Thứ ba 28/07/2026 10:55
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Mô hình bảo hiểm tiền gửi các nước trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết khái quát về hoạt động bảo hiểm tiền gửi, đưa ra các mô hình bảo hiểm tiền gửi của các nước trên thế giới, từ đó, rút ra bài học kinh nghiệm để lựa chọn mô hình bảo hiểm tiền gửi tối ưu cho Việt Nam.


Abstract: The article generalizes activities of deposit insurance, points out models of deposit insurance of some countries in the world and draws experiences for selecting an optimal deposit insurance in Vietnam.

1. Khái quát về hoạt động bảo hiểm tiền gửi

Bảo hiểm tiền gửi đã được hình thành từ rất lâu ở một số nước trên thế giới xuất phát từ lý do hoạt động tài chính ngân hàng luôn gắn liền với những nhạy cảm và rủi ro tiềm ẩn, vì vậy, cần có một tổ chức đứng ra nắm giữ vai trò bảo vệ người gửi tiền trong trường hợp ngân hàng xảy ra đổ vỡ nhằm bảo đảm tình hình an ninh xã hội. Trong thực tế, khi các quốc gia chưa xây dựng hệ thống bảo hiểm tiền gửi thì cũng đã sử dụng một số công cụ bảo vệ ngầm, cụ thể là, mặc dù không cam kết công khai trước công chúng về việc bảo vệ tiền gửi cho người gửi tiền trong trường hợp ngân hàng đổ bể, nhưng nếu điều đó xảy ra thì Chính phủ phải đứng ra chi trả tiền gửi cho họ. Tuy nhiên, công cụ bảo vệ ngầm đó chưa thực sự đem lại lợi ích quốc gia cũng như niềm tin với công chúng. Vì vậy, hệ thống bảo hiểm công khai cũng như việc minh định rõ ràng hơn về bảo hiểm tiền gửi đã ra đời. Ở Việt Nam, bảo hiểm tiền gửi được hiểu là sự bảo đảm hoàn trả tiền gửi cho người được bảo hiểm tiền gửi trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản (khoản 1 Điều 4 Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012).

Hoạt động bảo hiểm tiền gửi ở các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam có vai trò hết sức quan trọng. Trước hết, nó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền tại tổ chức tín dụng, ngân hàng, đồng thời, góp phần duy trì và nâng cao niềm tin của người gửi tiền vào hệ thống ngân hàng. Bên cạnh đó, bảo hiểm tiền gửi cũng góp phần giảm thiểu rủi ro trong hoạt động ngân hàng, góp phần duy trì sự an toàn, ổn định của hệ thống tài chính quốc gia, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh giữa các tổ chức tín dụng, ngân hàng, tạo điều kiện phát triển trong lĩnh vực tài chính. Theo TS. Lê Xuân Nghĩa, bảo hiểm tiền gửi có vai trò rất đặc thù, là người bảo vệ uy tín của các định chế tài chính trước người gửi tiền, đồng thời, tạo dựng lòng tin chung của thị trường tài chính đối với khu vực ngân hàng. Bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam đóng vai trò rất lớn đối với hệ thống tài chính ngân hàng1. Về phần mình, bảo hiểm tiền gửi cũng tham gia thúc đẩy kỷ luật thị trường, góp phần tái cấu trúc ngân hàng, cơ chế tiếp nhận và xử lý các tổ chức tín dụng ngân hàng đang ở tình trạng đổ vỡ thông qua hoạt động nghiệp vụ bảo hiểm tiền gửi sẽ góp phần tái cấu trúc ngân hàng và tăng cường khả năng cạnh tranh của các ngân hàng trong nền kinh tế quốc dân.

2. Mô hình bảo hiểm tiền gửi một số nước trên thế giới

Việc thiết kế mô hình của tổ chức bảo hiểm tiền gửi của mỗi quốc gia sẽ do Chính phủ của nước đó quy định về chức năng, nhiệm vụ của tổ chức bảo hiểm tiền gửi. Trên thế giới hiện nay có 03 mô hình chủ yếu, bao gồm:

Mô hình chuyên chi trả: Tổ chức bảo hiểm tiền gửi theo mô hình chuyên chi trả được thành lập chỉ nhằm thực hiện nhiệm vụ duy nhất là chi trả bảo hiểm cho người gửi tiền khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản.

Mô hình chi trả với quyền hạn được mở rộng: Theo mô hình này, ngoài chức năng thực hiện chi trả cho người gửi tiền sau khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị phá sản thì tổ chức bảo hiểm tiền gửi còn có thêm một số chức năng khác tùy thuộc vào đặc thù của mỗi quốc gia. Cụ thể, tổ chức bảo hiểm tiền gửi được trao thêm một số quyền hạn mở rộng như hỗ trợ tài chính cho tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi khi gặp khó khăn trong việc thanh toán; theo dõi, cảnh báo đối với các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi để phòng tránh rủi ro; tham gia trong quá trình xử lý nợ và thu hồi nợ của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị phá sản. Điều này sẽ làm tăng thêm vai trò của bảo hiểm tiền gửi là công cụ thực hiện chính sách công với mục đích cơ bản là bảo vệ người gửi tiền, góp phần đảm bảo sự phát triển lành mạnh của hệ thống tài chính quốc gia.

Mô hình giảm thiểu rủi ro: Đây là mô hình bảo hiểm tiền gửi phổ biến trên thế giới. Theo đó, ngoài nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, tổ chức bảo hiểm tiền gửi còn tham gia cùng với các cơ quan nhà nước và ngân hàng trung ương vào hoạt động kiểm tra, giám sát, xử lý đổ vỡ, chi trả tiền gửi... nhằm mục đích giảm thiểu rủi ro cho người gửi tiền, bảo đảm sự an toàn và hoạt động bình thường của hệ thống tài chính - tiền tệ quốc gia; tính phí bảo hiểm dựa trên cơ sở định mức tín nhiệm của tổ chức tài chính; được trao các nghiệp vụ kinh doanh, đầu tư nhằm bảo toàn và phát triển vốn ban đầu cũng như tăng cường sức mạnh tài chính, giảm dần sự phụ thuộc vào ngân sách của Nhà nước.

Mỗi mô hình trên đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Việc lựa chọn mô hình nào là phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, sự phát triển của hệ thống tài chính - ngân hàng của từng quốc gia. Tuy nhiên, do tính ưu việt của mô hình giảm thiểu rủi ro nên xu hướng chủ yếu của các nước hiện nay là thiết kế mô hình bảo hiểm tiền gửi theo mô hình này

3. Mô hình bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam và hướng hoàn thiện

Hoạt động bảo hiểm tiền gửi đã được triển khai ở Việt Nam từ năm 2000, tuy nhiên đến nay, hoạt động này rất cần có sự nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện để phù hợp điều kiện kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế.

Về mô hình, tổ chức bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam hiện nay đang được thiết kế theo mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng. Nguồn vốn hoạt động bao gồm vốn điều lệ do ngân sách nhà nước cấp; nguồn thu từ phí bảo hiểm tiền gửi; nguồn thu từ hoạt động đầu tư nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của tổ chức bảo hiểm tiền gửi; nguồn thu khác theo quy định của pháp luật. Theo đó, ngoài việc thực hiện nhiệm vụ chi trả tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm tiền gửi, tổ chức bảo hiểm tiền gửi có quyền theo dõi, kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật về bảo hiểm tiền gửi, kiến nghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xử lý kịp thời những vi phạm quy định về an toàn hoạt động ngân hàng, rủi ro gây mất an toàn trong hệ thống ngân hàng; tiếp nhận hỗ trợ theo nguyên tắc có hoàn trả từ ngân sách nhà nước theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ hoặc vay của tổ chức tín dụng, tổ chức khác có bảo lãnh của Chính phủ trong trường hợp nguồn vốn của tổ chức bảo hiểm tiền gửi tạm thời không đủ để chi trả bảo hiểm; tham gia vào quá trình kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; tham gia quản lý, thanh lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định của Chính phủ, từ đó, đảm bảo mục tiêu an toàn của thị trường tài chính và nền kinh tế, hạn chế rủi ro, tránh đổ vỡ hệ thống và tạo niềm tin nơi người gửi tiền.

Thực tế cho thấy, ở giai đoạn hiện nay, việc thiết kế mô hình bảo hiểm tiền gửi thuộc sở hữu nhà nước như thế này là phù hợp, trong điều kiện hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng chưa thực sự lớn mạnh và còn nhiều rủi ro, thì Nhà nước phải đứng ra để xử lý tiền gửi cho người dân thông qua mô hình bảo hiểm tiền gửi là hợp lý. Hiện tại, hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi đang chủ yếu là chi trả tiền gửi cho người gửi tiền khi ngân hàng, tổ chức tín dụng tham gia bảo hiểm tiền gửi bị đổ vỡ; tham gia kiểm tra, giám sát trên phạm vi hẹp đối với các tổ chức tín dụng; hỗ trợ tài chính cho các tổ chức tín dụng tham gia bảo hiểm tiền gửi gặp khó khăn. Tổ chức bảo hiểm tiền gửi chưa được giao quyền xử lý trong trường hợp đổ vỡ mang tính khẩn cấp hoặc đổ vỡ có tầm ảnh hưởng lớn đến cả hệ thống tài chính và nền kinh tế.

Tham khảo các mô hình tổ chức bảo hiểm tiền gửi ở các nước trên thế giới (mô hình chuyên chi trả; mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng; mô hình giảm thiểu rủi ro) cho thấy, mỗi mô hình trên đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Việc lựa chọn mô hình nào là phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, sự phát triển của hệ thống tài chính - ngân hàng của từng quốc gia. Tuy nhiên, do tính ưu việt của mô hình giảm thiểu rủi ro, nên xu hướng chủ yếu của các nước hiện nay là thiết kế mô hình bảo hiểm tiền gửi theo mô hình này. Tổ chức bảo hiểm tiền gửi của Việt Nam nên nghiên cứu và có lộ trình chuyển đổi từ mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng sang mô hình giảm thiểu rủi ro. Với mô hình giảm thiểu rủi ro, tính phòng ngừa được thể hiện rất rõ, cụ thể, tổ chức bảo hiểm tiền gửi có thể can thiệp vào mọi thời điểm kể từ lúc ngân hàng được thành lập, đi vào hoạt động hay thậm chí cả lúc suy yếu đến mức bị buộc phải giải thể hoặc phá sản. Tổ chức bảo hiểm tiền gửi có thể kiểm soát và ngăn chặn rủi ro hoặc có thể thay mặt Chính phủ đứng ra chi trả để đảm bảo sự an toàn của thị trường tài chính và nền kinh tế. Mô hình giảm thiểu rủi ro cho phép tổ chức bảo hiểm tiền gửi quản lý rủi ro một cách toàn diện nhất, đảm bảo hoạt động an toàn, lành mạnh của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.

Mô hình bảo hiểm tiền gửi giảm thiểu rủi ro có những quyền hạn khá cụ thể và hợp lý như đánh giá, xếp loại các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi; cấp và thu hồi giấy chứng nhận bảo hiểm tiền gửi; thu phí bảo hiểm tiền gửi không đồng hạng, theo mức độ rủi ro; giám sát, kiểm tra các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi; hỗ trợ tài chính; tiếp nhận xử lý, chấm dứt hoạt động của những tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi yếu kém và mất khả năng thanh toán; trong trường hợp thanh lý phá sản tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi thì tổ chức bảo hiểm tiền gửi được ưu tiên thanh toán trước khoản tiền đã hỗ trợ tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi nhằm duy trì quỹ bảo hiểm. Bên cạnh đó, việc chuyển đổi mô hình bảo hiểm tiền gửi Việt Nam sang mô hình giảm thiểu rủi ro sẽ góp phần nâng cao hoạt động giám sát hệ thống tài chính quốc gia, phù hợp với điều kiện kinh tế Việt Nam đang chuyển đổi theo hướng thị trường và các chuẩn mực quốc tế, đồng thời sẽ giúp việc tái cấu trúc hệ thống tài chính theo hướng lành mạnh, bền vững, củng cố niềm tin của người gửi tiền, góp phần phát triển kinh tế ở Việt Nam

ThS. Nguyễn Đăng Quân

Học viện Khoa học Xã hội

Tài liệu tham khảo:

[1]. TS. Lê Xuân Nghĩa, Giám sát rủi ro mới thực sự là giám sát tài chính hiện đại, 2009.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.
Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trên cơ sở kế thừa, bổ sung nhiều quy định mới về nguyên tắc định hướng, chủ thể giám sát, nội dung và quy trình để hoạt động giám sát đạt hiệu quả, chất lượng. Việc gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương có tính chất tương hỗ để hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.
Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: