Thứ năm 18/06/2026 01:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 với những sửa đổi, bổ sung mới trong lĩnh vực thi hành án dân sự

Bài viết tập trung phân tích các quy định mới được sửa đổi, bổ sung về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017.

Nhằm thể chế hóa các quy định mới của Hiến pháp năm 2013 trong việc bảo vệ quyền con người và những quyền cơ bản của công dân, đồng thời thống nhất với các bộ luật, luật mới được ban hành như Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Hình sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật Tố tụng hành chính năm 2015… ngày 20/6/2017, Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 3 đã thông qua Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2018, thay thế cho Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009.

So với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, thì Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 có nhiều điểm được sửa đổi, bổ sung mới, tiến bộ hơn, đã thể chế hóa được cơ bản các chủ trương về cải cách tư pháp được thể hiện trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng về bảo vệ quyền con người và hướng tới mục tiêu xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Bài viết dưới đây sẽ phân tích những nội dung được sửa đổi, bổ sung, quy định mới về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017.

1. Căn cứ yêu cầu bồi thường trong lĩnh vực thi hành án dân sự

Căn cứ yêu cầu bồi thường là một trong những yếu tố quan trọng cấu thành nên trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong các lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, trong đó, có lĩnh vực thi hành án dân sự. Khoản 5 Điều 3 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2007 quy định văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường là văn bản đã có hiệu lực pháp luật do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định, trong đó, xác định rõ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ hoặc là bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định rõ người bị thiệt hại thuộc trường hợp được Nhà nước bồi thường.

Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường là một trong những căn cứ để xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây thiệt hại, qua đó làm căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Đây cũng là một trong những nguyên tắc bồi thường của Nhà nước được quy định mới trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017. Theo đó, khoản 4 Điều 4 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 quy định Nhà nước giải quyết yêu cầu bồi thường sau khi có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường hoặc kết hợp giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính tại Tòa án đối với yêu cầu bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án hình sự, thi hành án dân sự theo quy định.

Trong hoạt động thi hành án dân sự, văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường được quy định tại Điều 21 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, bao gồm: (i) Bản án, quyết định của Tòa án có thẩm quyền xác định rõ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ; (ii) Quyết định giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự chấp nhận một phần hoặc toàn bộ nội dung khiếu nại của người khiếu nại; (iii) Quyết định hủy, thu hồi, sửa đổi, bổ sung quyết định về thi hành án vì quyết định đó được ban hành trái pháp luật; (iv) Quyết định xử lý hành vi vi phạm pháp luật của người thi hành công vụ bị tố cáo trên cơ sở kết luận nội dung tố cáo theo quy định của pháp luật về tố cáo; (v) Văn bản của thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trả lời chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự; (vi) Quyết định xử lý kỷ luật người thi hành công vụ do có hành vi trái pháp luật; (vii) Văn bản khác theo quy định của pháp luật đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017.

2. Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 quy định có 08 nhóm quyết định mà cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên ra hoặc không ra, tổ chức thi hành hoặc không tổ chức thi hành có thể sẽ thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, trong đó, bao gồm cả quyết định thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án. Tuy nhiên, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, ngoài việc sửa đổi, bổ sung một số câu từ, đã không quy định nhóm quyết định thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Theo đó, trong lĩnh vực thi hành án dân sự, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 chỉ quy định có 07 nhóm quyết định thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, cụ thể, Điều 21 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 quy định phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự như sau: “Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau đây: 1. Ra hoặc không ra một trong các quyết định sau đây trái pháp luật: a) Thi hành án; b) Hủy, thu hồi, sửa đổi, bổ sung quyết định thi hành án; c) Áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án; d) Cưỡng chế thi hành án; đ) Hoãn thi hành án; e) Tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án; g) Tiếp tục thi hành án; 2. Tổ chức thi hành hoặc không tổ chức thi hành một trong các quyết định quy định tại khoản 1 Điều này trái pháp luật”.

3. Thiệt hại được bồi thường trong lĩnh vực thi hành án dân sự

Thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự được thực hiện theo những quy định chung tại Chương 3 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, tuy nhiên cần lưu ý một số nội dung sau đây:

Một là, đối với việc trả lại tài sản, Điều 50 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 quy định chung chung, chưa phân biệt rõ nhóm hành vi nào thuộc trách nhiệm của cơ quan nào trong việc trả lại tài sản trong trường hợp bị thu giữ, tạm giữ, kê biên và tịch thu. Khắc phục hạn chế đó, Điều 30 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 quy định, tài sản bị thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu trái pháp luật phải được trả lại ngay khi quyết định thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu bị hủy bỏ (khoản 1) và việc trả lại tài sản bị kê biên trái pháp luật trong hoạt động thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự (khoản 3).

Hai là, các thiệt hại Nhà nước không bồi thường trong lĩnh vực thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung, và quy định rõ ràng hơn tại khoản 1 Điều 32 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, bao gồm: Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại; thiệt hại xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù người thi hành công vụ đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và trong khả năng cho phép; thiệt hại xảy ra trong hoàn cảnh người thi hành công vụ muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa trực tiếp lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải có hành động gây ra một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn chặn, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 23 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017.

Ngoài các thiệt hại không được bồi thường nêu trên, khoản 4 Điều 32 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 cũng bổ sung mới quy định, trong hoạt động thi hành án dân sự, Nhà nước không bồi thường thiệt hại xảy ra khi người thi hành công vụ áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án theo đúng yêu cầu của đương sự mà gây thiệt hại. Người yêu cầu chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc cho người thứ ba thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

4. Cơ quan giải quyết bồi thường

Khoản 2 Điều 40 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 quy định chung chung cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự là cơ quan thi hành án dân sự trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại. Để xác định rõ cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong lĩnh vực thi hành án dân sự ngay trong Luật, Điều 39 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đã quy định cụ thể cơ quan giải quyết bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự là Cục Thi hành án dân sự và Chi cục Thi hành án dân sự.

5. Thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường

Một trong những quan điểm chỉ đạo khi xây dựng dự án Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đó là sửa đổi quy định về quy trình, thủ tục giải quyết bồi thường theo hướng rút ngắn các bước và thời gian giải quyết yêu cầu bồi thường (giảm từ 125 ngày xuống còn trên 50 ngày)[1]. Do đó, trên cơ sở nghiên cứu công phu kinh nghiệm quốc tế, tổng kết thực tiễn giải quyết bồi thường theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, lấy ý kiến các cơ quan trực tiếp giải quyết bồi thường để xây dựng các quy định về thời hạn giải quyết yêu cầu bồi thường bảo đảm tính khả thi. So với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 thì Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 có cách tiếp cận khác khi quy định về thủ tục giải quyết bồi thường. Cụ thể, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 quy định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trên từng lĩnh vực, bao gồm trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng và trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án, trong mỗi lĩnh vực này đều có mục riêng quy định về thủ tục giải quyết bồi thường, ví dụ, trong lĩnh vực thi hành án dân sự được quy định tại Mục 2 Chương IV, từ Điều 41 đến Điều 44. Việc quy định như vậy vừa có thể gây trùng lặp hoặc phải dẫn chiếu nhiều lần đến các điều quy định về thủ tục giải quyết bồi thường đã được quy định trước đó vừa gây khó hiểu và khó vận dụng trong thực tiễn. Do vậy, để khắc phục những hạn chế đó, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đã tách ra và quy định thành một chương riêng về thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường cơ bản sẽ được áp dụng chung cho các lĩnh vực thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (Chương V). Một số điểm được sửa đổi, bổ sung mới về thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường tại Chương V, bao gồm:

Một là, thủ tục giải quyết bồi thường tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đã sửa đổi, bổ sung và quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết bồi thường tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại (Mục 1 Chương V). Đồng thời, bổ sung quy định mới về việc hoãn giải quyết yêu cầu bồi thường (Điều 49), tạm đình chỉ giải quyết yêu cầu bồi thường (Điều 50) và đình chỉ giải quyết bồi thường (Điều 51) để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại, không làm ảnh hưởng đến hoạt động của cơ quan nhà nước. Để giảm bớt các thủ tục hành chính giấy tờ và giảm thời gian trong việc giải quyết bồi thường, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đã bỏ quy định yêu cầu về kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ đề nghị cấp kinh phí bồi thường của cơ quan tài chính có thẩm quyền, thay vào đó, Điều 46 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đã sửa đổi, bổ sung toàn diện và quy định rõ ràng về thành phần tham gia thương lượng bồi thường (đại diện lãnh đạo cơ quan giải quyết bồi thường chủ trì; người giải quyết bồi thường; người yêu cầu bồi thường, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp (nếu có) của họ theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; đại diện cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước; đại diện Viện kiểm sát có thẩm quyền; trường hợp cần thiết, cơ quan giải quyết bồi thường có thể mời đại diện cơ quan tài chính cùng cấp, cá nhân, tổ chức khác, yêu cầu người thi hành công vụ gây thiệt hại tham gia thương lượng); địa điểm, nội dung, các bước, biên bản thương lượng và nếu việc thương lượng thành thì thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định giải quyết bồi thường hoặc trong trường hợp thương lượng không thành thì người yêu cầu bồi thường có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường theo quy định của pháp luật.

Hai là, thủ tục giải quyết bồi thường tại Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đã sửa đổi, bổ sung cơ bản các quy định về khởi kiện và thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường tại Tòa án. Đáng chú ý, tại khoản 1 Điều 52 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 bổ sung mới 02 trường hợp người yêu cầu bồi thường có quyền khởi kiện tại Tòa án để yêu cầu bồi thường, cụ thể, trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, người yêu cầu bồi thường có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường nếu họ chưa yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại giải quyết yêu cầu bồi thường (điểm a khoản 1 Điều 52); hoặc nếu người yêu cầu bồi thường rút yêu cầu bồi thường trước khi cơ quan giải quyết bồi thường tiến hành xác minh thiệt hại (điểm b khoản 1 Điều 52 và điểm a khoản 1 Điều 51).

Ngoài ra, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 giữ nguyên một trường hợp khởi kiện tại Tòa án yêu cầu bồi thường, đó là trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết bồi thường mà người yêu cầu bồi thường không không đồng ý với quyết định đó thì người bị thiệt hại có quyền khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền (khoản 1 Điều 22 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 và khoản 2 Điều 52 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017). Đồng thời, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 sửa đổi, bổ sung rõ và quy định linh hoạt thêm hai trường hợp người yêu cầu bồi thường có quyền khởi kiện tại Tòa án, đó là:

(i) Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày có biên bản kết quả thương lượng thành mà cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại không ra quyết định giải quyết bồi thường thì người yêu cầu bồi thường có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường (khoản 2 Điều 52 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017). Quy định mới này bảo đảm sự linh hoạt trong quá trình giải quyết bồi thường và theo hướng tôn trọng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại, vì tính chất phức tạp, khó khăn của quá trình thương lượng. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đã tạo nhiều có hội nhất có thể để các bên thương lượng, ví dụ, thông thường, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày tiến hành thương lượng, việc thương lượng phải được hoàn thành. Trường hợp vụ việc giải quyết yêu cầu bồi thường có nhiều tình tiết phức tạp thì thời hạn thương lượng tối đa là 15 ngày. Thời hạn thương lượng có thể được kéo dài theo thỏa thuận giữa người yêu cầu bồi thường và người giải quyết bồi thường nhưng tối đa là 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn thương lượng theo quy định (khoản 1 Điều 46 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017);

(ii) Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày có biên bản kết quả thương lượng không thành thì người yêu cầu bồi thường có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường (khoản 2 Điều 52 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017).

Như vậy, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đã liệt kê 05 trường hợp người yêu cầu bồi thường có quyền quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường, so với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 thì Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đã quy định cụ thể, rõ ràng về lý do, thời hạn, yêu cầu hồ sơ khởi kiện... nhằm tạo thuận lợi nhất có thể để người yêu cầu bồi thường khởi kiện tại Tòa án yêu cầu giải quyết bồi thường bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho mình.

Ngoài ra, để việc giải quyết yêu cầu bồi thường được nhanh chóng, thuận lợi cho người dân, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đã bổ sung mới về thủ tục rút gọn, theo đó, nếu vụ án có đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì việc giải quyết yêu cầu bồi thường tại Tòa án được thực hiện theo thủ tục rút gọn (khoản 6 Điều 52). Cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại đại diện Nhà nước tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn (khoản 7 Điều 52). Để nâng cao hiệu quả công tác giải quyết yêu cầu bồi thường, Điều 54 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 cũng bổ sung mới quy định về thi hành bản án, quyết định của Tòa án về giải quyết yêu cầu bồi thường, cụ thể: Cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại có trách nhiệm chi trả tiền bồi thường cho người yêu cầu bồi thường theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án về giải quyết yêu cầu bồi thường. Cơ quan, tổ chức, người có liên quan phải thực hiện việc khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp khác cho người bị thiệt hại theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án về giải quyết yêu cầu bồi thường.

Ba là, thủ tục giải quyết bồi thường trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, vụ án hành chính tại Tòa án

Lần đầu tiên, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đã bổ sung 01 điều mới (Điều 55) quy định về giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, vụ án hành chính tại Tòa án được quy định tại mục 2 Chương V, đây vừa là thủ tục, vừa là một trong những nguyên tắc mới của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 (khoản 4 Điều 4) và đồng thời là một trong những căn cứ để xác định cơ quan giải quyết bồi thường trong một số trường hợp cụ thể (khoản 2 Điều 40), đó là trường hợp giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính tại Tòa án thì Tòa án đang thụ lý giải quyết vụ án là cơ quan giải quyết bồi thường.

Tuy nhiên, việc giải quyết bồi thường trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, vụ án hành chính tại Tòa án là vấn đề mới cần phải có hướng dẫn cụ thể và phải qua thực tiễn kiểm nghiệm mới có đủ cơ sở để quy định cụ thể vào Luật nên khoản 5 Điều 55 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đã giao Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành nội dung này.

6. Về kinh phí bồi thường và thủ tục hoàn trả

Trên nguyên tắc việc giải quyết yêu cầu bồi thường được thực hiện kịp thời, công khai, bình đẳng, thiện chí, trung thực, đúng pháp luật; việc cấp phát kinh phí bồi thường, chi trả tiền bồi thường theo hướng đơn giản, nhanh gọn nhằm khắc phục tình trạng quyết định giải quyết bồi thường của cơ quan giải quyết bồi thường, bản án, quyết định của Tòa án về giải quyết bồi thường đã có hiệu lực pháp luật nhưng người bị thiệt hại phải đợi lâu mới nhận được tiền bồi thường, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đã quy định Bộ Tài chính, Sở Tài chính có trách nhiệm lập dự toán, quyết toán kinh phí bồi thường. Việc cấp phát kinh phí và chi trả tiền bồi thường chỉ căn cứ vào quyết định giải quyết bồi thường hoặc bản án, quyết định của Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường có hiệu lực pháp luật[2]. Đây là một trong những quy định mới quan trọng và có ý nghĩa của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 nhằm bảo vệ tốt hơn quyền của người bị thiệt hại.

7. Trách nhiệm hoàn trả

Trách nhiệm hoàn trả đối với các lĩnh vực thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được quy định cụ thể tại Chương VII Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, sau đây là một số nội dung được sửa đổi, bổ sung mới cần lưu ý:

Một là, nghĩa vụ hoàn trả của người thi hành công vụ được quy định tại Điều 64 Luật Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 như sau: Người thi hành công vụ có lỗi gây thiệt hại có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân sách nhà nước một phần hoặc toàn bộ số tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại; trường hợp có nhiều người thi hành công vụ cùng gây thiệt hại thì những người đó có nghĩa vụ hoàn trả tương ứng với mức độ lỗi của mình và thiệt hại mà Nhà nước phải bồi thường.

Hai là, xác định mức hoàn trả, giảm mức hoàn trả. Sau 06 năm triển khai thực hiện cho thấy, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 chưa quy định rõ ràng, cụ thể về trách nhiệm hoàn trả và mức hoàn trả của người thi hành công vụ gây thiệt hại, trách nhiệm của người ra quyết định hoàn trả dẫn đến việc hoàn trả của người thi hành công vụ còn bị xem nhẹ và chưa được thực hiện thống nhất. Bên cạnh đó, quy định mức hoàn trả chưa đủ tính răn đe, chưa nâng cao trách nhiệm thi hành công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức. Chính vì vậy, trên cơ sở kế thừa những quy định có tính nguyên tắc trước đây, từ khoản 1 đến khoản 4 Điều 65 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đã sửa đổi, bổ sung mới và quy định cụ thể, rõ ràng hơn về mức hoàn trả và giảm mức hoàn trả. Ngoài ra, để phù hợp với tính nhân đạo của pháp luật về bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em, khoản 3 Điều 68 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đã bổ sung một quy định mới liên quan đến việc thực hiện trách nhiệm hoàn trả, đó là, trường hợp người thi hành công vụ phải hoàn trả là người đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi hoặc phụ nữ đang mang thai thì được hoãn việc hoàn trả theo quyết định của thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại.

Để nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự góp phần thực hiện thành công chiến lược cải cách tư pháp, đồng thời, hạn chế tới mức tối đa những vi phạm thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong lĩnh vực này, cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu để thực hiện đúng các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hiện hành và Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 ngay sau khi có hiệu lực pháp luật. Đây không chỉ là nhiệm vụ riêng của chấp hành viên, thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự mà còn là yêu cầu, đòi hỏi chung đối với các nhà nghiên cứu, các cấp và các ngành trước yêu cầu hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

ThS. Nguyễn Văn Nghĩa

Tổng cục Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp

ThS. Phạm Thị Thu Thủy

Trường Đại học Điện Lực


[1] Chính phủ, Tờ trình số 290/TTr-CP ngày 01/9/2016 về Dự án Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi), tr. 9.

[2] Chính phủ, Tờ trình số 336/TTr-CP ngày 23/9/2016 về Dự án Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi), tr. 9.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: