Thứ năm 15/01/2026 05:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Trợ giúp pháp lý là chính sách lớn trong tổng thể các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta, có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Trợ giúp pháp lý không chỉ do Nhà nước thực hiện, mà cần có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện để thu hút các nguồn lực tham gia thực hiện, đóng góp, hỗ trợ cho hoạt động này. Tuy nhiên, để huy động tốt hơn sự tham gia của xã hội, cần phải đề ra các giải pháp hữu hiệu nhằm đẩy mạnh việc xã hội hoá hoạt động trợ giúp pháp lý.


Abstract: Legal aid is one great policy of entire social policies of our Party and State and has deeply human meaning. Legal aid is not only implemented by the State but also needs policy promoting, enabling the participation, and assistance from other sources. There is, however, effective solutions should be put forward for strengthening socialization of legal aid activities in order to better mobilize the participation of the society.

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được TGPL, là trách nhiệm của Nhà nước. Tuy nhiên, TGPL không chỉ do Nhà nước thực hiện và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện, mà Nhà nước còn có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện để thu hút các nguồn lực tham gia thực hiện, đóng góp, hỗ trợ cho hoạt động TGPL.

TGPL được coi là một loại hình dịch vụ công và chủ trương xã hội hóa hoạt động dịch vụ công là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Nhưng đến nay, trong các văn bản của Đảng và Nhà nước mới chỉ đề cập đến xã hội hóa dịch vụ công một cách chung nhất, mà chưa quy định cụ thể về xã hội hóa dịch vụ công. Vì vậy, để thực hiện xã hội hóa hoạt động TGPL, huy động tốt hơn sự tham gia của xã hội vào hoạt động TGPL, đáp ứng nhu cầu của người dân nói chung và người được TGPL nói riêng cần phải đề ra các giải pháp hữu hiệu nhằm đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động trợ giúp pháp lý.

1. Đặc trưng xã hội hóa hoạt động trợ giúp pháp lý

Xã hội hóa là quá trình huy động sự tham gia rộng rãi, tích cực, chủ động của các chủ thể vào hoạt động cung cấp dịch vụ công trên cơ sở phát huy sáng tạo và khả năng đóng góp của tổ chức. Xã hội hóa hoạt động TGPL là việc Nhà nước tạo môi trường pháp lý, cơ chế và giải pháp để khuyến khích, huy động các nguồn lực xã hội tham gia cùng Nhà nước thực hiện TGPL giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng, người dân tộc thiểu số và những người yếu thế trong xã hội.

Việc xã hội hóa hoạt động TGPL thể hiện cụ thể như sau:

Thứ nhất, xã hội hóa hoạt động TGPL tạo môi trường cạnh tranh trong việc cung cấp dịch vụ TGPL miễn phí giữa Trung tâm TGPL nhà nước, đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm với các tổ chức tham gia TGPL, người tham gia TGPL. Do vậy, người thuộc diện được TGPL có quyền lựa chọn người cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí khi có yêu cầu.

Thứ hai, xã hội hóa hoạt động TGPL tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện tham gia cùng Nhà nước thực hiện TGPL; sự quan tâm của các cá nhân, tổ chức đối với người nghèo, người có công với cách mạng và những người yếu thế trong xã hội, góp phần gìn giữ truyền thống của dân tộc, đồng thời việc tham gia TGPL của các cá nhân, tổ chức xã hội, tổ chức hành nghề luật sư cũng là thể hiện đạo đức nghề nghiệp của họ.

Thứ ba, xã hội hóa hoạt động TGPL nhằm giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước, bù đắp thiếu hụt về kinh phí để thực hiện và tổ chức thực hiện hoạt động TGPL trong điều kiện ngân sách nước ta còn hạn hẹp, đặc biệt là trong bối cảnh thực hiện cải cách hành chính, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Thứ tư, xã hội hóa hoạt động TGPL nhằm tạo thêm và đa dạng hóa nguồn lực thực hiện TGPL góp phần đáp ứng tốt nhất nhu cầu TGPL của người được TGPL, thu hẹp sự phân hóa giàu nghèo trong việc tiếp cận với pháp luật, tạo sự bình đẳng trước pháp luật của người dân.

2. Thực trạng xã hội hóa hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong thời gian qua, công tác TGPL đem lại những kết quả nhất định, đặc biệt việc xã hội hóa hoạt động TGPL góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người được TGPL khi họ có yêu cầu.

Một là, xã hội hóa tổ chức thực hiện TGPL

Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 đã luật hóa các quy định về xã hội hóa hoạt động TGPL. Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này cũng quy định khuyến khích, tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên; tổ chức hành nghề luật sư và luật sư; cơ quan, tổ chức, cá nhân khác tham gia thực hiện, đóng góp, hỗ trợ hoạt động TGPL. Tính đến 31/12/2016, toàn quốc có 63 Trung tâm TGPL Nhà nước ở 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, 184 Chi nhánh của Trung tâm đặt tại cấp huyện và liên huyện và 357 tổ chức hành nghề luật sư và Trung tâm tư vấn pháp luật đăng ký tham gia TGPL. Tuy nhiên, so với tổ chức hành nghề luật sư và Trung tâm tư vấn pháp luật trên toàn quốc thì số lượng tổ chức đăng ký tham gia TGPL chiếm tỷ lệ không cao. Hiệu quả hoạt động TGPL của các tổ chức tham gia TGPL cũng còn nhiều hạn chế. Một số tổ chức đăng ký tham gia nhưng chưa thực hiện được vụ việc TGPL nào.

Hai là, xã hội hóa người thực hiện TGPL

Bên cạnh các tổ chức tham gia thực hiện TGPL cùng với Trung tâm TGPL Nhà nước các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì việc huy động các cá nhân tham gia thực hiện TGPL cùng với đội ngũ người thực hiện TGPL của Nhà nước được quy định ngay từ những ngày đầu thành lập tổ chức TGPL cho người nghèo và đối tượng chính sách. Theo Quyết định số 734/TTg ngày 06/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản hướng dẫn thi hành, các Trung tâm TGPL của Nhà nước cần xây dựng đội ngũ cộng tác viên bảo đảm mỗi lĩnh vực pháp luật thuộc phạm vi trợ giúp có ít nhất 01 cộng tác viên đảm nhận. Chuyên viên pháp lý của các cơ quan và tổ chức, các luật sư, luật gia và cá nhân có đủ điều kiện theo quy định tại Quy chế cộng tác viên của tổ chức TGPL ban hành kèm theo Quyết định số 358/2003/QĐ-BTP ngày 15/8/2003 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp tham gia làm cộng tác viên của Cục Trợ giúp pháp lý (được Cục trưởng Cục Trợ giúp pháp lý cấp thẻ) và các Trung tâm TGPL Nhà nước ở địa phương (được Giám đốc Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp thẻ). Các cơ quan, tổ chức phải tạo điều kiện để cán bộ, viên chức, công chức, thành viên, hội viên và cá nhân khác làm việc tại cơ quan, tổ chức mình tham gia làm cộng tác viên TGPL. Đến ngày 31/12/2016, các Trung tâm trên toàn quốc có 605 Trợ giúp viên pháp lý và 6.920 cộng tác viên TGPL, trong đó có 1.021 luật sư, 241 tư vấn viên pháp luật, 5.658 cộng tác viên TGPL khác. Như vậy, có thể thấy, việc huy động luật sư tham gia làm cộng tác viên TGPL còn nhiều hạn chế, đội ngũ cộng tác viên TGPL là luật sư chiếm tỷ lệ rất thấp là 9,4% tổng số luật sư hành nghề trong toàn quốc. Phần lớn các vụ việc do cộng tác viên thực hiện là vụ việc tư vấn pháp luật.

Ba là, xã hội hóa kinh phí hoạt động TGPL

Bên cạnh việc xã hội hóa tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL, pháp luật về TGPL có có chủ trương xã hội hóa về kinh phí hoạt động TGPL thông qua việc huy động sự đóng góp, hỗ trợ về tài chính của các tổ chức, cá nhân. Đến nay, việc huy động nguồn lực này chưa đạt hiệu quả. Từ năm 2010 đến nay, các nguồn hỗ trợ của đối tác nước ngoài rất hạn chế, kinh phí cấp cho hoạt động TGPL hoàn toàn do ngân sách địa phương cấp và không ổn định trong các năm nên việc triển khai các hoạt động TGPL còn khó khăn. Để thuận lợi trong việc huy động các nguồn lực tài chính thực hiện TGPL, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 quy định về Quỹ TGPL nhằm huy động hiệu quả sự đóng góp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, hoạt động của Quỹ TGPL thời gian qua vẫn hoàn toàn từ nguồn ngân sách nhà nước mà chưa thu hút được nguồn tài chính đáng kể nào từ xã hội để giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Đến Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 không còn quy định về Quỹ TGPL nữa, mà việc xã hội hóa kinh phí hoạt động TGPL theo hướng hỗ trợ, khuyến khích, ghi nhận và tôn vinh các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, đóng góp cho hoạt động TGPL. Các tổ chức, cá nhân khi hỗ trợ kinh phí cho hoạt động TGPL sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành về tiếp nhận kinh phí hỗ trợ.

Có thể nói, thời gian qua, xã hội hóa hoạt động TGPL đã có nhiều kết quả đáng ghi nhận, song cũng bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập cụ thể như sau:

- Cơ chế chính sách pháp luật chưa thật sự tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia, đóng góp cho hoạt động TGPL: Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã quy định cơ chế hỗ trợ tài chính đối với tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật tham gia TGPL, nhưng do điều kiện ngân sách còn hạn hẹp, vì vậy, mức hỗ trợ chỉ có một phần rất nhỏ so với công sức của các tổ chức, cá nhân khi tham gia thực hiện TGPL. Cá nhân tham gia TGPL có quy định về chế độ bồi dưỡng vụ việc TGPL đối với luật sư, tư vấn viên pháp luật tham gia, song mức bồi dưỡng này còn rất hạn chế, đồng thời, thủ tục thanh toán chi phí thực hiện vụ việc TGPL chưa thực sự đơn giản, dẫn đến số lượng luật sư tham gia thực hiện TGPL không nhiều, chưa thường xuyên, tích cực, nhiều luật sư mới hành nghề, chưa có nhiều kinh nghiệm và năng lực tham gia tố tụng còn hạn chế.

- Về công tác truyền thông về TGPL còn hạn chế, chưa đa dạng về hình thức và nội dung: Công tác truyền thông, phổ biến pháp luật về TGPL nói chung và xã hội hóa hoạt động TGPL nói riêng ở một số nơi còn chưa thường xuyên, chưa đổi mới phương thức nên hiệu quả còn nhiều hạn chế, chưa thu hút được sự quan tâm của xã hội, người dân về công tác này.

- Về nguồn nhân lực thực hiện xã hội hóa hoạt động TGPL: Số lượng các tổ chức tự nguyện đăng ký tham gia TGPL còn ít so với tiềm năng hiện có. Nhiều tổ chức hành nghề luật sư, tư vấn pháp luật đăng ký tham gia nhưng chưa thực sự quan tâm đến việc thực hiện vụ việc TGPL. Đội ngũ cộng tác viên hiện gấp 11,4 lần so với đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý nhưng việc thực hiện TGPL còn hạn chế, chưa thực sự tích cực, tâm huyết giành nhiều thời gian tham gia hoạt động TGPL. Năng lực, kỹ năng TGPL của các tư vấn viên pháp luật chưa đồng đều.

- Về kinh phí và các điều kiện tài chính khác: Kinh phí bảo đảm cho công tác TGPL còn hạn chế. Tỷ lệ kinh phí dành cho TGPL chiếm tỷ lệ không cao, cá biệt có địa phương không có đủ nguồn kinh phí thực hiện TGPL.

3. Một số giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động trợ giúp pháp lý

Để thực hiện có hiệu quả xã hội hóa hoạt động TGPL nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc còn tồn tại, trong thời gian tới, cần có sự nghiên cứu để đề ra những giải pháp thúc đẩy xã hội hóa hoạt động TGPL nhằm đáp ứng nhu cầu TGPL ngày một tăng của nhân dân bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

3.1. Về giải pháp trước mắt

- Tăng cường truyền thông về Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 cũng như vị trí, vai trò, ý nghĩa của công tác này đến với các cơ quan, tổ chức, cá nhân nói chung các văn phòng luật sư, công ty luật, tổ chức tư vấn pháp luật và các luật sư trong toàn quốc. Nâng cao nhận thức cho toàn xã hội về TGPL góp phần bảo vệ công lý, công bằng xã hội phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ văn minh.

- Về thể chế, cần xây dựng Đề án xã hội hóa hoạt động TGPL; xây dựng Nghị định của Chính phủ quy định về cơ chế vinh danh, ưu tiên là khách hàng của Nhà nước đối với các vụ tranh chấp mà Nhà nước là một bên cho các tổ chức hành nghề luật sư thực hiện nhiều vụ việc TGPL, đồng thời, có chính sách ưu đãi về thuế, về việc giao đất hoặc thuê đất, thuê trụ sở, hỗ trợ quảng cáo đối với các tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật thực hiện một số lượng vụ việc TGPL nhất định trong năm. Đặc biệt, cần có chính sách đãi ngộ phù hợp đối với các tổ chức tham gia TGPL tại vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

- Củng cố, kiện toàn tổ chức, tăng cường năng lực thực hiện TGPL của các tổ chức thực hiện TGPL theo Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017. Đối với Trung tâm TGPL Nhà nước, cần có phương án kiện toàn, tăng cường năng lực bảo đảm phù hợp với điều kiện từng vùng miền và nhu cầu TGPL ở địa phương cũng như các nguồn lực xã hội khác. Xây dựng cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập không có thu.

- Xây dựng cơ chế chi trả thù lao hợp lý cho các tổ chức hành nghề luật sư, trung tâm tư vấn pháp luật tham gia TGPL thông qua việc ký hợp đồng thực hiện TGPL với Sở Tư pháp hoặc đăng ký tham gia TGPL với Sở Tư pháp nơi đã cấp giấy đăng ký hoạt động.

- Về người thực hiện TGPL, rà soát đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý hiện có, trên cơ sở điều kiện thực tế, nhu cầu TGPL của từng địa phương để xác định số lượng cần thiết bảo đảm phù hợp với từng vùng miền. Bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ và kỹ năng cho họ với những hình thức phù hợp, đặc biệt là kỹ năng tranh tụng. Nâng cao chất lượng tham gia tố tụng của các Trợ giúp viên pháp lý thông qua việc tiếp tục giao chỉ tiêu tham gia tố tụng hàng năm. Nâng cao chế độ đãi ngộ người tham gia thực hiện TGPL để khuyến khích, động viên thu hút lực lượng xã hội tham gia vào hoạt động TGPL. Đơn giản hóa các thủ tục thanh toán chi phí thực hiện vụ việc TGPL và thù lao tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia TGPL.

- Xây dựng cơ chế hỗ trợ cơ sở vật chất; tăng mức thù lao và chi phí thực hiện vụ việc TGPL; thu hút tài trợ cho các hoạt động TGPL, bảo đảm kinh phí cho công tác TGPL, cơ cấu hợp lý các khoản chi.

- Tăng cường hợp tác quốc tế về TGPL, tập trung hỗ trợ kỹ thuật từ các nước có hệ thống TGPL phát triển giúp tăng cường chia sẻ thông tin, kinh nghiệm về cách thức triển khai hoạt động TGPL có hiệu quả.

3.2. Về giải pháp lâu dài

- Tiếp tục nâng cao nhận thức cho toàn xã hội về TGPL là trách nhiệm của xã hội đối với hoạt động này và đẩy mạnh hoạt động truyền thông về TGPL.

- Xây dựng cơ chế chuyển đổi các Trợ giúp viên pháp lý đã tham gia tố tụng đạt chỉ tiêu vụ việc được giao hàng năm và bảo đảm chất lượng thành luật sư công thay thế cho chức danh Trợ giúp viên pháp lý hiện nay nếu có nguyện vọng. Theo hướng này, tại Trung tâm TGPL Nhà nước có luật sư công là người thực hiện TGPL. Như vậy, người thực hiện TGPL có thể là luật sư công thực hiện TGPL và luật sư hành nghề cung cấp dịch vụ TGPL (ký hợp đồng vụ việc với Nhà nước). Luật sư công sẽ được Nhà nước ưu tiên ký hợp đồng thường xuyên để thực hiện TGPL. Việc chuyển đổi mô hình người thực hiện TGPL ở giai đoạn sau năm 2025 là phù hợp với xu thế chung của các nước trong khu vực và trên thế giới và bảo đảm lộ trình phát triển dịch vụ TGPL miễn phí ở nước ta. Khi chuyển đổi Trợ giúp viên pháp lý thành luật sư góp phần nâng cao vị thế của Trợ giúp viên pháp lý, bởi vì khi đó họ trở thành luật sư công - một chức danh nghề nghiệp tư pháp quan trọng, không thể thiếu trong nền tư pháp dân chủ. Luật sư công thực hiện TGPL bảo đảm tính độc lập, khách quan khi tham gia tố tụng để bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL, nhất là đối với các vụ việc tham gia tố tụng trong lĩnh vực hành chính.

- Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động TGPL là huy động luật sư hành nghề cung cấp dịch vụ TGPL tham gia thực hiện TGPL. Do đó, trong giai đoạn này đòi hỏi đội ngũ luật sư có trình độ chuyên môn sâu. Đồng thời, cần có chế độ đãi ngộ xứng đáng, cơ chế vinh danh, khen thưởng đối với những người thực hiện TGPL.

- Ngân sách nhà nước đầu tư cho hoạt động TGPL bảo đảm có dòng ngân sách riêng. Nhà nước tập trung quản lý, điều phối nguồn nhân lực và tài chính, bảo đảm cho hoạt động TGPL của Nhà nước hiệu quả, bền vững.

Lê Thị Thu Hà

Cục Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: