Thứ tư 23/09/2026 06:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật từ góc nhìn thực tiễn

Lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật từ góc nhìn thực tiễn

Tóm tắt: Bài viết phân tích và đánh giá thực tiễn lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Abstract: The article analyzes and assesses the practice of gender mainstreaming in drafting legal documents, thereby, recommends solutions to improve the effectiveness of gender mainstreaming in drafting legal documents.

1. Khái quát về lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Dưới góc độ khoa học về giới thì lồng ghép giới là đưa yếu tố giới vào dòng chảy chủ đạo[1]. Lồng ghép giới được hiểu như một phương pháp tiếp cận mang tính chi phối các ý tưởng, giá trị, quan niệm, thái độ, mối quan hệ và cách thức tiến hành mọi việc trong xã hội.

Trên phạm vi toàn xã hội, lồng ghép giới là quá trình xác định các mục tiêu bình đẳng giới, coi đó là mục tiêu quan trọng, đồng thời, chủ động tìm các vấn đề giới liên quan tới hoạt động của các nhóm xã hội và giải quyết, nhằm tiến tới bình đẳng giới một cách toàn diện.

Với ý nghĩa này, lồng ghép giới là một quá trình liên tục nhằm tuyên truyền, vận động, thay đổi hành vi và mối tương quan giới, là quá trình thu hút mọi thành viên trong xã hội tham gia đóng góp vào tiến trình nhận thức vấn đề bất bình đẳng giới, nhu cầu giới và tìm cách thức thực hiện các mục tiêu giới nhằm đáp ứng lợi ích giới và nâng cao bình đẳng giới. Như vậy, có thể nói, lồng ghép giới là một biện pháp chiến lược không thể thiếu mà các quốc gia trong tiến trình hướng tới bảo đảm bình đẳng giới cần phải thực hiện.

Dưới góc độ pháp lý, lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới bằng cách xác định vấn đề giới, dự báo tác động giới của văn bản, trách nhiệm, nguồn lực để giải quyết vấn đề giới trong các quan hệ xã hội được văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh (khoản 7 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006).

Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là một phần không thể thiếu trong chiến lược “lồng ghép giới”. Có thể nói, đây là một khâu quan trọng có tính chất quyết định nhất để thực hiện mục tiêu bình đẳng giới. Bởi vì, thực hiện lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật sẽ tạo ra được hệ thống pháp luật về bình đẳng giới hoàn thiện, đồng bộ, bảo đảm các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới thì mới có thể tiếp tục thực hiện các bước, các khâu của chiến lược lồng ghép giới để hiện thực hóa mục tiêu bình đẳng giới.

Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là một biện pháp để thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, phù hợp với đặc thù của mỗi giới; tạo cơ hội phát triển như nhau cho nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình; bảo đảm bình đẳng giới thực chất giữa nam và nữ[2].

Như vậy, lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật được hiểu là cách thức mà các chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải tiến hành, nhằm xác định rõ các vấn đề giới cần phải giải quyết, trên cơ sở đó, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với nội dung các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới để đạt được mục tiêu bình đẳng giới.

2. Đánh giá thực tiễn lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Luật Bình đẳng giới năm 2006 đã ghi nhận biện pháp lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là một biện pháp bảo đảm bình đẳng giới. Với ý nghĩa là một biện pháp bảo đảm bình đẳng giới, lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật được xác định là một yêu cầu không thể thiếu đối với hoạt động xây dựng pháp luật. Trên cơ sở đó, Nghị định số 48/2009/NĐ-CP ngày 19/5/2009 của Chính phủ quy định về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới (Nghị định số 48/2009/NĐ-CP) đã chỉ rõ: Yêu cầu và phạm vi lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; nội dung lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với việc lồng ghép giới (Điều 7 - Điều 13). Thông tư số 17/2014/TT-BTP ngày 13/8/2014 của Bộ Tư pháp quy định về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật tiếp tục cụ thể hóa việc lồng ghép giới trong từng bước của quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, tạo cơ sở pháp lý để thực thi việc lồng ghép giới. Theo quy định của Luật Bình đẳng giới năm 2006, việc lồng ghép giới phải được tiến hành đối với tất cả các văn bản quy phạm pháp luật, nhằm bảo đảm có một hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ và hoàn thiện, phản ánh rõ nội dung của bình đẳng giới trong pháp luật, làm cơ sở để thực hiện các mục tiêu bình đẳng giới. Vì vậy, yêu cầu của việc lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật không chỉ thể hiện trên phương diện về nội dung các vấn đề giới cần phải được giải quyết trong văn bản quy phạm pháp luật mà còn thể hiện rõ trong việc tuân thủ quy trình cũng như thành phần tham gia vào các bước, các khâu của quá trình lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Về thành phần tham gia, pháp luật hiện hành quy định rõ phải bảo đảm sự tham gia của cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhà khoa học, chuyên gia về giới, yếu tố nam - nữ trong thành phần tham gia... Như vậy, bảo đảm tuân thủ chặt chẽ quy định của pháp luật về lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật sẽ là cơ sở để hiện thực hóa vấn đề bình đẳng giới trong hệ thống pháp luật, góp phần thực hiện các mục tiêu bình đẳng giới.

Có thể thấy, kể từ khi Luật Bình đẳng giới năm 2006 được ban hành, vấn đề lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật đã từng bước được triển khai có hiệu quả. Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội với tư cách là cơ quan được phân công phụ trách lĩnh vực bình đẳng giới trong các hoạt động của Quốc hội, thực hiện nhiệm vụ thẩm tra lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết trình Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội đã phân tích lồng ghép bình đẳng giới trong 09 dự án luật, pháp lệnh do Ủy ban chủ trì thẩm tra; tiến hành lựa chọn và tham gia với các ủy ban khác thẩm tra lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong 08 dự án luật[3]. Theo thống kê, từ năm 2011 đến tháng 6/2020, Quốc hội đã ban hành Hiến pháp năm 2013, 07 bộ luật, 161 luật; Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành 15 pháp lệnh và khoảng 45 bộ luật, luật có liên quan đến vấn đề bình đẳng giới; Chính phủ ban hành 1.413 nghị định và đều được xem xét lồng ghép vấn đề bình đẳng giới theo quy định của Luật Bình đẳng giới năm 2006 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Theo số liệu thống kê của Bộ Tư pháp, năm 2015 có 129 văn bản quy phạm pháp luật được lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trên tổng số 130 văn bản quy phạm pháp luật cần lồng ghép vấn đề bình đẳng giới, đạt tỷ lệ 99%. Năm 2019, thống kê ở 04 cấp trung ương, tỉnh, huyện, xã có 134 văn bản quy phạm pháp luật được lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trên tổng số 139 văn bản quy phạm pháp luật cần lồng ghép vấn đề bình đẳng giới, đạt tỷ lệ 96%[4]. Nhiều văn bản quy phạm pháp luật được ban hành, trong đó, việc lồng ghép giới được dư luận đánh giá cao bởi đánh giá tác động của việc lồng ghép giới cho thấy, văn bản pháp luật đó đã giải quyết tốt các vấn đề giới, cách tiếp cận và giải quyết vấn đề giới thể hiện trong nội dung các quy định của pháp luật thể hiện tính hiện đại và phù hợp với hoàn cảnh thực tế của Việt Nam trong tiến trình bảo đảm bình đẳng giới. Có thể kể đến một số dự án luật tiêu biểu sau:

2.1. Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015

Thực hiện việc lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, các vấn đề giới đã được giải quyết một cách thấu đáo trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015. Trong đó, quy định về dự kiến cơ cấu và thành phần những người được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân đều chỉ rõ dự kiến về số lượng đại biểu nữ được giới thiệu ứng cử phù hợp để bảo đảm mục tiêu bình đẳng giới. Đặc biệt, Luật quy định rõ số lượng phụ nữ được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội do Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Đoàn Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, bảo đảm có ít nhất ba mươi lăm phần trăm tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội là phụ nữ (khoản 3 Điều 8). Với quy định này, Luật đã thể hiện rõ nội dung các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới, bảo đảm giải quyết vấn đề bất bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị, tạo điều kiện, cơ hội để phụ nữ tham chính, góp phần thực hiện mục tiêu bình đẳng giới. Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 đã tạo cơ sở pháp lý để thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị. Kết quả là, tỷ lệ phụ nữ là đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân đã được cải thiện rõ rệt. Trong thành phần đại biểu Quốc hội khóa XV, tỷ lệ nữ đã đạt tới 30,26% - tỷ lệ nữ cao nhất trong Quốc hội từ trước đến nay. Với kết quả này, đã bước đầu giúp Việt Nam thu hẹp dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị.

2.2. Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017

Bảo đảm lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 đã quy định rõ việc bảo đảm cơ hội bình đẳng cho nam và nữ trong hoạt động kinh doanh. Mặc dù, pháp luật quy định quyền bình đẳng của nam, nữ trong việc thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh nhưng phụ nữ do có sự khác biệt về giới tính dẫn đến cơ hội thực hiện việc đầu tư kinh doanh trên thực tế còn hạn chế. Doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ còn hạn chế và mới chỉ tập trung vào các lĩnh vực dịch vụ với quy mô nhỏ, cơ hội tiếp cận với các nguồn lực của doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ chưa cao. Điều này dẫn đến sự bất bình đẳng về giới trong lĩnh vực kinh tế vẫn còn tồn tại trên thực tế. Nhận diện được tình trạng đó, việc xác định và phân tích các vấn đề giới khi lồng ghép giới trong xây dựng Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đã giải quyết thỏa đáng vấn đề giới. Vì vậy, theo quy định của Luật này, nam và nữ đều bình đẳng trong việc thành lập, tổ chức và hoạt động doanh nghiệp, trong tiếp cận thông tin, nguồn vốn, thị trường và nguồn lao động. Đặc biệt, Luật đã đưa ra định nghĩa chính thức về “doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ” làm cơ sở để áp dụng biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế theo quy định của Luật Bình đẳng giới năm 2006, bảo đảm ưu đãi về thuế và tài chính đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng nhiều lao động nữ. Quy định này đã tạo cơ hội bình đẳng trên thực tế cho các doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, góp phần thu hẹp khoảng cách giới trong lĩnh vực kinh tế, bảo đảm thực hiện các mục tiêu về bình đẳng giới đối với lĩnh vực kinh tế.

2.3. Bộ luật Lao động năm 2019

Bằng cách tuân thủ quy trình lồng ghép giới theo quy định của pháp luật, Bộ luật Lao động năm 2019 đã giải quyết tốt các vấn đề giới. Theo đó, nhiều quy định của Bộ luật đã thể hiện rõ nội dung các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới. Đặc biệt, Bộ luật đã thay đổi cách tiếp cận từ “bảo vệ lao động nữ” sang cách tiếp cận bảo đảm quyền đối với mọi người lao động, cả nữ và nam. Với cách tiếp cận này, phụ nữ và nam giới đều được bảo đảm trên thực tế cơ hội tiếp cận việc làm bình đẳng mà không bị phân biệt đối xử trên cơ sở giới tính. Chẳng hạn, Bộ luật Lao động năm 2019 đã quy định thu hẹp khoảng cách tuổi nghỉ hưu giữa lao động nữ và nam hoặc quy định loại bỏ việc cấm sử dụng người lao động nữ làm việc trong môi trường nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại. Đây là những quy định thể hiện sự trung tính về giới, có ý nghĩa quyết định tới việc bảo đảm bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động, việc làm tại Việt Nam, góp phần thu hẹp khoảng cách giới trong lĩnh vực vốn có sự chênh lệch lớn về vị trí, vai trò, cơ hội giữa nam và nữ.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành công kể trên, việc lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật vẫn còn tồn tại một số bất cập, vướng mắc, cụ thể là:

Thứ nhất, pháp luật hiện hành chưa quy định thống nhất về việc lồng ghép giới đối với tất cả các văn bản quy phạm pháp luật. Luật Bình đẳng giới năm 2006 quy định buộc phải lồng ghép giới đối với tất các văn bản quy phạm pháp luật, song Nghị định số 48/2009/NĐ-CP lại quy định lồng ghép vấn đề bình đẳng giới được áp dụng đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật được xác định có nội dung liên quan đến bình đẳng giới hoặc có vấn đề bất bình đẳng giới, phân biệt đối xử về giới trong phạm vi điều chỉnh của văn bản (khoản 2 Điều 7). Điều này đã tạo ra sự thiếu thống nhất trong quy định của pháp luật hiện hành về việc lồng ghép giới.

Thứ hai, Luật Bình đẳng giới năm 2006 chưa quy định việc lồng ghép giới trong các chính sách như kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Điều này sẽ dẫn đến việc hạn chế ưu tiên dành cho các vấn đề giới trong quá trình hoạch định chính sách cũng như hạn chế hiệu quả của việc thực thi pháp luật về bình đẳng giới. Bởi vì, chính sách phát triển kinh tế - xã hội được xây dựng dựa trên các yếu tố bình đẳng giới sẽ là cơ sở để bảo đảm thực thi pháp luật về bình đẳng giới, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu về bình đẳng giới.

Thứ ba, vẫn còn thiếu các số liệu phân tích về giới hoặc có số liệu phân tích giới nhưng các số liệu chưa có tính hệ thống, chưa phản ánh khách quan sự bất bình đẳng giới trên thực tế. Điều này làm ảnh hưởng đáng kể đến việc lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

3. Nâng cao hiệu quả lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Từ những phân tích trên, tác giả cho rằng, để bảo đảm việc triển khai lồng ghép giới một cách hiệu quả, cần phải khắc phục một số tồn tại, vướng mắc nêu trên, cụ thể là:

Thứ nhất, quy định rõ việc lồng ghép giới là bắt buộc đối với tất cả các văn bản quy phạm pháp luật, không giới hạn việc lồng ghép giới đối với văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến bình đẳng giới. Bởi vì, trong nhiều lĩnh vực, nếu không có sự phân tích chuyên sâu về giới sẽ không thể phát hiện được có sự phân biệt đối xử về giới. Vì thế, việc bỏ qua vấn đề lồng ghép giới đối với các lĩnh vực cho rằng có sự trung lập về giới có thể dẫn đến việc duy trì sự phân biệt đối xử gián tiếp, điều này sẽ có những tác động không mong muốn về bình đẳng giới.

Thứ hai, cần quy định thống nhất trong pháp luật, yêu cầu bắt buộc phải lồng ghép giới trong xây dựng các chính sách, kế hoạch, chương trình ở các cấp trung ương và địa phương. Việc quy định này là cần thiết vì chỉ khi quy định rõ vấn đề bình đẳng giới trong các chính sách, kế hoạch cụ thể thì mới có cơ sở để thực hiện bình đẳng giới trên thực tế, bảo đảm thực hiện các mục tiêu bình đẳng giới.

Thứ ba, cần quy định rõ về việc thống kê số liệu giới để có cơ sở cho việc phân tích giới cho việc lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và kế hoạch, chính sách. Hiện nay, vấn đề thống kê số liệu giới chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến việc thống kê số liệu giới chưa được thực hiện đều khắp hoặc có số liệu thống kê giới nhưng số liệu chưa bảo đảm tính chính xác, dẫn đến thiếu căn cứ để phân tích vấn đề giới. Điều này ảnh hưởng đến hiệu quả lồng ghép vấn đề giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

TS. Bùi Thị Mừng

Trường Đại học Luật Hà Nội

[1]. Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, Tài liệu hướng dẫn lồng ghép giới - Hướng tới bình đẳng giới ở Việt Nam thông qua chu trình, chính sách quốc gia có trách nhiệm giới.

[2]. Xem: Điều 2 Thông tư số 17/2014/TT-BTP ngày 13/8/2014 của Bộ Tư pháp quy định về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

[3]. Văn phòng Quốc hội, Vụ Các vấn đề xã hội, Báo cáo kết quả hội thảo Ủy ban về các vấn đề xã hội với việc thẩm tra lồng ghép vấn đề bình đẳng giới, Hà Nội, ngày 14/3/2017.

[4]. Hồ Hương, Kết quả thực hiện mục tiêu “Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về bình đẳng giới, https://quochoi.vn/UserControls/Publishing/News/BinhLuan/pFormPrint.aspx?UrlListProcess=/content/tintuc/Lists/News&ItemID=50714.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: