Thứ sáu 29/05/2026 23:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Mô hình quản lý nhà nước về nghệ thuật biểu diễn ở Trung Quốc và Hàn Quốc

Mô hình quản lý nhà nước đối với văn hóa được nghiên cứu và công bố trong những năm qua đã chứng tỏ tính phức tạp của vấn đề. Bản thân nghệ thuật biểu diễn nói riêng và văn hóa nói chung là một “ngôi nhà trừu tượng”, vì vậy, mô hình quản lý nhà nước cũng chứa đầy những yếu tố trừu tượng. Bài viết này giới thiệu mô hình quản lý nhà nước về nghệ thuật biểu diễn của Trung Quốc và Hàn Quốc, cũng như các gợi mở cho mô hình quản lý nhà nước về nghệ thuật biểu diễn tại Việt Nam.



1. Mô hình quản lý nghệ thuật biểu diễn của Trung Quốc

Trong cách quản lý nghệ thuật biểu diễn của Trung Quốc, các biện pháp quản lý hành chính, chính trị, pháp luật, kinh tế, dư luận xã hội… tác động qua lại, bổ sung cho nhau. Vận dụng nhiều biện pháp quản lý đối với việc giải quyết những vấn đề xuất hiện trong đời sống và việc quản lý nghệ thuật biểu diễn càng giúp ích cho sự tích cực, chủ động của các đơn vị nghệ thuật biểu diễn, những người làm công tác trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn và giúp điều hòa các mối quan hệ trong quá trình xây dựng, phát triển và quản lý các hoạt động văn hóa. Trong việc xây dựng các chính sách về nghệ thuật biểu diễn, Trung Quốc càng chú ý và con trọng việc vận dụng biện pháp quản lý bằng pháp luật và biện pháp kinh tế.

Trung Quốc phân chia các mức độ quản lý nghệ thuật biểu diễn của mình thành ba cấp: Quản lý vĩ mô, quản lý trung mô và quản lý vi mô.

(i) Ở cấp vĩ mô, Quốc vụ viện là chủ thể quản lý với chức năng xác định chiến lược, quy hoạch, mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách chung về phát triển sự nghiệp văn hoá cả nước, điều hòa các quan hệ chủ đạo trong quá trình phát triển sự nghệ thuật biểu diễn của cả nước… Thông qua phương thức quản lý là đề ra quy hoạch, kế hoạch, phương châm, chính sách; đề ra các văn bản quy phạm pháp luật, mệnh lệnh hành chính để thực hiện quản lý vĩ mô đối với sự nghiệp nghệ thuật biểu diễn.

(ii) Ở cấp trung mô, Bộ, Ủy ban, Cục chức năng quản lý sự nghiệp trực thuộc Quốc vụ viện như Bộ Văn hóa, Cục Nghệ thuật… Chính quyền nhân dân các tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc căn cứ vào mục tiêu, chiến lược, nhiệm vụ chính sách chung, quyết sách vĩ mô của Nhà nước về phát triển sự nghiệp nghệ thuật biểu diễn của ngành, địa phương mình; nghiên cứu đề ra những bước đi, biện pháp, chính sách thực hiện cụ thể, đồng thời phụ trách việc tổ chức thực hiện.

(iii) Ở cấp vi mô, các cơ quan hành chính, Đảng ủy, hội nghị đại biểu công nhân viên chức, tiểu ban văn nghệ của các đơn vị sự nghiệp, xí nghiệp văn hóa - nghệ thuật... căn cứ nhiệm vụ, mục tiêu chung về phát triển nghệ thuật biểu diễn của Nhà nước và địa phương mình để sắp xếp toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh của đơn vị mình.

So sánh với điều kiện thực tiễn Việt Nam, mức độ quán lý vĩ mô tương ứng với Quốc hội, quản lý trung mô là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Ủy ban nhân dân các tỉnh (thông qua Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch) và quản lý vi mô là các đơn vị thuộc Bộ, thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các doanh nghiệp nghệ thuật biểu diễn.

Trong lĩnh vực quản lý trung mô (quản lý của ngành nghệ thuật biểu diễn), Trung Quốc nhấn mạnh đặc trưng tiếp nối cái trên, gợi mở cái dưới, tụ hợp ở giữa, trong đó, tiếp nối cái trên là chấp hành, gợi mở cái dưới là quyết sách. Nghĩa là, sau khi tiếp nhận các quyết định vĩ mô từ phía Nhà nước, ngành nghệ thuật biểu diễn cần phải nhanh chóng tiếp thu, nghiên cứu, dựa vào điều kiện thực tiễn để đưa ra những hệ thống quyết sách cụ thể. Quản lý trung mô tập trung vào nhiều chức năng: Quyết sách, chấp hành, giám sát, đôn đốc, kiểm tra, điều hòa, tổ chức, khống chế, chỉ đạo, tư vấn…

Để hoàn thiện cơ chế quản lý của ngành nghệ thuật biểu diễn, Trung Quốc đã đưa ra một số khuyến nghị sau: (i) Tổng kết thực trạng công tác quản lý ngành nghệ thuật biểu diễn; (ii) Từng bước kiện toàn và hoàn thiện hệ thống điều hành quản lý của ngành với yêu cầu chung là cầu nối giữ điều hành vĩ mô và điều hành vi mô; (iii) Điều chỉnh, hoàn thiện hơn nữa chức năng quản lý trực tiếp đối với các sự nghiệp, cơ cấu nghệ thuật biểu diễn, các hạng mục phát triển nghệ thuật biểu diễn quan trọng; (iv) Hoàn thiện cơ chế vận hành của ngành đó là thực hiện khoa học hoá quyết sách quản lý.

Việc xây dựng chính sách ở Trung Quốc có những nguyên tắc cơ bản như: (i) Nhất trí với các tính chất, phương hướng và mục tiêu phát triển của sự nghiệp văn hóa chủ nghĩa xã hội; (ii) Phát triển sự nghiệp nghệ thuật biểu diễn phải cân đối nhịp nhàng với sự phát triển của cả nền kinh tế - xã hội; (iii) Tôn trọng quy luật khách quan của công cuộc xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc; (iv) Tính khoa học, thống nhất và đồng bộ của hệ thống chính sách.

Qua nghiên cứu mô hình quản lý nhà nước về nghệ thuật biểu diễn của Trung Quốc, bài học đối với việc xây dựng chính sách ở Việt Nam là Nhà nước luôn phải có vai trò chủ đạo trong việc xây dựng và phát triển nghệ thuật biểu diễn, đặc biệt cần phân biệt các chính sách ở mức độ khác nhau phải được thực hiện khác nhau. Chính sách của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần được xác định như chính sách của đơn vị quản lý trung mô, không bao quát như quản lý vĩ mô và không quá cụ thể như các chính sách của các đơn vị quản lý vi mô.

2. Mô hình quản lý nghệ thuật biểu diễn của Hàn Quốc

Hiện nay, Hàn Quốc là nước có ngành công nghiệp biển diễn phát triển mạnh nhất thế giới. Tuy nhiên, Hàn Quốc kết hợp rất tốt việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống với việc phát triển văn hoá - nghệ thuật đương đại. Cả hai lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn truyền thống và đương đại của Hàn Quốc đều đạt được nhiều thành tựu đáng khâm phục. Hàn Quốc là một trong những quốc gia châu Á vừa có cơ quan quản lý nhà nước thực hiện quản lý về nghệ thuật biểu diễn (là Bộ Văn hóa và Du lịch), vừa có cơ quan chuyên chăm lo phát triển văn hóa - nghệ thuật ở khu vực phi nhà nước (là Hội đồng Nghệ thuật Hàn Quốc). Bộ Văn hóa và Du lịch là cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về văn hoá, du lịch và thể thao. Cơ cấu tổ chức của Bộ gồm 12 cục, vụ, trong đó, Cục Nghệ thuật quản lý chuyên môn về nghệ thuật biểu diễn.

Điểm nổi bật trong chính sách nghệ thuật biểu diễn của Hàn Quốc là sự dịch chuyển việc hoạch định chính sách nghệ thuật biểu diễn từ cơ quan quản lý nhà nước trung ương sang phân cấp, phân quyền cho các chính quyền địa phương với sự tham gia tích cực của xã hội dân sự, bao gồm các đơn vị tổ chức nghệ thuật biểu diễn, các quỹ nghệ thuật biểu diễn, các nhà nghiên cứu, các tổ chức phi Chính phủ và giới văn nghệ sĩ trong quá trình nghiên cứu, hình thành, xây dựng và triển khai thực hiện chính sách nghệ thuật biểu diễn.

Chính sách nghệ thuật biểu diễn của Hàn Quốc được xây dựng dựa trên các nguyên tắc cơ bản như: Văn hóa và cá nhân; văn hóa và cộng đồng xã hội, văn hóa và kinh tế; văn hóa và địa phương; văn hóa và thế giới. Việc hoạch định chính sách không chỉ có các cán bộ nhà nước, mà còn có cả sự tham gia của các nhà nghiên cứu chính sách văn hóa, đại diện các tổ chức xã hội dân sự, các tổ chức phi Chính phủ và các nghệ sĩ. Người ta gọi đây là quá trình dân chủ hóa trong công tác hoạch định chính sách nghệ thuật biểu diễn.

Hàn Quốc đã thành lập Hội đồng Nghệ thuật Hàn Quốc vào năm 2005 trên cơ sở Quỹ Phát triển văn hóa nghệ thuật quốc gia trước đây với mục đích bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa Hàn Quốc thông qua hỗ trợ phát triển cho các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, đặc biệt là khu vực phi Chính phủ. Ở các đia phương đều có Hội đồng Nghệ thuật địa phương, bên cạnh đó là Quỹ Văn hóa nghệ thuật. Mối quan hệ công tác và mức độ độc lập giữa cơ quan quản lý nhà nước trung ương và địa phương với các Hội đồng Nghệ thuật đang là vấn đề tranh luận giữa các bên liên quan.

Các doanh nghiệp văn hóa ở Hàn Quốc đều là doanh nghiệp tư nhân, nhưng Nhà nước hết sức quan tâm hỗ trợ phát triển ngành công nghiệp văn hóa. Cục Công nghiệp văn hóa thuộc Bộ Văn hóa và Du lịch Hàn Quốc là cơ quan chuyên hoạch định cách chính sách nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của ngành công nghiệp văn hóa trong đó có lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn Hàn Quốc trên thị trường quốc tế. Nghiên cứu mô hình quản lý nhà nước về nghệ thuật biểu diễn của Hàn Quốc giúp chúng ta có được một bài học tốt trong việc phát huy năng lực cạnh tranh hiệu quả của nền công nghiệp văn hóa (trong đó có lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn) cũng như sự dịch chuyển cơ chế hoạch định chính sách nghệ thuật biểu diễn quốc gia. Công tác hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật để quản lý nhà nước về nghệ thuật biểu diễn bao giờ cũng phải đi trước một bước. Nhà làm luật phải nắm bắt được những gì đang diễn và sẽ diễn ra để từ đó vạch ra những chính sách hiệu quả đáp ứng được yêu cầu thực tiễn.

Trong bối cảnh Việt Nam đang trong quá trình hội nhập quốc tế trên tất cả các lĩnh vực đang và sẽ có nhiều cơ hội hơn, nhưng đồng thời cũng phải đối mặt với nhiều thác thức trên con đường phát triển. Việc bảo vệ và phát huy giá trị của văn hóa Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và trong bối cảnh hội nhập quốc tế đặt ra cho chúng ta, những người làm công tác xây dựng pháp luật, quản lý văn hóa những nhiệm vụ hết sức khó khăn và cấp bách là làm thế nào hoạch định được những chính sách, chương trình hành động và giải pháp hiệu quả, thiết thực và phù hợp để đưa nền văn hóa nước nhà tiếp tục phát triển trong điều kiện mới.

Lương Thị Hòa
Bộ Giáo dục và Đào tạo



Tài liệu tham khảo:

1. Đỗ Tiến Sâm, Xây dựng nền văn hoá tiên tiến ở Trung Quốc, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2010, tr. 56-58.

2. Nguyễn Văn Kiêu, Trần Tiến, Tổng thuật chính sách văn hóa của một số nước trên thế giới, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội 1993.

3. Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn (2011), “Quản lý văn hóa ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, số 1, tr. 12-14.

4. Nguyễn Văn Tình, Chính sách văn hóa trên thế giới và việc hoàn thiện chính sách văn hóa Việt Nam, Hà Nội, 2009, tr. 130-138.

5. Hoàng Vinh, Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hoá ở nước ta, Nxb. Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 1999.

6. Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Chính sách Văn hóa, Nxb. Lao Động, 2016.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: