Thứ ba 25/08/2026 19:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số bất cập của pháp luật về mua bán nhà ở thương mại và giải pháp hoàn thiện

Một số bất cập của pháp luật về mua bán nhà ở thương mại và giải pháp hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích, nhận diện, đánh giá một số bất cập của pháp luật về mua bán nhà ở thương mại. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua bán nhà ở thương mại ở nước ta.

Abstract: The article analyzes, identifies and evaluates some inadequacies of the law on commercial housing purchase and sale. On that basis, the article offers some solutions to improve the law on commercial housing purchase and sale in our country.

1. Một số bất cập của pháp luật về mua bán nhà ở thương mại

1.1. Hệ thống pháp luật về nhà đất có sự không thống nhất, không đồng bộ về các hình thức giao dịch về nhà ở, về quyền sử dụng đất

Hệ thống pháp luật đất đai là một hệ thống pháp luật đồ sộ, bao gồm quy phạm pháp luật của nhiều đạo luật như: Luật Đất đai năm 2013, Luật Nhà ở năm 2014, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2020, Luật Đầu tư năm 2020, Luật Xây dựng năm 2013, Luật Đấu thầu năm 2013, Luật Đấu giá tài sản công năm 2016, Luật Quy hoạch năm 2017, Luật Lâm nghiệp năm 2017, Luật Công chứng năm 2014, Luật Môi trường năm 2020 và Bộ luật Dân sự năm 2015... Các đạo luật này do nhiều cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác nhau chủ trì soạn thảo nên có sự chưa thống nhất, đồng bộ; còn có mâu thuẫn, chồng chéo trong nội dung một số quy định là điều khó tránh khỏi. Sự thiếu thống nhất, đồng bộ về nội dung trong hệ thống pháp luật đất đai gây lúng túng, khó khăn trong việc áp dụng trên thực tế. Xin đơn cử một số ví dụ để minh họa cho nhận định này, cụ thể:

Thứ nhất, Luật Đất đai năm 2013 và Luật Nhà ở năm 2014 có sự không tương thích về các hình thức giao dịch về nhà ở, về quyền sử dụng đất.

Trong thực tế, nhà ở được hình thành trên đất và gắn liền với đất thành một khối tài sản thống nhất không thể tách rời. Khi thực hiện giao dịch về mua bán nhà ở thường đi liền với giao dịch về chuyển quyền sử dụng đất và ngược lại. Tuy nhiên, theo Luật Nhà ở năm 2014: “Giao dịch về nhà ở bao gồm các hình thức mua bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại, tặng cho, đổi, thừa kế, thế chấp, góp vốn, cho mượn, cho ở nhờ và ủy quyền quản lý nhà ở”[1]. Trong khi đó, Luật Đất đai năm 2013 lại quy định: “Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này”[2]. Sự không tương thích trong quy định về giao dịch nhà ở và giao dịch về quyền sử dụng đất ở ít nhiều gây trở ngại khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất trên thực tế.

Thứ hai, Luật Đất đai năm 2013, Luật Nhà ở năm 2014 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 có sự không tương thích trong quy định về thời điểm có hiệu lực của việc chuyển quyền sử dụng đất; thời điểm có hiệu lực của hợp đồng kinh doanh bất động sản nói chung và hợp đồng kinh doanh quyền sử dụng đất nói riêng; hợp đồng về mua bán, tặng cho, đổi; góp vốn, thế chấp nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại…, cụ thể:

Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính”[3]. Trong khi đó, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 lại quy định: Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng (bao gồm hợp đồng chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất) do các bên thỏa thuận và ghi trong hợp đồng. Trường hợp hợp đồng có công chứng, chứng thực thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm công chứng, chứng thực. Trường hợp các bên không có thỏa thuận, không có công chứng, chứng thực thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm các bên ký kết hợp đồng[4] và Luật Nhà ở năm 2014 quy định: “1. Trường hợp mua bán, tặng cho, đổi, góp vốn, thế chấp nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại thì phải thực hiện công chứng, chứng thực hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. Đối với các giao dịch quy định tại khoản này thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm công chứng, chứng thực hợp đồng. 2. Đối với trường hợp tổ chức tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương; mua bán, cho thuê mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; mua bán, cho thuê mua nhà ở xã hội, nhà ở phục vụ tái định cư; góp vốn bằng nhà ở mà có một bên là tổ chức; cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở thì không bắt buộc phải công chứng, chứng thực hợp đồng, trừ trường hợp các bên có nhu cầu. Đối với các giao dịch quy định tại khoản này thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là do các bên thỏa thuận; trường hợp các bên không có thỏa thuận thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm ký kết hợp đồng”[5]. Mặc dù mỗi đạo luật có phạm vi điều chỉnh và đối tượng điều chỉnh riêng song trên thực tế, không phải trường hợp nào cũng “bóc tách” rõ ràng, rành mạch giữa hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất với hợp đồng kinh doanh quyền sử dụng đất và hợp đồng về giao dịch nhà ở. Có không ít các giao dịch về quyền sử dụng đất gắn với nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất. Vì vậy, việc không tương thích, đồng bộ trong các quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất với hợp đồng kinh doanh quyền sử dụng đất và hợp đồng về giao dịch nhà ở gây cản trở đến việc thực thi pháp luật liên quan đến giao dịch nhà đất nói chung và mua bán nhà ở thương mại nói riêng trên thực tế.

Thứ ba, Luật Nhà ở năm 2014 và Luật Đất đai năm 2013 có sự mâu thuẫn về quyền của người nước ngoài được sở hữu nhà ở.

Luật Nhà ở năm 2014 quy định về quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Chương IX (từ Điều 159 - Điều 162). Đạo luật này quy định đối tượng được sở hữu nhà ở và hình thức sở hữu nhà ở. Theo đó, “1. Đối tượng tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam bao gồm: a) Tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư xây dựng nhà ở theo dự án tại Việt Nam theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan; b) Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp nước ngoài, quỹ đầu tư nước ngoài và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam (sau đây gọi chung là tổ chức nước ngoài); c) Cá nhân nước ngoài được phép nhập cảnh vào Việt Nam; 2. Tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thông qua các hình thức sau đây: a) Đầu tư xây dựng nhà ở theo dự án tại Việt Nam theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan; b) Mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế nhà ở thương mại bao gồm căn hộ chung cư và nhà ở riêng lẻ trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở, trừ khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định của Chính phủ” (Điều 159). Như vậy, theo quy định này, cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Tuy nhiên, tại Điều 5 quy định về người sử dụng đất của Luật Đất đai năm 2013 thì cá nhân nước ngoài không được xác định là một chủ thể sử dụng đất. Hơn nữa, tại Chương 11. Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất (từ Điều 166 - Điều 194) của Luật Đất đai năm 2013 cũng không quy định về quyền và nghĩa vụ của cá nhân nước ngoài sử dụng đất. Điều này gây cản trở cho việc bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân nước ngoài sở hữu tài sản là nhà ở tại Việt Nam và là rào cản cho các giao dịch dân sự về nhà, đất vận hành thông suốt, đồng bộ. Bởi trên thực tế, nhà ở được xây dựng trên đất và gắn liền với đất thành một khối tài sản thống nhất không thể tách rời. Khi mua bán, chuyển nhượng nhà ở thường gắn với chuyển nhượng quyền sử dụng đất và ngược lại. Việc không chính thức thừa nhận quyền sử dụng đất của cá nhân nước ngoài sở hữu nhà ở tại Việt Nam tác động tiêu cực đến giao dịch mua bán nhà ở thương mại đối với cộng đồng người nước ngoài sinh sống, học tập, cư trú lâu dài tại Việt Nam. Điều này chưa thật sự khuyến khích người nước ngoài mua nhà ở tại Việt Nam.

1.2. Phạm vi đầu tư kinh doanh bất động sản cũng gây khó khăn cho giao dịch về mua bán nhà ở thương mại đối với cá nhân nước ngoài

Điều 11 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định về phạm vi kinh doanh bất động sản của tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài[6]. Như vậy, theo quy tại Điều 11 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được mua nhà ở để kinh doanh thông qua việc bán, cho thuê, cho thuê mua; trong khi đó, tổ chức, cá nhân trong nước lại được kinh doanh nhà ở theo phương thức này. Quy định tại Điều 11 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 không chỉ là rào cản cho giao dịch mua bán nhà ở thương mại mà còn tạo ra sự bất bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong nước với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực mua bán nhà ở thương mại.

1.3. Trên thực tế hiện nay có không ít trường hợp các văn phòng công chứng, công chứng viên thông đồng, giúp sức cho khách hàng là các bên mua bán nhà ở thương mại ghi giá mua bán nhà ở thấp hơn giá mua bán thực tế

Điều này giúp cho các bên mua bán nhà ở thương mại nộp thuế thu nhập cá nhân, phí và lệ phí trước bạ ít hơn số tiền thực tế phải nộp vào ngân sách nhà nước. Qua đó, giúp các văn phòng công chứng, công chứng viên có lượng khách hàng ổn định, ngày càng gia tăng đem lại lợi nhuận, doanh thu cho bản thân văn phòng nhưng lại làm thiệt hại về nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Mặt khác, điều này khiến các cơ quan nhà nước khó xác định được giá trị mua bán nhà ở thương mại chính xác trên thị trường dễ dẫn đến việc đưa ra chính sách, pháp luật không phù hợp và làm giảm hiệu quả quản lý nhà nước về thị trường bất động sản. Hậu quả là thị trường bất động sản vận hành kém công khai, minh bạch, lành mạnh và bị lũng đoạn bởi các lợi ích nhóm…

2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua bán nhà ở thương mại

Thứ nhất, rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định về thời điểm có hiệu lực của việc chuyển quyền sử dụng đất; thời điểm có hiệu lực của hợp đồng kinh doanh bất động sản nói chung và hợp đồng kinh doanh quyền sử dụng đất nói riêng; hợp đồng về mua bán, tặng cho, đổi; góp vốn, thế chấp nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại… giữa Luật Đất đai năm 2013, Luật Nhà ở năm 2014 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 theo hướng bỏ quy định tại khoản 3 Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013.

Thứ hai, nghiên cứu, xem xét, bổ sung quy định về quyền của người nước ngoài có quyền sử dụng đất đối với diện tích đất trên đó có nhà ở mà họ được phép sở hữu.

Thứ ba, thí điểm, nghiên cứu, xem xét, bổ sung quy định về việc cho phép người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được mua nhà ở để kinh doanh trong phạm vi dự án nhà ở thương mại.

Thứ tư, rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định về nghĩa vụ tài chính về nhà đất với mức thu phù hợp với thu nhập của đại đa số người lao động nhằm khuyến khích họ kê khai đúng giá mua bán nhà ở; khắc phục tình trạng thông đồng với văn phòng công chứng ghi giá mua bán nhà ở thấp hơn giá trị thực tế trong hợp đồng mua bán nhà ở thương mại gây thất thu cho ngân sách nhà nước. Mặt khác, cần tăng cường công tác thanh, kiểm tra và xử lý nghiêm minh, kịp thời, dứt điểm các văn phòng công chứng, công chứng viên thông đồng, giúp sức cho khách hàng công chứng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại ghi giá mua bán thấp hơn giá mua bán thực tế giữa bên bán và bên mua.

NCS. Đỗ Việt Cường

Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng

[1]. Xem: Điều 117 Luật Nhà ở năm 2014.

[2]. Xem: Khoản 1 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013.

[3]. Xem: Khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013.

[4]. Xem: Khoản 3 Điều 17 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014.

[5]. Xem: Khoản 1 và 2 Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014.

[6]. Xem: Điều 11 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014.

Tóm tắt: Bài viết này khái quát các khía cạnh lý luận và thực tiễn thi hành pháp luật về quyền biểu quyết của cổ đông, từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện các quy định hiện hành về quyền này.

Abstract: This article outlines the theoretical aspects and the practice of law implementation of the shareholder voting right, thereby making some recommendations to improve the current regulations on this right.

1. Một số vấn đề lý luận về quyền biểu quyết của cổ đông trong công ty cổ phần

Biểu quyết là việc thể hiện ý chí của các chủ thể đồng ý hoặc không đồng ý khi quyết định một vấn đề nào đó trong công ty thông qua số phiếu nhất định. Trong công ty cổ phần, quyền biểu quyết là quyền cơ bản của cổ đông, là một quyền lợi “gắn liền cổ đông với hoạt động của công ty, có thể là việc lựa chọn quản trị viên, bỏ phiếu về việc chia lãi hoặc mọi thông tin về công việc của công ty”[1]. Khi thực hiện biểu quyết, “cổ đông có thể đưa ra ý nguyện của mình về việc quản lý kinh doanh và phát triển công ty vào các quyết sách công ty để các quyết sách công ty là một sự thể hiện ý chí của cổ đông”[2].

Quyền biểu quyết là quyền cá nhân quan trọng nhất của cổ đông, quyền này cho phép cổ đông tham gia vào các quyết định của công ty[3] và không tách rời khỏi cổ phần, trong các cuộc họp của Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ), “cổ đông có nghĩa vụ biểu quyết vì lợi ích của công ty”[4]. Mỗi cổ phần phổ thông có một phiếu biểu quyết.

Như vậy, quyền biểu quyết của cổ đông là quyền bỏ phiếu tán thành hoặc phản đối với những vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ trong công ty cổ phần theo tỷ lệ cổ phần sở hữu.

Quyền biểu quyết của cổ đông có một số đặc điểm cơ bản như sau:

Thứ nhất, quyền biểu quyết của cổ đông là quyền gắn liền với cổ phần và tỷ lệ biểu quyết được xác định trên tỷ lệ sở hữu cổ phần.

Quyền biểu quyết là quyền riêng của cổ đông, gắn liền với tư cách cổ đông. Cổ đông có thể không tham dự ĐHĐCĐ, không biểu quyết nhưng không thể từ bỏ, hoặc chuyển nhượng cho người khác được. Cổ đông có thể ủy quyền cho người khác để thực hiện quyền biểu quyết tại ĐHĐCĐ. Mọi cổ đông, trừ những cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức hoặc ưu đãi hoàn lại phải được tham dự và biểu quyết tại các cuộc họp ĐHĐCĐ. Về nguyên tắc, quyền bỏ phiếu là bình đẳng, tất cả các cổ đông cùng loại cần được đối xử bình đẳng như nhau. Tuy nhiên, sự bình đẳng là không hoàn toàn bởi các cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết có tỷ lệ phiếu cao hơn (tỷ lệ cụ thể theo quy định của điều lệ). Khi có “bất cứ thay đổi nào về quyền biểu quyết phải được sự thông qua của các cổ đông sở hữu loại cổ phiếu bị ảnh hưởng bất lợi bởi sự thay đổi đó”[5].

Thứ hai, quyền biểu quyết không phải là quyền tài sản.

Về mặt lý luận, quyền dự họp và biểu quyết của cổ đông không phải là quyền tài sản, không thể chuyển nhượng. Các quyền này cũng “không thể được cầm cố, thế chấp, tặng cho hoặc định đoạt dưới hình thức khác và đây cũng là thực tiễn trên thị trường”[6] và gắn liền cổ đông với quá trình hoạt động của công ty. Theo pháp luật của Pháp thì “việc mua, bán quyền bỏ phiếu đều bị trừng trị về mặt hình sự”[7].

Thứ ba, phạm vi thực hiện quyền biểu quyết tại ĐHĐCĐ.

Chỉ có cổ đông sở hữu cổ phần phổ thông hoặc cổ phần ưu đãi biểu quyết mới có quyền biểu quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ. Cổ đông chỉ bị hạn chế biểu quyết theo quy định của pháp luật và trong trường hợp “cổ đông có lợi ích liên quan đến các bên trong hợp đồng, giao dịch không có quyền biểu quyết”[8]. Trong khi đó, các cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức và ưu đãi hoàn lại không có quyền biểu quyết tại ĐHĐCĐ. Phạm vi quyền biểu quyết của cổ đông áp dụng cho các quyết định được thảo luận và thông qua tại ĐHĐCĐ.

2. Những khía cạnh pháp lý của cơ chế về quyền biểu quyết của cổ đông

Cổ đông có thể tham gia vào quá trình ra quyết định của công ty thông qua thực hiện quyền biểu quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ theo nguyên tắc đa số. Các vấn đề quan trọng được biểu quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ bao gồm: (i) Sửa đổi điều lệ công ty; (ii) Chiến lược phát triển của công ty; (iii) Phát hành thêm cổ phần; (iv) Bầu, miễn nhiệm hoặc bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát; (v) Các nghiệp vụ bất thường như các khoản đầu tư hoặc thanh lý tài sản có giá trị tương đương hoặc trên 50% tổng giá trị tài sản của công ty; (vi) Phê duyệt mức cổ tức hàng năm của từng loại cổ phần và thông qua báo cáo tài chính hàng năm; (vii) Tổ chức lại hoặc giải thể công ty. Để bảo đảm quyền này, pháp luật quy định về trình tự, thủ tục thông báo và triệu tập ĐHĐCĐ, cách thức biểu quyết hoặc lấy ý kiến của cổ đông tại cuộc họp và ngoài cuộc họp, vấn đề ủy quyền dự họp và ủy quyền biểu quyết, vấn đề bảo vệ quyền lợi của cổ đông nhỏ (thiểu số).

Cơ chế biểu quyết của cổ đông trong công ty cổ phần được thể hiện ở các khía cạnh như sau:

Thứ nhất, về quyền biểu quyết của các loại cổ phần.

Các cổ đông sở hữu cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi biểu quyết đều có quyền dự họp và biểu quyết tại ĐHĐCĐ. Cổ phần ưu đãi biểu quyết là cổ phần phổ thông có nhiều hơn phiếu biểu quyết so với cổ phần phổ thông khác (số phiếu biểu quyết của một cổ phần ưu đãi biểu quyết do điều lệ quy định). Chỉ có tổ chức được Chính phủ ủy quyền và cổ đông sáng lập được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết. Ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập có hiệu lực trong 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Quyền biểu quyết và thời hạn ưu đãi biểu quyết đối với cổ phần ưu đãi biểu quyết do tổ chức được Chính phủ ủy quyền nắm giữ được quy định tại điều lệ công ty. Sau thời hạn ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi biểu quyết chuyển đổi thành cổ phần phổ thông. Đồng thời, cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác, trừ trường hợp chuyển nhượng theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc thừa kế.

Các cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi hoàn lại, cổ tức hoặc loại ưu đãi khác về nguyên tắc không có quyền biểu quyết, dự họp ĐHĐCĐ, đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát. Trừ trường hợp, có quyền tham dự và biểu quyết về vấn đề tương ứng như cổ phần ưu đãi có thể chuyển đổi thành cổ phần phổ thông và nghị quyết ĐHĐCĐ về nội dung làm thay đổi bất lợi quyền và nghĩa vụ của cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi.

Thứ hai, điều kiện để cổ đông thực hiện quyền biểu quyết.

Cuộc họp ĐHĐCĐ được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện trên 50% tổng số phiếu biểu quyết, tỷ lệ cụ thể do điều lệ công ty quy định. Trường hợp cuộc họp lần thứ nhất không đủ điều kiện tiến hành thì thông báo mời họp lần thứ hai phải được gửi trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày dự định họp lần thứ nhất, nếu điều lệ công ty không quy định khác. Cuộc họp ĐHĐCĐ lần thứ hai được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện từ 33% tổng số phiếu biểu quyết trở lên, tỷ lệ cụ thể do điều lệ công ty quy định. Trường hợp cuộc họp lần thứ hai không đủ điều kiện tiến hành thì thông báo mời họp lần thứ ba phải được gửi trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày dự định họp lần thứ hai, nếu điều lệ công ty không quy định khác. Cuộc họp ĐHĐCĐ lần thứ ba được tiến hành không phụ thuộc vào tổng số phiếu biểu quyết của các cổ đông dự họp.

Trong công ty cổ phần, các cổ đông thực hiện quyền tham dự, phát biểu trong cuộc họp ĐHĐCĐ và thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua người đại diện theo ủy quyền hoặc hình thức khác do điều lệ công ty, pháp luật quy định.

Thứ ba, hình thức thực hiện quyền biểu quyết.

Hình thức biểu quyết của cổ đông trực tiếp tại cuộc họp bằng cách giơ tay hoặc phiếu kín, hoặc ấn nút phương tiện điện tử hoặc lấy ý kiến bằng văn bản. Cổ đông được coi là tham dự và biểu quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ trong trường hợp sau đây: (i) Tham dự và biểu quyết trực tiếp tại cuộc họp; (ii) Ủy quyền cho cá nhân, tổ chức khác tham dự và biểu quyết tại cuộc họp; (iii) Tham dự và biểu quyết thông qua hội nghị trực tuyến, bỏ phiếu điện tử hoặc hình thức điện tử khác; (iv) Gửi phiếu biểu quyết đến cuộc họp thông qua gửi thư, fax, thư điện tử; (v) Gửi phiếu biểu quyết bằng phương tiện khác theo quy định của điều lệ.

Trường hợp điều lệ không có quy định khác thì nghị quyết ĐHĐCĐ về các vấn đề sau đây phải được thông qua bằng hình thức biểu quyết tại cuộc họp: (i) Sửa đổi, bổ sung nội dung của điều lệ công ty; (ii) Định hướng phát triển công ty; (iii) Loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại; (iv) Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát; (v) Quyết định đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị từ 35% tổng giá trị tài sản trở lên được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty, trừ trường hợp điều lệ công ty quy định tỷ lệ hoặc giá trị khác; (vi) Thông qua báo cáo tài chính hằng năm; (vii) Tổ chức lại, giải thể công ty.

Thứ tư, tỷ lệ biểu quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ.

Trong công ty cổ phần, ĐHĐCĐ gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất, họp thường niên mỗi năm một lần. Ngoài cuộc họp thường niên, ĐHĐCĐ có thể họp bất thường và phải họp thường niên trong thời hạn 04 tháng, kể từ ngày kết thúc năm tài chính. Các cổ đông thực hiện quyền biểu quyết của mình trong cuộc họp ĐHĐCĐ để thông qua hoặc không thông qua các vấn đề của công ty thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ.

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020, hầu hết các vấn đề được thông qua khi có trên 50% phiếu biểu quyết tán thành các cổ đông, trừ trường hợp yêu cầu 65% phiếu biểu quyết và các trường hợp bầu Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát cần bầu dồn phiếu như: (i) Loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại; (ii) Thay đổi ngành, nghề và lĩnh vực kinh doanh; (iii) Thay đổi cơ cấu tổ chức quản lý; (iv) Dự án đầu tư hoặc bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 35% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất, hoặc tỷ lệ, giá trị khác nhỏ hơn do điều lệ công ty quy định; (v) Tổ chức lại, giải thể công ty; (vi) Các vấn đề khác do điều lệ công ty quy định.

Thứ năm, hệ quả của việc cổ đông biểu quyết.

Khi có 100% tổng cổ đông có quyền biểu quyết thông qua nghị quyết ĐHĐCĐ thì nghị quyết đó là hợp pháp và có hiệu lực ngay cả khi trình tự, thủ tục triệu tập họp và thông qua nghị quyết đó vi phạm[9] các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 và điều lệ công ty. Trong trường hợp này, cổ đông không có quyền khởi kiện yêu cầu hủy bỏ nghị quyết ĐHĐCĐ theo quy định của Điều 151 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

Trong trường hợp, cổ đông đã biểu quyết không thông qua nghị quyết của ĐHĐCĐ về việc tổ chức lại công ty hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại điều lệ công ty thì cổ đông có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình. Công ty phải mua lại cổ phần của cổ đông theo giá thị trường hoặc giá được tính theo nguyên tắc quy định tại điều lệ trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu.

Thứ sáu, ủy quyền biểu quyết.

Cổ đông tham dự, phát biểu trong cuộc họp ĐHĐCĐ và thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua người đại diện theo ủy quyền hoặc hình thức khác do điều lệ, pháp luật quy định. Việc cổ đông ủy quyền cho chủ thể khác đại diện dự họp ĐHĐCĐ phải lập thành văn bản theo quy định của pháp luật về dân sự và phải nêu rõ tên cá nhân, tổ chức được ủy quyền và số lượng cổ phần được ủy quyền. Cá nhân, tổ chức được ủy quyền dự họp ĐHĐCĐ phải xuất trình văn bản ủy quyền khi đăng ký dự họp trước khi vào phòng họp. Như vậy, cổ đông có thể ủy quyền cho nhiều người thay mặt nhân danh mình tham dự và thực hiện quyền biểu quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ.

Thứ bảy, thỏa thuận gộp quyền biểu quyết.

Các cổ đông nắm giữ cổ phần có quyền biểu quyết trong thời hạn liên tục ít nhất sáu (06) tháng tính đến thời điểm chốt danh sách cổ đông dự họp có quyền “gộp” số quyền biểu quyết để đề cử các ứng viên Hội đồng quản trị. “Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại điều lệ công ty có quyền đề cử người vào Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát... Các cổ đông phổ thông hợp thành nhóm để đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát phải thông báo về việc họp nhóm cho các cổ đông dự họp biết trước khi khai mạc ĐHĐCĐ”[10]. Việc đề cử ứng viên Hội đồng quản trị mà các cổ đông sau khi gộp số quyền biểu quyết có quyền đề cử phải tuân thủ các quy định của pháp luật và điều lệ công ty. Quy định này giúp các cổ đông có căn cứ pháp lý rõ ràng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tránh những hành vi xâm hại trong hoạt động tổ chức quản lý công ty.

3. Thực trạng pháp luật về quyền biểu quyết của cổ đông và kiến nghị hoàn thiện

Một là, về cơ chế bảo vệ quyền biểu quyết của cổ đông thiểu số.

Theo Luật Chứng khoán năm 2019, “cổ đông lớn là cổ đông sở hữu từ 5% trở lên số cổ phiếu có quyền biểu quyết của một tổ chức phát hành”[11], theo đó, có thể hiểu, cổ đông nhỏ hoặc cổ đông thiểu số là cổ đông sở hữu dưới 5% số cổ phiếu có quyền biểu quyết. Quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 về tỷ lệ biểu quyết và hình thức họp ĐHĐCĐ tạo điều kiện cho các cổ đông nhỏ phát huy vai trò trong ĐHĐCĐ khi đã giảm yêu cầu về tỷ lệ biểu quyết thông qua quyết định ĐHĐCĐ xuống 51% đối với quyết định thông thường và 65% đối với quyết định quan trọng của công ty. Tuy vậy, việc giảm tỷ lệ biểu quyết không thể hiện được mục đích bảo vệ cổ đông nhỏ trước cổ đông lớn, bởi chỉ cần một phiếu biểu quyết của cổ đông lớn đã quyết định được việc thông qua hay không thông qua được quyết định của ĐHĐCĐ.

Vì vậy, cơ chế pháp luật để bảo vệ cổ đông thiểu số thực hiện các quyền năng của chủ sở hữu trong việc quản lý công ty và bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình cần được tiếp tục xây dựng và hoàn thiện. Theo đó, hoàn thiện quy định về các cơ chế gộp, tập trung quyền biểu quyết của cổ đông thiểu số để đồng ý hoặc không đồng ý các vấn đề của công ty tại ĐHĐCĐ, cơ chế hạn chế quyền biểu quyết của “cổ đông lớn” nhằm tránh các quyết định lạm quyền trong các quyết định, xâm hại đến các cổ đông thiểu số.

Hai là, thiết lập cơ chế pháp luật về thỏa thuận cổ đông liên quan đến quyền biểu quyết.

Thỏa thuận cổ đông là sự thống nhất giữa hai hay nhiều cổ đông bằng văn bản hoặc hình thức tương đương về quyền của cổ đông và các vấn đề quản lý công ty. Thỏa thuận giữa các cổ đông có hiệu lực khi không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật, không trái với điều lệ và không làm ảnh hưởng đến lợi ích của công ty, của cổ đông thiểu số. Pháp luật cần thừa nhận thỏa thuận cổ đông liên quan tới quyền biểu quyết như gộp quyền biểu quyết nhằm cùng nhau thể hiện ý chí của mình về các vấn đề của công ty. Đồng thời, Luật Doanh nghiệp cũng cần thiết dự liệu các trường hợp về “lạm dụng đa số” của cổ đông lớn và “lạm dụng thiểu số” của các cổ đông thiểu số trong quá trình thực hiện quyền biểu quyết của mình đối với các vấn đề của công ty để đạt được mục đích riêng xâm hại đến lợi ích của công ty, của các cổ đông khác.

Ba là, về chủ thể sở hữu cổ phần có quyền ưu đãi biểu quyết.

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì “chỉ có tổ chức được Chính phủ ủy quyền và cổ đông sáng lập được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết”. Nếu như việc cổ đông sáng lập được sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết được coi như một ưu đãi đặc biệt đối với những người đã góp công sức thành lập nên công ty thì việc “tổ chức được Chính phủ ủy quyền sở hữu cổ phần ưu đãi của công ty đến nay vẫn có nhiều câu hỏi đặt ra cho quy định này như: Chính phủ dựa trên cơ sở, lý do gì mà có thể ủy quyền cho một tổ chức được hưởng quyền ưu đãi biểu quyết? Tổ chức được Chính phủ ủy quyền có thể là những tổ chức gì? Mục đích của quy định như vậy là gì? Quy định này sẽ tạo điều kiện cho cơ quan hành chính can thiệp vào tự chủ kinh doanh của công ty, thật trái với mục đích của chính sách cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước”[12]. Sự không rõ ràng này đặt ra nhu cầu cần thiết phải đưa ra những hướng dẫn giải thích, áp dụng cho quy định trên và nếu quy định đó cản trở đến quyền tự chủ của công ty và môi trường pháp lý thì cần thiết phải chỉnh sửa để tạo điều kiện thuận lợi, thống nhất trong quá trình thực hiện pháp luật.

Bốn là, về hành vi vi phạm nghiêm trọng trình tự, thủ tục triệu tập họp và ra quyết định của ĐHĐCĐ.

Quy định của khoản 1 Điều 151 Luật Doanh nghiệp năm 2020 về trình tự, thủ tục triệu tập họp và ra quyết định của ĐHĐCĐ vi phạm nghiêm trọng quy định của Luật này và điều lệ công ty. Tuy vậy, việc sử dụng thuật ngữ “vi phạm nghiêm trọng” gây lúng túng trong quá trình áp dụng và thực thi quy định này. Bởi, Luật Doanh nghiệp năm 2020 và các văn bản hướng dẫn không có quy định nào về việc xác định như thế nào là vi phạm nghiêm trọng về trình tự, thủ tục triệu tập cuộc họp và ra quyết định của ĐHĐCĐ theo Luật Doanh nghiệp năm 2020 và điều lệ công ty.

Vì vậy, cần ban hành văn bản hướng dẫn quy định về những hành vi vi phạm nghiêm trọng Luật Doanh nghiệp năm 2020 và điều lệ công ty. Trong thực tiễn, một trong những hành vi được coi là vi phạm nghiêm trọng đó là “hành vi ngăn cản hoặc làm ảnh hưởng đến các quyền tham dự họp, quyền biểu quyết của cổ đông hoặc làm sai lệch kết quả biểu quyết, thông qua nghị quyết ĐHĐCĐ”[13]. Đây là những hành vi vi phạm trình tự, thủ tục khi thông qua các quyết định tại ĐHĐCĐ, vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông. Việc pháp luật quy định rõ ràng sẽ tạo cơ sở pháp lý để cổ đông thực hiện quyền yêu cầu hủy bỏ nghị quyết ĐHĐCĐ, bởi việc thông qua nghị quyết ĐHĐCĐ phải tuân thủ đúng quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 và điều lệ công ty để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết.

Quyền biểu quyết không phải là quyền mang tính kinh tế của cổ đông nhưng việc thực hiện quyền biểu quyết là biện pháp cần thiết để bảo đảm các quyền mang tính kinh tế của cổ đông như: Quyền được hưởng cổ tức, quyền được ưu tiên mua cổ phần mới chào bán, quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần, quyền được phân chia tài sản khi công ty chấm dứt hoạt động và quyền chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác. Vì vậy, các cơ chế thực hiện và bảo vệ quyền biểu quyết của cổ đông đầy đủ, hoàn thiện sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc phản ánh mức độ thực hiện quyền lợi của cổ đông khi sự tách biệt quyền sở hữu với quyền quản lý kinh doanh là đặc trưng mang tính bản chất của công ty cổ phần.

TS. Nguyễn Văn Lâm

Viện Kinh tế và Quản lý, Đại học Bách khoa Hà Nội

[1]. Nguyễn Văn Bình, Lê Thị Tý (1989) (dịch), Tổ chức công ty - tập 2, Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, tr. 72.

[2]. Ngô Viễn Phú (2004), Nghiên cứu so sánh quản lý công ty cổ phần theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Luận án Tiến sỹ tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 40 – 41.

[3]. Nguyễn Thị Thu Vân (2008), Một số vấn đề về công ty và hoàn thiện pháp luật về công ty ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, tr. 137.

[4]. Molano-León, Ricardo (2008), Shareholders’agreement in close corporation and their enforcement in the United States of America, Vniversitas (117), tr. 219 - 252.

[5]. OECD, IFC (2004), Các nguyên tắc quản trị công ty của OECD, Hà Nội, tr. 43.

[6]. Trương Nhật Quang (2016), Pháp luật về doanh nghiệp: Các vấn đề pháp lý cơ bản, Nxb. Dân trí, tr. 273.

[7]. Nguyễn Văn Bình, Lê Thị Tý (1989) (dịch), tlđd, tr. 74.

[8]. Khoản 4 Điều 167 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[9]. Khoản 2 Điều 62 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[10]. Khoản 5 Điều 115 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[11]. Khoản 18 Điều 4 Luật Chứng khoán năm 2019.

[12]. Ngô Viễn Phú (2004), tlđd, tr. 44.

[13]. Trần Thăng Long, Phan Huy Lâm (2021), Bàn về một số quy định liên quan đến Đại hội đồng cổ đông theo Luật Doanh nghiệp năm 2020, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 13 (437), tháng 7/2021.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 378), tháng 4/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: