm đến việc kiểm soát các trung tâm thương mại. Tuy nhiên, trong quá trình chuyển các thuộc địa thương mại thành các thuộc địa sản xuất, các chính quyền thuộc địa ngày càng tiếp xúc với người dân bản địa nhiều hơn. Trong các nỗ lực, nhằm giành quyền kiểm soát, họ phải xác định mối quan hệ của họ đối với những hệ thống pháp luật và chính trị hiện hành. Nhìn chung, họ kiềm chế không can thiệp vào luật gia đình nhưng họ không thể đơn giản bỏ mặc cho luật tục điều chỉnh các đối tượng khác, chẳng hạn như Luật Hình sự và Luật Ruộng đất có liên quan đến vị trí chính trị và kinh tế của các chính quyền thực dân và các mối quan hệ kinh tế của họ với người địa phương.

Các cường quốc thực dân khác nhau có chính sách rất khác nhau. Với truyền thống tập trung hóa của mình, Cộng hòa Pháp là một điển hình cho thái cực nỗ lực trong việc giảm bớt quyền lực của các hệ thống luật hiện hành của Nhà nước thuộc địa. Vương quốc Anh lại ở một thái cực khác, họ rất chú trọng đến việc thống trị một cách gián tiếp, nhưng đồng thời công nhận luật tục một cách rộng rãi. Hà Lan có một quan điểm dung hòa, cũng như ở các nước thuộc địa khác, ở Hà Lan đã diễn ra các cuộc tranh luận về thể chế và phạm vi ảnh hưởng của cái gọi là luật “Adat” của những người Anh Điêng ở Đông Hà Lan(4).

Sau khi giành độc lập, các quốc gia mới phải xem xét lại hình thức và tình trạng trật tự pháp luật của họ, phần lớn các nước lựa chọn chính sách Mẫu quốc thực dân và thuần túy tiếp quản luật thực dân trước đây, kể cả chính sách công nhận luật tục. Một số nước, trong đó có Malawi, cố gắng thiết lập một trật tự pháp lý có tính “bản địa” hơn. Về danh nghĩa, Indonesia tuyên bố đã bản địa hóa hệ thống pháp luật của mình; trên thực tế, đất nước này vẫn tiếp tục phát triển theo hướng thống nhất pháp luật mà đã được khởi xướng bởi Chính phủ của những người Anh Điêng ở Đông Hà Lan.

Ở các nước có dân bản xứ như: Canada, Hoa Kỳ, New Zealand và một số nước ở Mỹ La tinh, nhân quyền, đặc biệt là việc bảo vệ quyền văn hóa và quyền tự quyết của người dân bản xứ đã trở thành trọng tâm của các cuộc tranh luận hiện nay. Cuộc tranh luận cũng được tiến hành trong bối cảnh quản lý về tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Các nhóm người bản địa đang cố gắng phát triển các hình thức quản lý “bản địa” đối với rừng nhiệt đới, đất và nước, đồng thời kêu gọi công nhận các quyền của các cộng đồng địa phương. Vấn đề đa dạng pháp luật không chỉ hạn chế ở mối quan hệ giữa luật pháp và luật tục. Ở nhiều nước, có phần đông dân số là Hồi giáo, nhiều người đã lên tiếng đòi hỏi sử dụng Luật Hồi giáo để thay thế cho luật quốc gia. Thông thường, đây chính là hành động phản ứng lại chính sách thế tục hóa trước đây đã từng xảy ra ở Thổ Nhĩ Kỳ. Ở Nepal, Luật Hindu được coi là cơ sở cho hệ thống luật của Nhà nước. Ở cả Nepal và Ấn Độ, sự đa dạng của Luật Hindu và Luật Hồi giáo địa phương là một đặc điểm của một hệ thống pháp luật của các quốc gia này(5).

Dòng pháp luật châu Âu lục địa (Civil Law) đã tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về vai trò của tập quán pháp luật. Có quan điểm xã hội học pháp luật cho rằng, tập quán đóng vai trò chủ đạo trong các nguồn của pháp luật, chính tập quán là nền tảng của pháp luật, xác định các phương pháp áp dụng, phát triển của pháp luật do thẩm phán, học thuyết đưa ra. Đối với quan điểm trên, trường phái pháp luật thực định phủ nhận vai trò của tập quán. Cả hai trường phái nêu trên, hoặc quá tả hoặc quá hữu đều không có quan điểm đúng đắn về tập quán pháp luật. Tập quán không phải là yếu tố chính và đầu tiên của pháp luật, nó chỉ là một trong những yếu tố tìm ra giải pháp công minh để giải quyết các vấn đề pháp luật. Trên thực tế, các nước theo truyền thống Civil Law đều thừa nhận tập quán là những nguyên tắc xử sự hình thành một cách tự phát, tồn tại lâu đời, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, trở thành thói quen tự nhiên và mang tính bắt buộc chung như quy phạm pháp luật.

Nguồn của hệ thống pháp luật Anh gồm hai loại nguồn chính là luật thành văn và luật bất thành văn. Luật thành văn là các đạo luật do Nghị viện và các văn bản phụ trợ do Chính phủ ban hành. Luật bất thành văn bao gồm hai bộ phận: Một là, các tập quán phổ biến từ thời thượng cổ (Common Law); Hai là, các tập quán hoặc luật lệ địa phương (Particular Customs or Laws) có ảnh hưởng tới những người sống ở một vùng nhất định nào đó.

Để được coi là tập quán pháp địa phương phải thỏa mãn một số tiêu chí. Thứ nhất, tập quán đó phải mang tính cổ xưa, nghĩa là phải tồn tại từ lâu đời. Thứ hai, tập quán đó phải có tính trường tồn, tức là tập quán đó phải tồn tại lâu dài và có khả năng tiếp tục tồn tịa trong tương lai. Thứ ba, tập quán đó phải được đón nhận một cách tự nguyện, hay nói cách khác là tập quán đó phải tồn tại công khai và không bị cộng đồng địa phương phủ nhận. Thứ tư, tập quán đó phải có lý, điều đó không bắt buộc chứng minh rằng có những lý do chính đáng cho việc áp dụng một tập quán nào đó mà chỉ cần tập quán đó không đi ngược lại lẽ phải. Thứ năm, tập quán đó phải mang tính chắc chắn, không thể thay đổi. Thứ sáu, tập quán đó phải mang tính phù hợp, không đi ngược lại những tập quán khác.

Trong lịch sử, những tập quán quan trọng nhất của Anh là tập quán thương mại đã được đưa vào trong án lệ và hình thành nên Luật Thương mại và sau này đã được pháp điển hóa thành Luật Hối phiếu năm 1882.

Hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa là hệ thống pháp luật gắn liền với hệ tư tưởng Mác – Lê Nin về nguồn gốc, bản chất, hình thức nhà nước và pháp luật, gắn liền với Cách mạng tháng Mười Nga và sự ra đời, phát triển của Nhà nước xã hội chủ nghĩa(6). Nguồn của hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa rất rộng, trong đó có tập quán pháp luật. Các tập quán pháp luật thể hiện ở các lệ làng, hương ước, luật tục. Trên thực tế, một số quốc gia đã nghiên cứu, thể chế hóa một số tập quán phù hợp vào luật pháp để điều chỉnh các quan hệ xã hội.

Nguồn của hệ thống pháp luật Hồi giáo bao gồm Kinh Coran và Sunna; nguồn phát sinh bao gồm Jima và Qias. Kinh Coran là cuốn kinh thánh của đạo Hồi được viết bằng tiếng Ả Rập. Kinh Coran hình thành từ những gì mà Mohammed tuyên đọc hay đọc lại những lời của thượng đế khi thuyết giảng. Kinh Coran gồm 114 chương, chia thành các tiết với 6.237 đoạn thơ. Kinh Coran nêu ra rất nhiều các luật lệ mà các tín đồ Hồi giáo phải một mực tuân thủ. Trong kinh Coran chỉ có rất ít đoạn có thể áp dụng như quy phạm pháp luật. Những đoạn này thường không đủ độ chính xác và cụ thể như những quy phạm pháp luật và điều chỉnh nhiều vấn đề như: Hiến pháp (10 đoạn); quyền dân sự (70 đoạn); nhân thân (70 đoạn); hình sự (30 đoạn); thủ tục tư pháp (13 đoạn)...; Sunna có nghĩa là “con đường quen đi” là lối sống, cách hành xử của nhà tiên tri Mohammed. Sunna bao gồm những hành động cụ thể, những lời khuyên dạy hoặc cấm đoán xuất phát trực tiếp từ Mohammed. Sunna là nguồn luật quan trọng của Islam sau kinh Coran. Jima được sử dụng để giải thích các nguồn luật cơ bản, thực chất nó là quan điểm chung, các giải pháp pháp lý cho những tình huống mới do các học giả Hồi giáo đưa ra. Jima gần giống như tập quán nhưng không phải là tập quán. Qias thực chất là phương pháp suy luận tương tự để giải thích luật. Bằng phương pháp này, các luật gia có thể “kết hợp ý chí của thần thánh với lý trí của con người”. Qias được cộng đồng Hồi giáo tuân thủ nhờ dựa trên kinh Coran và Sunna.

Ở Nhật Bản, tập quán pháp được hiểu là những quy tắc xử sự được xã hội tuân thủ mặc dù không được bất cứ cơ quan công quyền nào đặt ra. Tập quán được coi là nguồn luật nếu tập quán đó chưa được pháp luật quy định đồng thời không trái với trật tự công cộng hoặc trái với quy phạm đạo đức, không bị bãi bỏ bởi bất cứ quy định pháp luật nào do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc được pháp luật quy định cụ thể về việc áp dụng tập quán đó. Về nguyên tắc, tập quán chỉ là nguồn luật phụ trợ và thẩm phán chỉ áp dụng tập quán pháp khi không có quy định trong luật thành văn. Vì vậy, luật có giá trị ràng buộc cao hơn tập quán, nhưng trong lĩnh vực dân sự, có những trường hợp tập quán cao hơn luật.

Tập quán (Adat) có vai trò khá quan trọng trong hệ thống pháp luật Indonesia. Tập quán điều chỉnh phạm vi rất lớn các quan hệ xã hội trong lĩnh vực đất đai, hôn nhân gia đình, thừa kế..., thậm chí cả trong nhiều giao dịch thương mại. Ngày nay ở Indonesia, luật của người Minangkabau đang được tiếp tục nghiên cứu một cách nghiêm túc. Thế hệ trẻ của Minangkabau được đào tạo theo định kỳ. Một phòng ban về chữ viết của Minangkabau được thành lập ở Khoa Chữ viết Đại học Andalas. Việc giảng dạy các tập tục Minangkabau cũng được đưa vào chương trình giảng dạy trung học, trung học cơ sở và tiểu học(7).

Ở Malaysia, tập quán là một trong những nguồn luật quan trọng. Mỗi địa phương có những tập quán riêng, một số tập quán có giá trị áp dụng và được các Tòa án thừa nhận và áp dụng như các quy định của pháp luật trong các văn bản thành văn và các án lệ. Ở miền Tây Malaysia, các tập quán được áp dụng trong hoạt động của Tòa án chủ yếu là các tập quán về sở hữu đất đai và thừa kế. Có hai loại tập quán ở vùng này được áp dụng ở các bang khác nhau là tập quán theo chế độ mẫu hệ (hai bang Negeri Sembilan và Naning) được áp dụng chủ yếu ở hai bang Negeri Sembilan và Naning. Các tập quán ở miền Đông của Malaysia gắn liền với người dân địa phương, chủ yếu được áp dụng ở nông thôn hai Bang Sabah và Sarawak. Tòa án áp dụng các tập quán này là Tòa án của người bản xứ. Một trong những tập quán đặc trưng của vùng này là Tòa án có thể quyết định việc bồi thường thiệt hại được trả bằng hiện vật có giá trị tương đương với mức thiệt hại.

Tìm hiểu ở nước nước láng giềng Lào cho thấy, luật tục của các bộ tộc Lào điều chỉnh hầu hết cuộc sống cộng đồng, trong đó có liên quan đến hoạt động quản lý nhà nước. Người Lào và một bộ phận người Thái ở Thái Lan có “hiit sip soong” và “khoong sip sii” với nhiều nét tương đồng với người Thái ở Việt Nam vẫn luôn tồn tại trong sinh hoạt cộng đồng địa phương(8).

Như vậy, trên thực tế, nhiều nước trên thế giới đã và đang phát triển luật tục theo cách riêng của mình. Điều này chứng tỏ, tập quán hay luật tục là một thiết chế quan trọng không thể thiếu trong đời sống xã hội của các quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo. Mặt khác, tập quán, luật tục là một trong những nguồn của pháp luật, được nhiều quốc gia sử dụng để góp phần quản lý xã hội có hiệu quả hơn. Trong yêu cầu hội nhập quốc tế, chúng ta thấy rằng, nhiều quốc gia, dân tộc đang bỏ công sức, tiền của để nghiên cứu văn hóa các tộc người trên thế giới nói chung và khoa học nghiên cứu nhân chủng học nói riêng, để rồi đưa ra những kết luận xác đáng về nguồn gốc của con người, của tộc người,… Do vậy, việc Việt Nam nghiên cứu luật tục của các dân tộc thiểu số và hương ước của người Việt, trong đó, có luật tục Thái là con đường, định hướng chung của nhiều nhà khoa học và nhiều quốc gia trên thế giới trong chiến lược nghiên cứu khoa học nói chung. Mặt khác, trong tình hình hiện nay, xu thế của thế giới là giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc, quốc gia mình để nhằm khẳng định mình, thúc đẩy lòng tự hào dân tộc phục vụ cho nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội và việc giao lưu văn hoá quốc tế.

Luật tục là một hiện tượng thuộc thượng tầng kiến trúc đã hình thành, phát triển cùng sự hành thành và phát triển của xã hội loài người. Với những đặc điểm riêng, luật tục có mối quan hệ chặt chẽ với pháp luật và nó sẽ còn tồn tại lâu dài, giữ vị trí quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm điều hòa, cân bằng xã hội trong cộng đồng các dân tộc ít người, trở thành bản sắc văn hóa của từng tộc người, cùng tạo nên bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam

Tài liệu tham khảo:

1. Từ điển Luật học, (2006), Nxb. Từ điển bách khoa, Nxb. Tư Pháp, Hà Nội.

2. Nxb. Chính trị Quốc gia (2000), Luật tục và phát triển nông thôn Việt Nam hiện nay, kỷ yếu Hội thảo khoa học, Hà Nội, tr. 528.

3. Chương trình Thái học Việt Nam – Viện Việt Nam học và khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội, Các tập Kỷ yếu hội thảo Thái học lần thứ nhất (1991); lần thứ hai (1998); lần thứ ba (2002), lần thứ tư (2006); lần thứ năm (2009); lần thứ sáu (2012).

4. Viện nghiên cứu văn hóa dân gian (2000), Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

5. Luật tục và phát triển nông thôn Việt Nam hiện nay, kỷ yếu Hội thảo khoa học, Hà Nội, 2000.

6. C. Mác và Ph.ăng-ghen (1998), Về quyền con người, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

7. Hoàng Trinh (2000), Bản sắc dân tộc và hiện đại hóa trong văn hóa, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

8. Ngô Đức Thịnh, Cầm Trọng (2003), Luật tục Thái ở Việt Nam, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

Vi Văn Sơn

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: