Thứ tư 24/06/2026 09:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Mối quan hệ phối hợp giữa Bộ Tư pháp với Kiểm toán nhà nước đối với công tác phòng, chống tham nhũng trong ban hành chính sách, pháp luật về tài chính công, tài sản công

Bài viết phân tích vai trò hoạt động kiểm toán nhà nước, mối quan hệ phối hợp giữa Bộ Tư pháp với Kiểm toán nhà nước đối với công tác phòng, chống tham nhũng trong ban hành chính sách, pháp luật về tài chính công, tài sản công, từ đó đưa ra một số giải pháp bảo đảm hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong ban hành chính sách pháp luật về tài chính công, tài sản công.

1. Vai trò hoạt động kiểm toán nhà nước đối với công tác phòng, chống tham nhũng trong quản lý tài chính công, tài sản công

Theo Điều 118 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Kiểm toán nhà nước là cơ quan do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, thực hiện kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công”. Cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, Luật Kiểm toán nhà nước năm 2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước năm 2019 quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và hoạt động của Kiểm toán nhà nước, theo đó “Kiểm toán nhà nước có chức năng đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị đối với việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công” (Điều 9).

Ngoài Luật Kiểm toán nhà nước, vai trò và trách nhiệm của Kiểm toán nhà nước trong kiểm tra, kiểm soát việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công còn được quy định tại một số luật khác như: Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Quản lý thuế; Luật Ngân sách nhà nước; Luật Đầu tư công; Luật Quản lý và sử dụng tài sản công; Luật Quản lý nợ công; Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư... Đặc biệt, Điều 87 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định: “Kiểm toán nhà nước có trách nhiệm kiểm toán nhằm phòng ngừa, phát hiện tham nhũng, kiểm toán vụ việc có dấu hiệu tham nhũng theo quy định của pháp luật”; khoản 1 Điều 74 Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013 quy định: “Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Kiểm toán nhà nước có trách nhiệm thực hiện kiểm toán nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí”. Nhìn chung, pháp luật về Kiểm toán nhà nước đã được thể chế hóa kịp thời, toàn diện, thống nhất từ Hiến pháp đến Luật Kiểm toán nhà nước và các đạo luật có liên quan, bảo đảm nguyên tắc hoạt động kiểm toán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, tạo cơ sở pháp lý xây dựng Kiểm toán nhà nước trở thành công cụ vững mạnh và sắc bén của Đảng, Nhà nước về kiểm tra tài chính, tài sản công trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Ngoài ra, thông qua hoạt động kiểm toán, Kiểm toán nhà nước có thể phát hiện các quy định trái pháp luật, mâu thuẫn, chồng chéo, hết hiệu lực hoặc không còn phù hợp với thực tiễn, từ đó kiến nghị Chính phủ, Quốc hội sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật, góp phần ngăn chặn các hành vi lợi dụng quyền lực, tham nhũng, lãng phí, siết chặt kỷ cương, kỷ luật tài chính. Đây là một trong những đóng góp quan trọng của kiểm toán trong hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Kiểm toán nhà nước góp phần bảo đảm minh bạch các quan hệ kinh tế, tài chính, minh bạch các khoản thu chi ngân sách, nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước và tài sản quốc gia. Có thể nói, Kiểm toán nhà nước là một thiết chế độc lập trong hệ thống liêm chính quốc gia, có vai trò quan trọng trong kiểm tra, kiểm soát việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công. Hoạt động kiểm toán góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công. Đây là công cụ hữu hiệu của Đảng, Nhà nước trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí và tiêu cực.

2. Mối quan hệ phối hợp giữa Bộ Tư pháp với Kiểm toán nhà nước đối với công tác phòng, chống tham nhũng trong ban hành chính sách pháp luật về tài chính công, tài sản công

2.1. Vai trò của Bộ Tư pháp trong việc cho ý kiến đối với đề nghị xây dựng, dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết về kiểm toán nhà nước và về tài chính công, tài sản công

2.1.1. Đối với đề nghị xây dựng và dự án, dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội do Kiểm toán nhà nước chủ trì soạn thảo

Thực hiện quy định tại Điều 44 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh do Kiểm toán nhà nước trình thì trước khi trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Kiểm toán nhà nước có trách nhiệm gửi hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh để Chính phủ cho ý kiến. Hồ sơ bao gồm: Tờ trình đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, trong đó phải nêu rõ: Sự cần thiết ban hành luật, pháp lệnh; mục đích, quan điểm xây dựng luật, pháp lệnh; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của luật, pháp lệnh; mục tiêu, nội dung của chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, các giải pháp để thực hiện chính sách đã được lựa chọn và lý do của việc lựa chọn; dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc thi hành luật, pháp lệnh sau khi được Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua; thời gian dự kiến trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự án luật, pháp lệnh; Báo cáo đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh; Báo cáo tổng kết việc thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh; Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến của các cơ quan, tổ chức; bản chụp ý kiến góp ý; Dự kiến đề cương chi tiết dự thảo luật, pháp lệnh.

Tương tự, theo quy định tại Điều 62 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), đối với dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do Kiểm toán nhà nước chủ trì soạn thảo thì trước khi trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Kiểm toán nhà nước phải gửi các tài liệu sau đây để Chính phủ cho ý kiến: Tờ trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội về dự án, dự thảo; dự thảo văn bản; báo cáo về rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến dự án, dự thảo; bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý; bản chụp ý kiến góp ý; tài liệu khác (nếu có).

Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ chủ trì phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan chuẩn bị ý kiến bằng văn bản của Chính phủ đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, dự án, dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết do Kiểm toán nhà nước trình để Chính phủ thảo luận. Đại diện Bộ Tư pháp trình bày dự thảo ý kiến của Chính phủ đối với đề nghị và dự án, dự thảo nêu trên trước Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bên cạnh đó, theo đề nghị của Kiểm toán nhà nước, Bộ Tư pháp đã cử đại diện tham gia với tư cách là thành viên Ban soạn thảo trong nhiều dự án, dự thảo VBQPPL do Kiểm toán nhà nước chủ trì soạn thảo.

2.1.2. Đối với đề nghị xây dựng và dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về tài chính công, tài sản công

Đối với các đề nghị, dự án, dự thảo VBQPPL về quản lý tài chính công, tài sản công do các bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì soạn thảo thuộc các lĩnh vực như: Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; phòng, chống tham nhũng; quản lý thuế; ngân sách nhà nước; đầu tư công, quản lý và sử dụng tài sản công; quản lý nợ công, đầu tư theo phương thức đối tác công tư; quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp… Bộ Tư pháp luôn đóng vai trò quan trọng trong tất cả các giai đoạn gồm: (i) Lập đề nghị của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm để trình Chính phủ; (ii) Tham mưu giải quyết vướng mắc liên quan đến chính sách, phạm vi điều chỉnh của các đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh khi xây dựng chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; (iii) Lập danh mục văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định; (iv) Hướng dẫn đánh giá tác động của chính sách; (v) Góp ý, thẩm định đề nghị xây dựng VBQPPL; (vi) Cử đại diện của Bộ Tư pháp tham gia Ban soạn thảo, Tổ biên tập xây dựng VBQPPL; (vii) Tổ chức thẩm định văn bản quy phạm pháp luật.

Theo đề nghị của Bộ Tài chính và các bộ, cơ quan có liên quan, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao, Bộ Tư pháp đã tiến hành góp ý, thẩm định đề nghị xây dựng, dự thảo các VBQPPL về tài chính công, tài sản công. Nhìn chung, việc góp ý, thẩm định đề nghị xây dựng, dự án, dự thảo các VBQPPL về tài chính công, tài sản công của Bộ Tư pháp trong thời gian qua bảo đảm thời hạn, chất lượng theo đúng yêu cầu của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, góp phần vào công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế về tài chính công, tài sản công.

Có thể thấy, Bộ Tư pháp đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình hoạch định chính sách và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý tài chính công, tài sản công nói chung và kiểm toán nhà nước nói riêng, góp công sức đáng kể cho công cuộc phòng, chống tham nhũng trong quản lý tài chính công, tài sản công.

2.2. Bảo đảm sự tham gia của Kiểm toán nhà nước trong việc xây dựng, soạn thảo, góp ý, thẩm định các đề nghị, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về tài chính công, tài sản công

Trong những năm gần đây, Chính phủ, Ban Cán sự Đảng, Lãnh đạo Bộ Tư pháp đặc biệt quan tâm, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc phòng ngừa nguy cơ tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm trong xây dựng pháp luật. Đây là một trong những yếu tố đặc biệt quan trọng giúp công tác xây dựng pháp luật của bộ, ngành nói chung và của Bộ Tư pháp nói riêng ngày càng đi vào nền nếp và đạt được một số kết quả đáng ghi nhận.

Trong quá trình xây dựng Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, năm 2020 và trong giai đoạn hiện nay khi triển khai xây dựng Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi), nhằm phòng ngừa nguy cơ tham nhũng ngay từ giai đoạn xây dựng chính sách, dự thảo, Bộ Tư pháp đã huy động và luôn ưu tiên bảo đảm sự tham gia của đại diện Tổng Kiểm toán nhà nước trong Ban soạn thảo, Tổ biên tập Dự án Luật. Việc tổ chức các cuộc họp Ban soạn thảo, Tổ biên tập dự án, dự thảo VBQPPL do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành được tiến hành theo đúng kế hoạch soạn thảo đã được Lãnh đạo Bộ phê duyệt.

Công tác góp ý, thẩm định được Bộ Tư pháp tổ chức chặt chẽ, đúng quy định, có sự tham gia của đại diện Kiểm toán nhà nước trong các hội đồng thẩm định đề nghị, dự án, dự thảo VBQPPL liên quan tới quản lý tài chính công, tài sản công. Kết quả thẩm định góp phần nâng cao chất lượng đề nghị xây dựng VBQPPL, dự án, dự thảo VBQPPL, bảo đảm phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng, tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, qua đó có thể giúp phòng ngừa một cách hiệu quả nguy cơ cài cắm lợi ích nhóm, tham nhũng, tiêu cực trong đề nghị xây dựng, dự án, dự thảo VBQPPL về quản lý tài chính công, tài sản công.

3. Giải pháp bảo đảm hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong ban hành chính sách pháp luật về tài chính công, tài sản công

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đề ra một trong những định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030 là xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước. Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình; kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tội phạm và tệ nạn xã hội. Do vậy, để bảo đảm hiệu quả công tác phòng chống, tham nhũng trong ban hành chính sách pháp luật về tài chính công, tài sản công, tác giả đề xuất một số giải pháp như sau:

3.1. Giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật

Một là, cần sớm ban hành nghị quyết hoặc quy định riêng của Đảng về kiểm soát quyền lực, phòng, chống lợi ích nhóm, tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật.

Hai là, thể chế hóa đầy đủ và toàn diện các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển Kiểm toán nhà nước.

Ba là, hoàn thiện quy định về xử lý trách nhiệm người đứng đầu, cơ quan ban hành văn bản trái pháp luật hoặc không kịp thời xử lý văn bản trái pháp luật về tài chính công, tài sản công gây ảnh hưởng tiêu cực đến quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước, các cá nhân, tổ chức.

3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện

Thứ nhất, bám sát chủ trương, đường lối của Đảng để xây dựng VBQPPL về tài chính công, tài sản công phù hợp với thực tiễn; kịp thời báo cáo, xin ý kiến cấp ủy, tổ chức đảng về những chính sách quan trọng, định hướng lớn trong dự án, dự thảo VBQPPL về tài chính công, tài sản công.

Thứ hai, thực hiện nghiêm quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chú trọng hoạt động tổng kết thi hành pháp luật, đánh giá tác động của chính sách; tổ chức lấy ý kiến bằng những phương pháp, hình thức phù hợp và tiếp thu, giải trình đầy đủ, khách quan, trung thực ý kiến góp ý; tổ chức hoạt động của Ban soạn thảo theo đúng quy định, bảo đảm sự tham gia của các bộ, ngành, cơ quan, tổ chức có liên quan.

Thứ ba, phân công rõ trách nhiệm cho từng đơn vị, cá nhân xây dựng chính sách, soạn thảo, trình VBQPPL về tài chính công, tài sản công, khắc phục tình trạng chậm, đặc biệt là cố tình trì hoãn ban hành VBQPPL về tài chính công, tài sản công.

Thứ tư, tăng cường mối quan hệ giữa Kiểm toán nhà nước và Bộ Tư pháp trong việc phát hiện các quy định trái pháp luật, mâu thuẫn, chồng chéo, hết hiệu lực hoặc không còn phù hợp với thực tiễn trong kiểm toán, quản lý tài chính công, tài sản công và nâng cao cơ chế phối hợp chặt chẽ trong việc tham gia Ban soạn thảo, Tổ biên tập, Hội đồng thẩm định và tham gia góp ý các dự án, dự thảo VBQPPL về tài chính công và tài sản công./.

Đào Hồng Minh

Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp

Ảnh: internet

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: