Thứ tư 04/03/2026 16:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Trợ giúp pháp lý là chính sách lớn trong tổng thể các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta, có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Trợ giúp pháp lý không chỉ do Nhà nước thực hiện, mà cần có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện để thu hút các nguồn lực tham gia thực hiện, đóng góp, hỗ trợ cho hoạt động này. Tuy nhiên, để huy động tốt hơn sự tham gia của xã hội, cần phải đề ra các giải pháp hữu hiệu nhằm đẩy mạnh việc xã hội hoá hoạt động trợ giúp pháp lý.


Abstract: Legal aid is one great policy of entire social policies of our Party and State and has deeply human meaning. Legal aid is not only implemented by the State but also needs policy promoting, enabling the participation, and assistance from other sources. There is, however, effective solutions should be put forward for strengthening socialization of legal aid activities in order to better mobilize the participation of the society.

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được TGPL, là trách nhiệm của Nhà nước. Tuy nhiên, TGPL không chỉ do Nhà nước thực hiện và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện, mà Nhà nước còn có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện để thu hút các nguồn lực tham gia thực hiện, đóng góp, hỗ trợ cho hoạt động TGPL.

TGPL được coi là một loại hình dịch vụ công và chủ trương xã hội hóa hoạt động dịch vụ công là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Nhưng đến nay, trong các văn bản của Đảng và Nhà nước mới chỉ đề cập đến xã hội hóa dịch vụ công một cách chung nhất, mà chưa quy định cụ thể về xã hội hóa dịch vụ công. Vì vậy, để thực hiện xã hội hóa hoạt động TGPL, huy động tốt hơn sự tham gia của xã hội vào hoạt động TGPL, đáp ứng nhu cầu của người dân nói chung và người được TGPL nói riêng cần phải đề ra các giải pháp hữu hiệu nhằm đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động trợ giúp pháp lý.

1. Đặc trưng xã hội hóa hoạt động trợ giúp pháp lý

Xã hội hóa là quá trình huy động sự tham gia rộng rãi, tích cực, chủ động của các chủ thể vào hoạt động cung cấp dịch vụ công trên cơ sở phát huy sáng tạo và khả năng đóng góp của tổ chức. Xã hội hóa hoạt động TGPL là việc Nhà nước tạo môi trường pháp lý, cơ chế và giải pháp để khuyến khích, huy động các nguồn lực xã hội tham gia cùng Nhà nước thực hiện TGPL giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng, người dân tộc thiểu số và những người yếu thế trong xã hội.

Việc xã hội hóa hoạt động TGPL thể hiện cụ thể như sau:

Thứ nhất, xã hội hóa hoạt động TGPL tạo môi trường cạnh tranh trong việc cung cấp dịch vụ TGPL miễn phí giữa Trung tâm TGPL nhà nước, đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm với các tổ chức tham gia TGPL, người tham gia TGPL. Do vậy, người thuộc diện được TGPL có quyền lựa chọn người cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí khi có yêu cầu.

Thứ hai, xã hội hóa hoạt động TGPL tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện tham gia cùng Nhà nước thực hiện TGPL; sự quan tâm của các cá nhân, tổ chức đối với người nghèo, người có công với cách mạng và những người yếu thế trong xã hội, góp phần gìn giữ truyền thống của dân tộc, đồng thời việc tham gia TGPL của các cá nhân, tổ chức xã hội, tổ chức hành nghề luật sư cũng là thể hiện đạo đức nghề nghiệp của họ.

Thứ ba, xã hội hóa hoạt động TGPL nhằm giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước, bù đắp thiếu hụt về kinh phí để thực hiện và tổ chức thực hiện hoạt động TGPL trong điều kiện ngân sách nước ta còn hạn hẹp, đặc biệt là trong bối cảnh thực hiện cải cách hành chính, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Thứ tư, xã hội hóa hoạt động TGPL nhằm tạo thêm và đa dạng hóa nguồn lực thực hiện TGPL góp phần đáp ứng tốt nhất nhu cầu TGPL của người được TGPL, thu hẹp sự phân hóa giàu nghèo trong việc tiếp cận với pháp luật, tạo sự bình đẳng trước pháp luật của người dân.

2. Thực trạng xã hội hóa hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong thời gian qua, công tác TGPL đem lại những kết quả nhất định, đặc biệt việc xã hội hóa hoạt động TGPL góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người được TGPL khi họ có yêu cầu.

Một là, xã hội hóa tổ chức thực hiện TGPL

Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 đã luật hóa các quy định về xã hội hóa hoạt động TGPL. Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này cũng quy định khuyến khích, tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên; tổ chức hành nghề luật sư và luật sư; cơ quan, tổ chức, cá nhân khác tham gia thực hiện, đóng góp, hỗ trợ hoạt động TGPL. Tính đến 31/12/2016, toàn quốc có 63 Trung tâm TGPL Nhà nước ở 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, 184 Chi nhánh của Trung tâm đặt tại cấp huyện và liên huyện và 357 tổ chức hành nghề luật sư và Trung tâm tư vấn pháp luật đăng ký tham gia TGPL. Tuy nhiên, so với tổ chức hành nghề luật sư và Trung tâm tư vấn pháp luật trên toàn quốc thì số lượng tổ chức đăng ký tham gia TGPL chiếm tỷ lệ không cao. Hiệu quả hoạt động TGPL của các tổ chức tham gia TGPL cũng còn nhiều hạn chế. Một số tổ chức đăng ký tham gia nhưng chưa thực hiện được vụ việc TGPL nào.

Hai là, xã hội hóa người thực hiện TGPL

Bên cạnh các tổ chức tham gia thực hiện TGPL cùng với Trung tâm TGPL Nhà nước các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì việc huy động các cá nhân tham gia thực hiện TGPL cùng với đội ngũ người thực hiện TGPL của Nhà nước được quy định ngay từ những ngày đầu thành lập tổ chức TGPL cho người nghèo và đối tượng chính sách. Theo Quyết định số 734/TTg ngày 06/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản hướng dẫn thi hành, các Trung tâm TGPL của Nhà nước cần xây dựng đội ngũ cộng tác viên bảo đảm mỗi lĩnh vực pháp luật thuộc phạm vi trợ giúp có ít nhất 01 cộng tác viên đảm nhận. Chuyên viên pháp lý của các cơ quan và tổ chức, các luật sư, luật gia và cá nhân có đủ điều kiện theo quy định tại Quy chế cộng tác viên của tổ chức TGPL ban hành kèm theo Quyết định số 358/2003/QĐ-BTP ngày 15/8/2003 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp tham gia làm cộng tác viên của Cục Trợ giúp pháp lý (được Cục trưởng Cục Trợ giúp pháp lý cấp thẻ) và các Trung tâm TGPL Nhà nước ở địa phương (được Giám đốc Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp thẻ). Các cơ quan, tổ chức phải tạo điều kiện để cán bộ, viên chức, công chức, thành viên, hội viên và cá nhân khác làm việc tại cơ quan, tổ chức mình tham gia làm cộng tác viên TGPL. Đến ngày 31/12/2016, các Trung tâm trên toàn quốc có 605 Trợ giúp viên pháp lý và 6.920 cộng tác viên TGPL, trong đó có 1.021 luật sư, 241 tư vấn viên pháp luật, 5.658 cộng tác viên TGPL khác. Như vậy, có thể thấy, việc huy động luật sư tham gia làm cộng tác viên TGPL còn nhiều hạn chế, đội ngũ cộng tác viên TGPL là luật sư chiếm tỷ lệ rất thấp là 9,4% tổng số luật sư hành nghề trong toàn quốc. Phần lớn các vụ việc do cộng tác viên thực hiện là vụ việc tư vấn pháp luật.

Ba là, xã hội hóa kinh phí hoạt động TGPL

Bên cạnh việc xã hội hóa tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL, pháp luật về TGPL có có chủ trương xã hội hóa về kinh phí hoạt động TGPL thông qua việc huy động sự đóng góp, hỗ trợ về tài chính của các tổ chức, cá nhân. Đến nay, việc huy động nguồn lực này chưa đạt hiệu quả. Từ năm 2010 đến nay, các nguồn hỗ trợ của đối tác nước ngoài rất hạn chế, kinh phí cấp cho hoạt động TGPL hoàn toàn do ngân sách địa phương cấp và không ổn định trong các năm nên việc triển khai các hoạt động TGPL còn khó khăn. Để thuận lợi trong việc huy động các nguồn lực tài chính thực hiện TGPL, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 quy định về Quỹ TGPL nhằm huy động hiệu quả sự đóng góp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, hoạt động của Quỹ TGPL thời gian qua vẫn hoàn toàn từ nguồn ngân sách nhà nước mà chưa thu hút được nguồn tài chính đáng kể nào từ xã hội để giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Đến Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 không còn quy định về Quỹ TGPL nữa, mà việc xã hội hóa kinh phí hoạt động TGPL theo hướng hỗ trợ, khuyến khích, ghi nhận và tôn vinh các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, đóng góp cho hoạt động TGPL. Các tổ chức, cá nhân khi hỗ trợ kinh phí cho hoạt động TGPL sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành về tiếp nhận kinh phí hỗ trợ.

Có thể nói, thời gian qua, xã hội hóa hoạt động TGPL đã có nhiều kết quả đáng ghi nhận, song cũng bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập cụ thể như sau:

- Cơ chế chính sách pháp luật chưa thật sự tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia, đóng góp cho hoạt động TGPL: Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã quy định cơ chế hỗ trợ tài chính đối với tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật tham gia TGPL, nhưng do điều kiện ngân sách còn hạn hẹp, vì vậy, mức hỗ trợ chỉ có một phần rất nhỏ so với công sức của các tổ chức, cá nhân khi tham gia thực hiện TGPL. Cá nhân tham gia TGPL có quy định về chế độ bồi dưỡng vụ việc TGPL đối với luật sư, tư vấn viên pháp luật tham gia, song mức bồi dưỡng này còn rất hạn chế, đồng thời, thủ tục thanh toán chi phí thực hiện vụ việc TGPL chưa thực sự đơn giản, dẫn đến số lượng luật sư tham gia thực hiện TGPL không nhiều, chưa thường xuyên, tích cực, nhiều luật sư mới hành nghề, chưa có nhiều kinh nghiệm và năng lực tham gia tố tụng còn hạn chế.

- Về công tác truyền thông về TGPL còn hạn chế, chưa đa dạng về hình thức và nội dung: Công tác truyền thông, phổ biến pháp luật về TGPL nói chung và xã hội hóa hoạt động TGPL nói riêng ở một số nơi còn chưa thường xuyên, chưa đổi mới phương thức nên hiệu quả còn nhiều hạn chế, chưa thu hút được sự quan tâm của xã hội, người dân về công tác này.

- Về nguồn nhân lực thực hiện xã hội hóa hoạt động TGPL: Số lượng các tổ chức tự nguyện đăng ký tham gia TGPL còn ít so với tiềm năng hiện có. Nhiều tổ chức hành nghề luật sư, tư vấn pháp luật đăng ký tham gia nhưng chưa thực sự quan tâm đến việc thực hiện vụ việc TGPL. Đội ngũ cộng tác viên hiện gấp 11,4 lần so với đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý nhưng việc thực hiện TGPL còn hạn chế, chưa thực sự tích cực, tâm huyết giành nhiều thời gian tham gia hoạt động TGPL. Năng lực, kỹ năng TGPL của các tư vấn viên pháp luật chưa đồng đều.

- Về kinh phí và các điều kiện tài chính khác: Kinh phí bảo đảm cho công tác TGPL còn hạn chế. Tỷ lệ kinh phí dành cho TGPL chiếm tỷ lệ không cao, cá biệt có địa phương không có đủ nguồn kinh phí thực hiện TGPL.

3. Một số giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động trợ giúp pháp lý

Để thực hiện có hiệu quả xã hội hóa hoạt động TGPL nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc còn tồn tại, trong thời gian tới, cần có sự nghiên cứu để đề ra những giải pháp thúc đẩy xã hội hóa hoạt động TGPL nhằm đáp ứng nhu cầu TGPL ngày một tăng của nhân dân bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

3.1. Về giải pháp trước mắt

- Tăng cường truyền thông về Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 cũng như vị trí, vai trò, ý nghĩa của công tác này đến với các cơ quan, tổ chức, cá nhân nói chung các văn phòng luật sư, công ty luật, tổ chức tư vấn pháp luật và các luật sư trong toàn quốc. Nâng cao nhận thức cho toàn xã hội về TGPL góp phần bảo vệ công lý, công bằng xã hội phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ văn minh.

- Về thể chế, cần xây dựng Đề án xã hội hóa hoạt động TGPL; xây dựng Nghị định của Chính phủ quy định về cơ chế vinh danh, ưu tiên là khách hàng của Nhà nước đối với các vụ tranh chấp mà Nhà nước là một bên cho các tổ chức hành nghề luật sư thực hiện nhiều vụ việc TGPL, đồng thời, có chính sách ưu đãi về thuế, về việc giao đất hoặc thuê đất, thuê trụ sở, hỗ trợ quảng cáo đối với các tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật thực hiện một số lượng vụ việc TGPL nhất định trong năm. Đặc biệt, cần có chính sách đãi ngộ phù hợp đối với các tổ chức tham gia TGPL tại vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

- Củng cố, kiện toàn tổ chức, tăng cường năng lực thực hiện TGPL của các tổ chức thực hiện TGPL theo Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017. Đối với Trung tâm TGPL Nhà nước, cần có phương án kiện toàn, tăng cường năng lực bảo đảm phù hợp với điều kiện từng vùng miền và nhu cầu TGPL ở địa phương cũng như các nguồn lực xã hội khác. Xây dựng cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập không có thu.

- Xây dựng cơ chế chi trả thù lao hợp lý cho các tổ chức hành nghề luật sư, trung tâm tư vấn pháp luật tham gia TGPL thông qua việc ký hợp đồng thực hiện TGPL với Sở Tư pháp hoặc đăng ký tham gia TGPL với Sở Tư pháp nơi đã cấp giấy đăng ký hoạt động.

- Về người thực hiện TGPL, rà soát đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý hiện có, trên cơ sở điều kiện thực tế, nhu cầu TGPL của từng địa phương để xác định số lượng cần thiết bảo đảm phù hợp với từng vùng miền. Bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ và kỹ năng cho họ với những hình thức phù hợp, đặc biệt là kỹ năng tranh tụng. Nâng cao chất lượng tham gia tố tụng của các Trợ giúp viên pháp lý thông qua việc tiếp tục giao chỉ tiêu tham gia tố tụng hàng năm. Nâng cao chế độ đãi ngộ người tham gia thực hiện TGPL để khuyến khích, động viên thu hút lực lượng xã hội tham gia vào hoạt động TGPL. Đơn giản hóa các thủ tục thanh toán chi phí thực hiện vụ việc TGPL và thù lao tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia TGPL.

- Xây dựng cơ chế hỗ trợ cơ sở vật chất; tăng mức thù lao và chi phí thực hiện vụ việc TGPL; thu hút tài trợ cho các hoạt động TGPL, bảo đảm kinh phí cho công tác TGPL, cơ cấu hợp lý các khoản chi.

- Tăng cường hợp tác quốc tế về TGPL, tập trung hỗ trợ kỹ thuật từ các nước có hệ thống TGPL phát triển giúp tăng cường chia sẻ thông tin, kinh nghiệm về cách thức triển khai hoạt động TGPL có hiệu quả.

3.2. Về giải pháp lâu dài

- Tiếp tục nâng cao nhận thức cho toàn xã hội về TGPL là trách nhiệm của xã hội đối với hoạt động này và đẩy mạnh hoạt động truyền thông về TGPL.

- Xây dựng cơ chế chuyển đổi các Trợ giúp viên pháp lý đã tham gia tố tụng đạt chỉ tiêu vụ việc được giao hàng năm và bảo đảm chất lượng thành luật sư công thay thế cho chức danh Trợ giúp viên pháp lý hiện nay nếu có nguyện vọng. Theo hướng này, tại Trung tâm TGPL Nhà nước có luật sư công là người thực hiện TGPL. Như vậy, người thực hiện TGPL có thể là luật sư công thực hiện TGPL và luật sư hành nghề cung cấp dịch vụ TGPL (ký hợp đồng vụ việc với Nhà nước). Luật sư công sẽ được Nhà nước ưu tiên ký hợp đồng thường xuyên để thực hiện TGPL. Việc chuyển đổi mô hình người thực hiện TGPL ở giai đoạn sau năm 2025 là phù hợp với xu thế chung của các nước trong khu vực và trên thế giới và bảo đảm lộ trình phát triển dịch vụ TGPL miễn phí ở nước ta. Khi chuyển đổi Trợ giúp viên pháp lý thành luật sư góp phần nâng cao vị thế của Trợ giúp viên pháp lý, bởi vì khi đó họ trở thành luật sư công - một chức danh nghề nghiệp tư pháp quan trọng, không thể thiếu trong nền tư pháp dân chủ. Luật sư công thực hiện TGPL bảo đảm tính độc lập, khách quan khi tham gia tố tụng để bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL, nhất là đối với các vụ việc tham gia tố tụng trong lĩnh vực hành chính.

- Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động TGPL là huy động luật sư hành nghề cung cấp dịch vụ TGPL tham gia thực hiện TGPL. Do đó, trong giai đoạn này đòi hỏi đội ngũ luật sư có trình độ chuyên môn sâu. Đồng thời, cần có chế độ đãi ngộ xứng đáng, cơ chế vinh danh, khen thưởng đối với những người thực hiện TGPL.

- Ngân sách nhà nước đầu tư cho hoạt động TGPL bảo đảm có dòng ngân sách riêng. Nhà nước tập trung quản lý, điều phối nguồn nhân lực và tài chính, bảo đảm cho hoạt động TGPL của Nhà nước hiệu quả, bền vững.

Lê Thị Thu Hà

Cục Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: