Thứ sáu 13/03/2026 16:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Mối quan hệ phối hợp giữa Bộ Tư pháp với Kiểm toán nhà nước đối với công tác phòng, chống tham nhũng trong ban hành chính sách, pháp luật về tài chính công, tài sản công

Bài viết phân tích vai trò hoạt động kiểm toán nhà nước, mối quan hệ phối hợp giữa Bộ Tư pháp với Kiểm toán nhà nước đối với công tác phòng, chống tham nhũng trong ban hành chính sách, pháp luật về tài chính công, tài sản công, từ đó đưa ra một số giải pháp bảo đảm hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong ban hành chính sách pháp luật về tài chính công, tài sản công.

1. Vai trò hoạt động kiểm toán nhà nước đối với công tác phòng, chống tham nhũng trong quản lý tài chính công, tài sản công

Theo Điều 118 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Kiểm toán nhà nước là cơ quan do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, thực hiện kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công”. Cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, Luật Kiểm toán nhà nước năm 2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước năm 2019 quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và hoạt động của Kiểm toán nhà nước, theo đó “Kiểm toán nhà nước có chức năng đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị đối với việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công” (Điều 9).

Ngoài Luật Kiểm toán nhà nước, vai trò và trách nhiệm của Kiểm toán nhà nước trong kiểm tra, kiểm soát việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công còn được quy định tại một số luật khác như: Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Quản lý thuế; Luật Ngân sách nhà nước; Luật Đầu tư công; Luật Quản lý và sử dụng tài sản công; Luật Quản lý nợ công; Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư... Đặc biệt, Điều 87 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định: “Kiểm toán nhà nước có trách nhiệm kiểm toán nhằm phòng ngừa, phát hiện tham nhũng, kiểm toán vụ việc có dấu hiệu tham nhũng theo quy định của pháp luật”; khoản 1 Điều 74 Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013 quy định: “Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Kiểm toán nhà nước có trách nhiệm thực hiện kiểm toán nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí”. Nhìn chung, pháp luật về Kiểm toán nhà nước đã được thể chế hóa kịp thời, toàn diện, thống nhất từ Hiến pháp đến Luật Kiểm toán nhà nước và các đạo luật có liên quan, bảo đảm nguyên tắc hoạt động kiểm toán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, tạo cơ sở pháp lý xây dựng Kiểm toán nhà nước trở thành công cụ vững mạnh và sắc bén của Đảng, Nhà nước về kiểm tra tài chính, tài sản công trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Ngoài ra, thông qua hoạt động kiểm toán, Kiểm toán nhà nước có thể phát hiện các quy định trái pháp luật, mâu thuẫn, chồng chéo, hết hiệu lực hoặc không còn phù hợp với thực tiễn, từ đó kiến nghị Chính phủ, Quốc hội sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật, góp phần ngăn chặn các hành vi lợi dụng quyền lực, tham nhũng, lãng phí, siết chặt kỷ cương, kỷ luật tài chính. Đây là một trong những đóng góp quan trọng của kiểm toán trong hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Kiểm toán nhà nước góp phần bảo đảm minh bạch các quan hệ kinh tế, tài chính, minh bạch các khoản thu chi ngân sách, nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước và tài sản quốc gia. Có thể nói, Kiểm toán nhà nước là một thiết chế độc lập trong hệ thống liêm chính quốc gia, có vai trò quan trọng trong kiểm tra, kiểm soát việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công. Hoạt động kiểm toán góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công. Đây là công cụ hữu hiệu của Đảng, Nhà nước trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí và tiêu cực.

2. Mối quan hệ phối hợp giữa Bộ Tư pháp với Kiểm toán nhà nước đối với công tác phòng, chống tham nhũng trong ban hành chính sách pháp luật về tài chính công, tài sản công

2.1. Vai trò của Bộ Tư pháp trong việc cho ý kiến đối với đề nghị xây dựng, dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết về kiểm toán nhà nước và về tài chính công, tài sản công

2.1.1. Đối với đề nghị xây dựng và dự án, dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội do Kiểm toán nhà nước chủ trì soạn thảo

Thực hiện quy định tại Điều 44 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh do Kiểm toán nhà nước trình thì trước khi trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Kiểm toán nhà nước có trách nhiệm gửi hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh để Chính phủ cho ý kiến. Hồ sơ bao gồm: Tờ trình đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, trong đó phải nêu rõ: Sự cần thiết ban hành luật, pháp lệnh; mục đích, quan điểm xây dựng luật, pháp lệnh; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của luật, pháp lệnh; mục tiêu, nội dung của chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, các giải pháp để thực hiện chính sách đã được lựa chọn và lý do của việc lựa chọn; dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc thi hành luật, pháp lệnh sau khi được Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua; thời gian dự kiến trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự án luật, pháp lệnh; Báo cáo đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh; Báo cáo tổng kết việc thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh; Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến của các cơ quan, tổ chức; bản chụp ý kiến góp ý; Dự kiến đề cương chi tiết dự thảo luật, pháp lệnh.

Tương tự, theo quy định tại Điều 62 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), đối với dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do Kiểm toán nhà nước chủ trì soạn thảo thì trước khi trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Kiểm toán nhà nước phải gửi các tài liệu sau đây để Chính phủ cho ý kiến: Tờ trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội về dự án, dự thảo; dự thảo văn bản; báo cáo về rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến dự án, dự thảo; bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý; bản chụp ý kiến góp ý; tài liệu khác (nếu có).

Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ chủ trì phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan chuẩn bị ý kiến bằng văn bản của Chính phủ đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, dự án, dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết do Kiểm toán nhà nước trình để Chính phủ thảo luận. Đại diện Bộ Tư pháp trình bày dự thảo ý kiến của Chính phủ đối với đề nghị và dự án, dự thảo nêu trên trước Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bên cạnh đó, theo đề nghị của Kiểm toán nhà nước, Bộ Tư pháp đã cử đại diện tham gia với tư cách là thành viên Ban soạn thảo trong nhiều dự án, dự thảo VBQPPL do Kiểm toán nhà nước chủ trì soạn thảo.

2.1.2. Đối với đề nghị xây dựng và dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về tài chính công, tài sản công

Đối với các đề nghị, dự án, dự thảo VBQPPL về quản lý tài chính công, tài sản công do các bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì soạn thảo thuộc các lĩnh vực như: Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; phòng, chống tham nhũng; quản lý thuế; ngân sách nhà nước; đầu tư công, quản lý và sử dụng tài sản công; quản lý nợ công, đầu tư theo phương thức đối tác công tư; quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp… Bộ Tư pháp luôn đóng vai trò quan trọng trong tất cả các giai đoạn gồm: (i) Lập đề nghị của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm để trình Chính phủ; (ii) Tham mưu giải quyết vướng mắc liên quan đến chính sách, phạm vi điều chỉnh của các đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh khi xây dựng chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; (iii) Lập danh mục văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định; (iv) Hướng dẫn đánh giá tác động của chính sách; (v) Góp ý, thẩm định đề nghị xây dựng VBQPPL; (vi) Cử đại diện của Bộ Tư pháp tham gia Ban soạn thảo, Tổ biên tập xây dựng VBQPPL; (vii) Tổ chức thẩm định văn bản quy phạm pháp luật.

Theo đề nghị của Bộ Tài chính và các bộ, cơ quan có liên quan, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao, Bộ Tư pháp đã tiến hành góp ý, thẩm định đề nghị xây dựng, dự thảo các VBQPPL về tài chính công, tài sản công. Nhìn chung, việc góp ý, thẩm định đề nghị xây dựng, dự án, dự thảo các VBQPPL về tài chính công, tài sản công của Bộ Tư pháp trong thời gian qua bảo đảm thời hạn, chất lượng theo đúng yêu cầu của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, góp phần vào công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế về tài chính công, tài sản công.

Có thể thấy, Bộ Tư pháp đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình hoạch định chính sách và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý tài chính công, tài sản công nói chung và kiểm toán nhà nước nói riêng, góp công sức đáng kể cho công cuộc phòng, chống tham nhũng trong quản lý tài chính công, tài sản công.

2.2. Bảo đảm sự tham gia của Kiểm toán nhà nước trong việc xây dựng, soạn thảo, góp ý, thẩm định các đề nghị, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về tài chính công, tài sản công

Trong những năm gần đây, Chính phủ, Ban Cán sự Đảng, Lãnh đạo Bộ Tư pháp đặc biệt quan tâm, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc phòng ngừa nguy cơ tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm trong xây dựng pháp luật. Đây là một trong những yếu tố đặc biệt quan trọng giúp công tác xây dựng pháp luật của bộ, ngành nói chung và của Bộ Tư pháp nói riêng ngày càng đi vào nền nếp và đạt được một số kết quả đáng ghi nhận.

Trong quá trình xây dựng Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, năm 2020 và trong giai đoạn hiện nay khi triển khai xây dựng Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi), nhằm phòng ngừa nguy cơ tham nhũng ngay từ giai đoạn xây dựng chính sách, dự thảo, Bộ Tư pháp đã huy động và luôn ưu tiên bảo đảm sự tham gia của đại diện Tổng Kiểm toán nhà nước trong Ban soạn thảo, Tổ biên tập Dự án Luật. Việc tổ chức các cuộc họp Ban soạn thảo, Tổ biên tập dự án, dự thảo VBQPPL do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành được tiến hành theo đúng kế hoạch soạn thảo đã được Lãnh đạo Bộ phê duyệt.

Công tác góp ý, thẩm định được Bộ Tư pháp tổ chức chặt chẽ, đúng quy định, có sự tham gia của đại diện Kiểm toán nhà nước trong các hội đồng thẩm định đề nghị, dự án, dự thảo VBQPPL liên quan tới quản lý tài chính công, tài sản công. Kết quả thẩm định góp phần nâng cao chất lượng đề nghị xây dựng VBQPPL, dự án, dự thảo VBQPPL, bảo đảm phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng, tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, qua đó có thể giúp phòng ngừa một cách hiệu quả nguy cơ cài cắm lợi ích nhóm, tham nhũng, tiêu cực trong đề nghị xây dựng, dự án, dự thảo VBQPPL về quản lý tài chính công, tài sản công.

3. Giải pháp bảo đảm hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong ban hành chính sách pháp luật về tài chính công, tài sản công

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đề ra một trong những định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030 là xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước. Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình; kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tội phạm và tệ nạn xã hội. Do vậy, để bảo đảm hiệu quả công tác phòng chống, tham nhũng trong ban hành chính sách pháp luật về tài chính công, tài sản công, tác giả đề xuất một số giải pháp như sau:

3.1. Giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật

Một là, cần sớm ban hành nghị quyết hoặc quy định riêng của Đảng về kiểm soát quyền lực, phòng, chống lợi ích nhóm, tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật.

Hai là, thể chế hóa đầy đủ và toàn diện các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển Kiểm toán nhà nước.

Ba là, hoàn thiện quy định về xử lý trách nhiệm người đứng đầu, cơ quan ban hành văn bản trái pháp luật hoặc không kịp thời xử lý văn bản trái pháp luật về tài chính công, tài sản công gây ảnh hưởng tiêu cực đến quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước, các cá nhân, tổ chức.

3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện

Thứ nhất, bám sát chủ trương, đường lối của Đảng để xây dựng VBQPPL về tài chính công, tài sản công phù hợp với thực tiễn; kịp thời báo cáo, xin ý kiến cấp ủy, tổ chức đảng về những chính sách quan trọng, định hướng lớn trong dự án, dự thảo VBQPPL về tài chính công, tài sản công.

Thứ hai, thực hiện nghiêm quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chú trọng hoạt động tổng kết thi hành pháp luật, đánh giá tác động của chính sách; tổ chức lấy ý kiến bằng những phương pháp, hình thức phù hợp và tiếp thu, giải trình đầy đủ, khách quan, trung thực ý kiến góp ý; tổ chức hoạt động của Ban soạn thảo theo đúng quy định, bảo đảm sự tham gia của các bộ, ngành, cơ quan, tổ chức có liên quan.

Thứ ba, phân công rõ trách nhiệm cho từng đơn vị, cá nhân xây dựng chính sách, soạn thảo, trình VBQPPL về tài chính công, tài sản công, khắc phục tình trạng chậm, đặc biệt là cố tình trì hoãn ban hành VBQPPL về tài chính công, tài sản công.

Thứ tư, tăng cường mối quan hệ giữa Kiểm toán nhà nước và Bộ Tư pháp trong việc phát hiện các quy định trái pháp luật, mâu thuẫn, chồng chéo, hết hiệu lực hoặc không còn phù hợp với thực tiễn trong kiểm toán, quản lý tài chính công, tài sản công và nâng cao cơ chế phối hợp chặt chẽ trong việc tham gia Ban soạn thảo, Tổ biên tập, Hội đồng thẩm định và tham gia góp ý các dự án, dự thảo VBQPPL về tài chính công và tài sản công./.

Đào Hồng Minh

Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp

Ảnh: internet

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: