Thứ ba 28/07/2026 20:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Luật Bình đẳng giới - Thực tiễn và kinh nghiệm 10 năm thực hiện

Bài viết nêu lên thực trạng công tác bình đẳng giới trong các lĩnh vực chính trị, lao động, giáo dục và đào tạo, quản lý nhà nước, từ đó, đưa ra một số bài học kinh nghiệm trong việc thực hiện công tác bình đẳng giới sau 10 năm thi hành Luật Bình đẳng giới.

1. Thực trạng công tác bình đẳng giới sau khi Luật Bình đẳng giới được ban hành

Mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách khá đầy đủ và rõ ràng trong việc đảm bảo bình đẳng giới trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội và gia đình. Tuy nhiên, từ quan điểm chính sách tới thực hiện chính sách vẫn còn có những khoảng trống nhất định.

1.1. Trong lĩnh vực chính trị
Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020 đề ra mục tiêu tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy Đảng nhiệm kỳ 2016 - 2020 đạt từ 25% trở lên và tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội và tỷ lệ nữ đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 - 2015 đạt từ 30% trở lên và nhiệm kỳ 2016 - 2020 đạt trên 35%. Tuy nhiên, các chỉ tiêu này chưa đạt được như kỳ vọng. Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội nhiệm kỳ 2011 - 2015 đạt ở mức 24,4%, giảm 1,3% so với nhiệm kỳ trước (nhiệm kỳ 2007 - 2011 đạt ở mức 25,7%). Mặc dù, khi so sánh với các nước trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam nằm trong nhóm nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao. Tuy nhiên, vị trí xếp hạng của Việt Nam đã giảm so với trước (hiện nay, Việt Nam đứng thứ 43/143 quốc gia trên thế giới và giữ vị trí thứ 02 (sau nước Lào) trong 08 nước ASEAN). Khi so sánh tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội so với các nhiệm kỳ trước đây còn cho thấy đang có xu hướng giảm dần.

Tương tự, tỷ lệ nữ đại biểu Hội đồng nhân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nhiệm kỳ 2011 - 2015 đạt ở mức 25,17% và tỷ lệ nữ đại biểu Hội đồng nhân dân quận, huyện, thị xã là 24,62%, tỷ lệ nữ đại biểu Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn là 21,71%. Như vậy, tất cả các chỉ tiêu này đều thấp hơn so với chỉ tiêu kỳ vọng của chiến lược quốc gia (từ 30% trở lên).

Ngoài ra, chiến lược cũng quy định, phấn đấu đến năm 2015 sẽ đạt 80% các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ. Tuy nhiên, tính đến hết tháng 02/2012, có 12/30 Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có nữ cán bộ đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo chủ chốt, chiếm tỷ lệ 40% và có 24/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có nữ đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, chiếm tỷ lệ 38%. Chiến lược quốc gia cũng quy định phấn đấu đến năm 2015 đạt 70% cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội có lãnh đạo chủ chốt là nữ nếu tỷ lệ nữ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động từ 30% trở lên. Tuy nhiên, tính đến hết tháng 02/2012, mới có 14/27 cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội có lãnh đạo chủ chốt là nữ, chiếm tỷ lệ 51,85%.

Các kết quả trên cho thấy, hiện còn một khoảng trống khá lớn giữa kỳ vọng và kết quả thực tế. Điều này đặt ra thách thức lớn đối với Đảng và Nhà nước trong việc tăng cường tỷ lệ phụ nữ tham gia trong lĩnh vực chính trị hiện nay. Có nhiều nguyên nhân khiến cho các qui định của luật pháp chính sách về bình đẳng giới gặp khó khăn để đi vào cuộc sống, trong đó có sự hạn chế trong nhận thức xã hội về bình đẳng giới và việc sử dụng các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới. Thực tế cho thấy, hiện nay không ít người vẫn chưa hiểu đúng về bản chất của bình đẳng giới và thường cho rằng, bình đẳng giới chỉ là vấn đề của phụ nữ. Bên cạnh đó, định kiến giới về vai trò tham gia chính trị của phụ nữ vẫn còn khá phổ biến trong quan niệm của các nhà lãnh đạo và chính bản thân người phụ nữ. Do đó, mặc dù, nỗ lực thúc đẩy bình đẳng giới thường mang tính hình thức mà chưa tuân thủ nguyên tắc cơ bản đó là tôn trọng, ghi nhận và tạo điều kiện thuận lợi trên cơ sở khác biệt, để nam và nữ có thể phát huy tối đa tiềm năng và đóng góp của mình trong lĩnh vực chính trị.

Báo cáo của Chính phủ và kết quả giám sát của Ủy ban Các vấn đề xã hội Quốc hội cho thấy, tỷ lệ phụ nữ tham gia các chức danh quản lý, lãnh đạo trong các cơ quan của Đảng, cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp ở Trung ương và địa phương tuy đã có tăng hơn so với trước nhưng vẫn còn thấp chưa tương xứng với lực lượng lao động nữ và dân số nữ. Nguyên nhân của tình hình này có một phần là do quy định về tuổi nghỉ hưu chênh lệch giữa nam và nữ đã tác động trực tiếp tới cơ hội cho phụ nữ trong việc bổ nhiệm, đề bạt, ứng cử… so với nam giới. Mặt khác, quy định hiện hành về tuổi nghỉ hưu của lao động nữ (bao gồm cả cán bộ, công chức) thấp hơn nam cùng ngành, nghề, lĩnh vực, địa bàn 05 tuổi là một chính sách của Đảng và Nhà nước ta tạo điều kiện để phụ nữ chăm lo gia đình, bảo vệ sức khỏe, đáp ứng nhu cầu của lao động nữ, phù hợp với bối cảnh lịch sử khi chính sách ra đời vào những năm 60 của thế kỷ trước, có thể được coi như là một “biện pháp đặc biệt tạm thời” nhằm bảo đảm sự bình đẳng giữa nam và nữ. Song đến nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế và xã hội, tuổi nghỉ hưu của một bộ phận lao động nữ là vấn đề cần phải quan tâm. Do đó, Chính phủ, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội đã và đang nghiên cứu, điều tra, tổng kết, đánh giá để đề xuất việc sửa đổi, bổ sung quy định này cho phù hợp với thực tiễn.

1.2. Trong lĩnh vực lao động

Các chỉ tiêu liên quan đến mục tiêu bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động đạt được có khả quan hơn so với các mục tiêu khác. Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020 quy định, hàng năm, trong tổng số người được tạo việc làm mới, bảo đảm ít nhất 40% cho mỗi giới (nam và nữ). Theo số liệu thống kê năm 2011, cả nước đã tạo được việc làm cho 1.538.298 lao động, trong đó, lao động nữ được tạo việc làm là 48% và lao động nam được tạo việc làm là 52%. Như vậy, đã đạt chỉ tiêu của Chiến lược đề ra. Bên cạnh đó, Chiến lược quốc gia cũng đề ra chỉ tiêu kỳ vọng tỷ lệ lao động nữ nông thôn dưới 45 tuổi được đào tạo nghề và chuyên môn kỹ thuật đạt 25% vào năm 2015. Theo số liệu thống kê năm 2011, cả nước tuyển mới dạy nghề cho 1.860.000 người (trong đó cao đẳng nghề và trung cấp nghề là 420.000 người, sơ cấp nghề và dạy nghề thường xuyên (dưới 03 tháng) là 1.440.000 người); trong đó, có 43% là nữ; trong số 420.000 người được tuyển mới cao đẳng nghề và trung cấp nghề, có 37% là nữ. Thực hiện Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”, trong năm 2010 và năm 2011 cả nước đã tổ chức dạy nghề cho 798.240 lao động nông thôn (46% học các nghề nông nghiệp và 54% học các nghề phi nông nghiệp), trong đó, gần 50% là lao động nữ.

Tuy nhiên, hiện tại, để đạt được mục tiêu bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động việc làm, hiện vẫn còn khá nhiều thách thức cần giải quyết. Tỷ lệ nữ tham gia lực lượng lao động hiện vẫn thấp hơn rất nhiều so với nam giới. Tỷ lệ nữ tham gia lực lượng lao động ở thời điểm Quý 3 năm 2016 là 72,1%, trong đó, tỷ lệ này ở nhóm nam giới là 81,7% (thấp hơn gần 10%). Tiền lương bình quân của nam và nữ trong nhóm lao động làm công ăn lương cũng có khác biệt khá lớn. Mức lương bình quân của lao động nam đạt ở mức 5.191.000 đồng/tháng, trong đó, mức lương bình quân của lao động nữ đạt ở mức 4.578.000 đồng. Số lượng lao động nữ thiếu việc làm theo giờ chiếm cao hơn so với lao động nam. Trong số 824.800 người thiếu việc làm theo giờ, có 385.700 nam giới và 439.100 phụ nữ. Điều này cho thấy, phụ nữ đang gặp nhiều yếu thế hơn so với nam giới trong việc tiếp cận cơ hội việc làm cũng như hưởng lợi từ thành quả lao động.

1.3. Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Chiến lược quốc gia kỳ vọng tỷ lệ biết chữ của nam và nữ trong độ tuổi từ 15 đến 40 ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn đạt ở mức 90% vào năm 2015. Tuy nhiên, đến thời điểm năm 2011, tỷ lệ phụ nữ biết đọc, biết viết đã đạt 92%; tỷ lệ trẻ em gái vùng vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, học tiểu học và trung học cơ sở đạt khoảng 80%; tỷ lệ biết chữ của nam và nữ trong độ tuổi từ 15 đến 40 ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn đạt trên 80%. Bên cạnh đó, chiến lược quốc gia quy định tỷ lệ nữ thạc sỹ đạt 40% vào năm 2015; tỷ lệ nữ tiến sỹ đạt 20% vào năm 2015. Theo số liệu thống kê năm 2011, tỷ lệ nữ sinh viên chiếm trên 50% trong các trường đại học và cao đẳng; nữ thủ khoa chiếm 61,6% các kỳ tuyển sinh và tốt nghiệp đại học. Đội ngũ nữ trí thức tiếp tục tăng cả về số lượng, chất lượng và được trẻ hóa, chiếm gần 30,53% số người có trình độ thạc sỹ và 17,1% số người có trình độ tiến sỹ. Các kết quả đạt được hiện tại đã tiến khá gần với chỉ tiêu đề ra đến năm 2015 của chiến lược.

Tuy nhiên, mặc dù có thể đạt được các chỉ tiêu đề ra, nhưng để có được bình đẳng giới thực chất thì vẫn còn là một thách thức lớn trong thực tiễn. Tỷ lệ giáo viên nữ đảm nhận các vị trí quản lý giáo dục ở cấp tỉnh và cấp huyện mới chỉ đạt trung bình các năm học từ 2007 - 2013 đạt ở mức 29,9%. Tuy nhiên, tỷ lệ này lại có xu hướng giảm dần theo các năm. Nếu như tỷ lệ này đạt ở mức 33,3% vào năm học 2007 - 2008 thì đến năm 2012 - 2013, tỷ lệ này đã giảm xuống còn 20%. Bên cạnh đó, có thể thấy, hầu như không có sự khác biệt giữa nam và nữ đang tham gia ở các cấp học thấp như mầm non, tiểu học, trung học cơ sở và phổ thông trung học. Tuy nhiên, sự khác biệt này được thấy rõ ràng hơn ở các bậc học cao hơn. Tỷ lệ nữ giáo sư hiện mới chỉ chiếm 5,1% và tỷ lệ nữ phó giáo sư là 11,7%. Điều này đặt ra thách thức cho nỗ lực hướng tới bình đẳng giới của quốc gia trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.

1.4. Trong lĩnh vực quản lý nhà nước về bình đẳng giới

Chiến lược quốc gia quy định đến năm 2015 có quy định về việc lồng ghép giới vào các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (kỳ vọng 80% dự thảo được xác định có nội dung liên quan đến bình đẳng giới hoặc có vấn đề bình đẳng giới) và 100% thành viên Ban soạn thảo, Tổ biên tập xây dựng dự thảo văn bản quy phạm pháp luật được xác định có nội dung liên quan đến bình đẳng giới hoặc có vấn đề bất bình đẳng giới, phân biệt đối xử về giới; cán bộ làm công tác bình đẳng giới được nâng cao kiến thức về giới, phân tích giới và lồng ghép giới. Tuy nhiên các kết quả đạt được vẫn ở mức khá khiêm tốn.

Mặc dù, Luật Bình đẳng giới đã xác định Chính phủ có vai trò quan trọng trong việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, và hiện nay, hầu hết các dự án, văn bản quy phạm pháp luật trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành đều do Chính phủ chủ trì soạn thảo. Song, qua theo dõi việc lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thời gian qua cho thấy, một số Bộ, ban, ngành - cơ quan chủ trì soạn thảo chưa thực sự tích cực, chủ động trong việc tuân thủ quy trình và yêu cầu lồng ghép giới cũng như phân tích giới, đánh giá tác động của văn bản quy phạm pháp luật tới nam và nữ nên hiệu quả lồng ghép giới chưa đạt được như mong muốn hoặc mang tính hình thức.

Các hoạt động bồi dưỡng kỹ năng phân tích, đánh giá và lồng ghép giới cho đội ngũ cán bộ, công chức tham gia hoạch định chính sách và xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đã được các Bộ, ngành, địa phương chú trọng thực hiện. Hiện có 12 tỉnh, thành phố được trung ương hỗ trợ kinh phí tổ chức tập huấn về bình đẳng giới, lồng ghép giới cho đội ngũ cán bộ Đảng, cán bộ dân cử và cán bộ quản lý nhà nước trên địa bàn địa phương, mỗi tỉnh có 03 lớp. Về cơ bản, 12 tỉnh, thành phố này đã tập huấn được kiến thức về giới, lồng ghép giới cho 100% cán bộ làm công tác bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh, thành phố. Tuy nhiên, để các cán bộ này thực sự làm tốt nhiệm vụ về bình đẳng giới thì họ cần được đầu tư để nâng cao kiến thức này tại nhiều lớp tập huấn, hội nghị, hội thảo chuyên đề khác.

Năm 2007, Chính phủ đã giao Bộ Lao động - Thương binh và xã hội chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về bình đẳng giới. Đến nay, hệ thống tổ chức, bộ máy làm công tác quản lý nhà nước về bình đẳng giới về cơ bản đã được hình thành từ Trung ương đến các địa phương và hoạt động đi vào nề nếp. Đáng chú ý là Ủy ban Quốc gia Vì sự tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam tiếp tục được kiện toàn về tổ chức và nguồn nhân lực, bước đầu đã hoạt động khá tốt. Tuy nhiên, việc giao nhiệm vụ quản lý nhà nước và sắp xếp tổ chức, bộ máy, bố trí cán bộ làm công tác bình đẳng giới ở các bộ/ngành, địa phương vẫn còn chậm so với yêu cầu cấp thiết của công tác và cuộc sống. Cho đến nay, bộ máy các Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ cấp tỉnh, huyện vẫn chưa được hoàn thiện và các bộ, ngành còn lúng túng về mô hình tổ chức, cũng như phương thức hoạt động; chưa có văn bản cụ thể hướng dẫn. Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về bình đẳng giới còn mỏng, chưa được đào tạo kiến thức, kỹ năng chuyên môn đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao. Theo báo cáo của các Bộ, ngành, địa phương, trên toàn quốc hiện có 126 cán bộ làm công tác bình đẳng giới ở các tỉnh, thành phố, trong đó, có 72 cán bộ chuyên trách. Phòng Bình đẳng giới mới được thành lập tại 9/63 Sở Lao động - Thương binh và xã hội. Hiện nay, chỉ có Bộ Nội vụ và Ủy ban Dân tộc bố trí cán bộ làm công tác bình đẳng giới tại vụ chuyên môn; tại các cơ quan còn lại, Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ được giao nhiệm vụ tham mưu về công tác bình đẳng giới.

2. Bài học kinh nghiệm

Từ thực tiễn triển khai công tác bình đẳng giới trong giai đoạn 10 năm (2007 - 2017) và thực hiện Chiến lược Quốc gia Vì sự tiến bộ phụ nữ giai đoạn (2011 - 2020), có thể tổng kết lại những kinh nghiệm mang tính thực tiễn như sau:

Một là, tăng cường nâng cao nhận thức đúng đắn và sự cam kết mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị trong thực hiện bình đẳng giới, việc thay đổi thái độ tích cực và trách nhiệm cao của cán bộ lãnh đạo các ngành, các cấp là tiền đề cơ bản thúc đẩy chất lượng, hiệu quả công tác bình đẳng giới. Công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về bình đẳng giới có ý nghĩa rất quan trọng và cần được tiếp tục tăng cường.

Hai là, đẩy mạnh trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân trong thực hiện hiệu quả việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật; xây dựng và thực hiện chiến lược, chương trình mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới là yếu tố và giải pháp then chốt. Đặc biệt, cần tăng cường việc giám sát và thực thi các quy định này trong thực tiễn.

Ba là, tiếp tục, tăng cường năng lực của tổ chức, bộ máy và cán bộ quản lý nhà nước về bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ là yếu tố nền tảng; nhất là, xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp vừa có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, vừa tâm huyết với công tác bình đẳng giới. Cơ chế phối hợp liên ngành có hiệu quả có ý nghĩa quan trọng bảo đảm công tác bình đẳng giới đạt kết quả tốt. Tăng cường năng lực cho bộ máy quốc gia về bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ và lập ngân sách có tính đến các quan hệ giới là điều kiện thiết yếu để thực hiện nhiệm vụ bình đẳng giới.

Bốn là, nâng cao chất lượng hệ thống cơ sở dữ liệu về bình đẳng giới và tiến bộ phụ nữ, đặc biệt là thể chế hóa việc sử dụng các số liệu tách biệt theo giới tính và các thông tin về giới, bằng chứng liên quan đến giới trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách nhằm thúc đẩy bình đẳng giới thực chất.

Năm là, tăng cường vai trò chủ động và năng lực tham mưu cho Hội Phụ nữ và Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ các cấp trong việc tham mưu lồng ghép giới, chỉ đạo, đôn đốc và kiểm tra công tác bình đẳng giới một cách thường xuyên giúp cho việc nắm bắt tình hình tốt hơn và kịp thời đề xuất các giải pháp giải quyết những vấn đề giới nổi cộm, qua đó, nâng cao trách nhiệm của các ngành, các cấp trong việc thúc đẩy bình đẳng giới.

Sáu là, tăng cường hợp tác quốc tế về bình đẳng giới và tranh thủ sự hỗ trợ về kỹ thuật, thông tin, tài chính là cần thiết nhằm thực hiện hiệu quả mục tiêu bình đẳng giới.

Nguyễn Văn Đồng

Đại học Luật Hà Nội


Tài liệu tham khảo:

1. Nguyễn Văn Đồng, Vấn đề giới, lồng ghép giới trong chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi, Tạp chí Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, số 147, năm 2016, tr.14 - 19.

2. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Bình đẳng giới, số 73/2006/QH11, năm 2006.

3. Trương Thị Mai, Việt Nam thực hiện các mục tiêu bình đẳng giới, Tạp chí Cộng Sản, số 187, năm 2009, tr.18 - 25.

4. Vụ các vấn đề xã hội, Lồng ghép vấn đề Bình đẳng giới trong dự án Luật Người cao tuổi, Báo cáo Văn phòng Quốc hội, năm 2009.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.
Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trên cơ sở kế thừa, bổ sung nhiều quy định mới về nguyên tắc định hướng, chủ thể giám sát, nội dung và quy trình để hoạt động giám sát đạt hiệu quả, chất lượng. Việc gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương có tính chất tương hỗ để hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.
Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: