Thứ năm 22/01/2026 10:23
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số điểm mới về người bào chữa trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Hiện nay, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã có hiệu lực thi hành và thay thế Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, trong đó có rất nhiều điểm mới về người bào chữa.

Bộ luật đã quy định chế định người bào chữa trong một chương riêng, mở rộng quyền và từng bước nâng cao vai trò của người bào chữa trong tố tụng hình sự, cụ thể:

Thứ nhất, về khái niệm người bào chữa

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã đưa ra khái niệm cụ thể về người bào chữa, theo đó: “Người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa”. Quy định này góp phần xác định rõ về tư cách, địa vị tố tụng của người bào chữa, từng bước nâng cao vị thế, vai trò của luật sư tham gia trong tố tụng hình sự. Theo khoản 2 Điều 72 của Bộ luật này, người bào chữa có thể là luật sư, người đại diện của người bị buộc tội, bào chữa viên nhân dân, trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý. So với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã bổ sung một đối tượng được công nhận là người bào chữa là trợ giúp viên pháp lý. Khoản 4 Điều 72 Bộ luật này cũng quy định 11 trường hợp không được làm người bào chữa, tăng thêm 05 trường hợp so với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, bao gồm: Người dịch thuật; người định giá tài sản; người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; người đã bị kết án chưa được xóa án tích; người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc.

Thứ hai, về thủ tục đăng ký bào chữa

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng có sự điều chỉnh mới về thủ tục đăng ký bào chữa nhằm thay thế thủ tục cấp giấy chứng nhận bào chữa rườm rà như trước đây. Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị của người bào chữa, cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền phải xem xét cấp giấy chứng nhận bào chữa, tuy nhiên, trên thực tế thủ tục này thường bị kéo dài hơn rất nhiều. Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, trong vòng 24 giờ kể từ khi nhận đầy đủ giấy tờ của người bào chữa, thì cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền phải kiểm tra giấy tờ, vào sổ đăng ký bào chữa và gửi thông báo cho người đăng ký. Quy định nêu trên đã góp phần hạn chế được những bất cập, khó khăn cho luật sư khi tiếp cận, tham gia bào chữa trong vụ án hình sự.

Thứ ba, về quyền của người bào chữa

Quyền của người bào chữa được quy định tại Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã được mở rộng hơn so với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Đây là một bước tiến rất quan trọng, giúp người bào chữa thực thiện được vai trò, trách nhiệm của mình một cách đầy đủ hơn, qua đó đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, hạn chế các trường hợp oan sai, bức cung, nhục hình. Cụ thể, quyền của người bào chữa được mở rộng như sau:

- Người bào chữa có quyền gặp, hỏi người bị buộc tội, có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, khi người bị bắt bị người tiến hành tố tụng lấy lời khai thì người bào chữa cho người bị bắt có quyền có mặt để nghe việc lấy lời khai (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 không quy định người bào chữa có mặt khi người tiến hành tố tụng lấy lời khai của người bị bắt). Bên cạnh đó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 còn quy định: Sau mỗi lần người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đối với người bị buộc tội kết thúc, thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, bị tạm giữ, bị can thay vì chỉ được hỏi khi có sự đồng ý của điều tra viên như trước kia. Quy định mới này nhằm đảm bảo quyền con người, quyền công dân theo tinh thần Hiến pháp; đồng thời, hạn chế sự lạm quyền từ phía cơ quan tố tụng, bắt người không cần thiết và giúp cho người bào chữa được tiếp xúc với vụ án ngay từ đầu, sẽ thuận lợi hơn trong việc thu thập chứng cứ gỡ tội và những tình tiết giảm nhẹ để có thể bào chữa cho người bị buộc tội ở giai đoạn sau của quá trình tố tụng hình sự.

- Người bào chữa có quyền được tham gia vào các hoạt động tố tụng và được báo trước về thời gian, địa điểm. Theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, trong các hoạt động điều tra, người bào chữa chỉ được có mặt và được cơ quan điều tra báo trước thời gian, địa điểm trong hoạt động lấy lời khai người tạm giữ, hỏi cung bị can. Nếu người bào chữa muốn tham gia vào hoạt động điều tra khác phải được điều tra viên đồng ý. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cho phép ngoài việc được có mặt trong hoạt động lấy lời khai người bị bắt, bị tạm giữ, hỏi cung bị can, người bào chữa còn được có mặt trong hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và các hoạt động điều tra khác và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm khi tiến hành các hoạt động này. Quy định này sẽ góp phần làm cho công tác điều tra khách quan hơn, tránh oan sai trong quá trình tố tụng.

- Trong quá trình giải quyết vụ án, tùy từng giai đoạn tố tụng nếu thấy không cần thiết phải áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế đối với người bị buộc tội, người bào chữa có quyền đề nghị cơ quan tố tụng thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế để đảm bảo quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội.

- Ngoài việc quy định người bào chữa có quyền thu thập đồ vật, tài liệu có liên quan trong vụ án như Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 bổ sung thêm về quyền của người bào chữa trong việc kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá. Đây là một quy định hoàn toàn mới về quyền của người bào chữa. Quy định mới này đã phá bỏ sự độc quyền của các cơ quan tố tụng trong việc thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ, bảo đảm sự công bằng trong quá trình chứng minh, tăng cường tranh tụng, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả trong quá trình thu thập chứng cứ.

- Khi thấy chứng cứ trong hồ sơ vụ án chưa đủ để làm sáng tỏ sự thật khách quan hoặc việc giám định, định giá không khách quan, toàn diện, người bào chữa có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản.

Có thể thấy, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định khá chi tiết, cụ thể về quyền của người bào chữa theo hướng mở rộng hơn trước nhiều, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho luật sư trong quá trình tham gia tố tụng. Các quy định mới về quyền của người bào chữa sẽ giúp nâng cao vị thế của người luật sư nói riêng và người bào chữa nói chung, tạo bước chuyển lớn trong cải cách tư pháp.

Tuy nhiên, vẫn còn một số quyền mà pháp luật quy định cho người bào chữa, nhưng để thực hiện được quyền đó một cách hiệu quả thì lại phụ thuộc nhiều vào cơ quan tiến hành tố tụng. Ví dụ, khoản 1 Điều 79 quy định: “Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải báo trước một thời gian hợp lý cho người bào chữa về thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động tố tụng mà họ có quyền tham gia theo quy định của Bộ luật này”. Mặc dù vậy, luật không quy định thế nào là “thời gian hợp lý” nên người bào chữa rất khó chủ động để thực hiện quyền của mình và điều này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội. Vì vậy, thiết nghĩ, cần phải có văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành đối với các nội dung mà Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chưa quy định cụ thể để bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người bị buộc tội và nâng cao vai trò của người bào chữa trong tố tụng hình sự, hướng đến mục tiêu cải cách tư pháp, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Luật sư Bùi Hồng Hải

Công ty Luật TNHH SMiC



Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: