Chủ nhật 25/10/2026 00:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Trợ giúp pháp lý là chính sách lớn trong tổng thể các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta, có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Trợ giúp pháp lý không chỉ do Nhà nước thực hiện, mà cần có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện để thu hút các nguồn lực tham gia thực hiện, đóng góp, hỗ trợ cho hoạt động này. Tuy nhiên, để huy động tốt hơn sự tham gia của xã hội, cần phải đề ra các giải pháp hữu hiệu nhằm đẩy mạnh việc xã hội hoá hoạt động trợ giúp pháp lý.


Abstract: Legal aid is one great policy of entire social policies of our Party and State and has deeply human meaning. Legal aid is not only implemented by the State but also needs policy promoting, enabling the participation, and assistance from other sources. There is, however, effective solutions should be put forward for strengthening socialization of legal aid activities in order to better mobilize the participation of the society.

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được TGPL, là trách nhiệm của Nhà nước. Tuy nhiên, TGPL không chỉ do Nhà nước thực hiện và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện, mà Nhà nước còn có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện để thu hút các nguồn lực tham gia thực hiện, đóng góp, hỗ trợ cho hoạt động TGPL.

TGPL được coi là một loại hình dịch vụ công và chủ trương xã hội hóa hoạt động dịch vụ công là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Nhưng đến nay, trong các văn bản của Đảng và Nhà nước mới chỉ đề cập đến xã hội hóa dịch vụ công một cách chung nhất, mà chưa quy định cụ thể về xã hội hóa dịch vụ công. Vì vậy, để thực hiện xã hội hóa hoạt động TGPL, huy động tốt hơn sự tham gia của xã hội vào hoạt động TGPL, đáp ứng nhu cầu của người dân nói chung và người được TGPL nói riêng cần phải đề ra các giải pháp hữu hiệu nhằm đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động trợ giúp pháp lý.

1. Đặc trưng xã hội hóa hoạt động trợ giúp pháp lý

Xã hội hóa là quá trình huy động sự tham gia rộng rãi, tích cực, chủ động của các chủ thể vào hoạt động cung cấp dịch vụ công trên cơ sở phát huy sáng tạo và khả năng đóng góp của tổ chức. Xã hội hóa hoạt động TGPL là việc Nhà nước tạo môi trường pháp lý, cơ chế và giải pháp để khuyến khích, huy động các nguồn lực xã hội tham gia cùng Nhà nước thực hiện TGPL giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng, người dân tộc thiểu số và những người yếu thế trong xã hội.

Việc xã hội hóa hoạt động TGPL thể hiện cụ thể như sau:

Thứ nhất, xã hội hóa hoạt động TGPL tạo môi trường cạnh tranh trong việc cung cấp dịch vụ TGPL miễn phí giữa Trung tâm TGPL nhà nước, đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm với các tổ chức tham gia TGPL, người tham gia TGPL. Do vậy, người thuộc diện được TGPL có quyền lựa chọn người cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí khi có yêu cầu.

Thứ hai, xã hội hóa hoạt động TGPL tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện tham gia cùng Nhà nước thực hiện TGPL; sự quan tâm của các cá nhân, tổ chức đối với người nghèo, người có công với cách mạng và những người yếu thế trong xã hội, góp phần gìn giữ truyền thống của dân tộc, đồng thời việc tham gia TGPL của các cá nhân, tổ chức xã hội, tổ chức hành nghề luật sư cũng là thể hiện đạo đức nghề nghiệp của họ.

Thứ ba, xã hội hóa hoạt động TGPL nhằm giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước, bù đắp thiếu hụt về kinh phí để thực hiện và tổ chức thực hiện hoạt động TGPL trong điều kiện ngân sách nước ta còn hạn hẹp, đặc biệt là trong bối cảnh thực hiện cải cách hành chính, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Thứ tư, xã hội hóa hoạt động TGPL nhằm tạo thêm và đa dạng hóa nguồn lực thực hiện TGPL góp phần đáp ứng tốt nhất nhu cầu TGPL của người được TGPL, thu hẹp sự phân hóa giàu nghèo trong việc tiếp cận với pháp luật, tạo sự bình đẳng trước pháp luật của người dân.

2. Thực trạng xã hội hóa hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong thời gian qua, công tác TGPL đem lại những kết quả nhất định, đặc biệt việc xã hội hóa hoạt động TGPL góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người được TGPL khi họ có yêu cầu.

Một là, xã hội hóa tổ chức thực hiện TGPL

Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 đã luật hóa các quy định về xã hội hóa hoạt động TGPL. Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này cũng quy định khuyến khích, tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên; tổ chức hành nghề luật sư và luật sư; cơ quan, tổ chức, cá nhân khác tham gia thực hiện, đóng góp, hỗ trợ hoạt động TGPL. Tính đến 31/12/2016, toàn quốc có 63 Trung tâm TGPL Nhà nước ở 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, 184 Chi nhánh của Trung tâm đặt tại cấp huyện và liên huyện và 357 tổ chức hành nghề luật sư và Trung tâm tư vấn pháp luật đăng ký tham gia TGPL. Tuy nhiên, so với tổ chức hành nghề luật sư và Trung tâm tư vấn pháp luật trên toàn quốc thì số lượng tổ chức đăng ký tham gia TGPL chiếm tỷ lệ không cao. Hiệu quả hoạt động TGPL của các tổ chức tham gia TGPL cũng còn nhiều hạn chế. Một số tổ chức đăng ký tham gia nhưng chưa thực hiện được vụ việc TGPL nào.

Hai là, xã hội hóa người thực hiện TGPL

Bên cạnh các tổ chức tham gia thực hiện TGPL cùng với Trung tâm TGPL Nhà nước các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì việc huy động các cá nhân tham gia thực hiện TGPL cùng với đội ngũ người thực hiện TGPL của Nhà nước được quy định ngay từ những ngày đầu thành lập tổ chức TGPL cho người nghèo và đối tượng chính sách. Theo Quyết định số 734/TTg ngày 06/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản hướng dẫn thi hành, các Trung tâm TGPL của Nhà nước cần xây dựng đội ngũ cộng tác viên bảo đảm mỗi lĩnh vực pháp luật thuộc phạm vi trợ giúp có ít nhất 01 cộng tác viên đảm nhận. Chuyên viên pháp lý của các cơ quan và tổ chức, các luật sư, luật gia và cá nhân có đủ điều kiện theo quy định tại Quy chế cộng tác viên của tổ chức TGPL ban hành kèm theo Quyết định số 358/2003/QĐ-BTP ngày 15/8/2003 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp tham gia làm cộng tác viên của Cục Trợ giúp pháp lý (được Cục trưởng Cục Trợ giúp pháp lý cấp thẻ) và các Trung tâm TGPL Nhà nước ở địa phương (được Giám đốc Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp thẻ). Các cơ quan, tổ chức phải tạo điều kiện để cán bộ, viên chức, công chức, thành viên, hội viên và cá nhân khác làm việc tại cơ quan, tổ chức mình tham gia làm cộng tác viên TGPL. Đến ngày 31/12/2016, các Trung tâm trên toàn quốc có 605 Trợ giúp viên pháp lý và 6.920 cộng tác viên TGPL, trong đó có 1.021 luật sư, 241 tư vấn viên pháp luật, 5.658 cộng tác viên TGPL khác. Như vậy, có thể thấy, việc huy động luật sư tham gia làm cộng tác viên TGPL còn nhiều hạn chế, đội ngũ cộng tác viên TGPL là luật sư chiếm tỷ lệ rất thấp là 9,4% tổng số luật sư hành nghề trong toàn quốc. Phần lớn các vụ việc do cộng tác viên thực hiện là vụ việc tư vấn pháp luật.

Ba là, xã hội hóa kinh phí hoạt động TGPL

Bên cạnh việc xã hội hóa tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL, pháp luật về TGPL có có chủ trương xã hội hóa về kinh phí hoạt động TGPL thông qua việc huy động sự đóng góp, hỗ trợ về tài chính của các tổ chức, cá nhân. Đến nay, việc huy động nguồn lực này chưa đạt hiệu quả. Từ năm 2010 đến nay, các nguồn hỗ trợ của đối tác nước ngoài rất hạn chế, kinh phí cấp cho hoạt động TGPL hoàn toàn do ngân sách địa phương cấp và không ổn định trong các năm nên việc triển khai các hoạt động TGPL còn khó khăn. Để thuận lợi trong việc huy động các nguồn lực tài chính thực hiện TGPL, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 quy định về Quỹ TGPL nhằm huy động hiệu quả sự đóng góp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, hoạt động của Quỹ TGPL thời gian qua vẫn hoàn toàn từ nguồn ngân sách nhà nước mà chưa thu hút được nguồn tài chính đáng kể nào từ xã hội để giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Đến Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 không còn quy định về Quỹ TGPL nữa, mà việc xã hội hóa kinh phí hoạt động TGPL theo hướng hỗ trợ, khuyến khích, ghi nhận và tôn vinh các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, đóng góp cho hoạt động TGPL. Các tổ chức, cá nhân khi hỗ trợ kinh phí cho hoạt động TGPL sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành về tiếp nhận kinh phí hỗ trợ.

Có thể nói, thời gian qua, xã hội hóa hoạt động TGPL đã có nhiều kết quả đáng ghi nhận, song cũng bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập cụ thể như sau:

- Cơ chế chính sách pháp luật chưa thật sự tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia, đóng góp cho hoạt động TGPL: Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã quy định cơ chế hỗ trợ tài chính đối với tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật tham gia TGPL, nhưng do điều kiện ngân sách còn hạn hẹp, vì vậy, mức hỗ trợ chỉ có một phần rất nhỏ so với công sức của các tổ chức, cá nhân khi tham gia thực hiện TGPL. Cá nhân tham gia TGPL có quy định về chế độ bồi dưỡng vụ việc TGPL đối với luật sư, tư vấn viên pháp luật tham gia, song mức bồi dưỡng này còn rất hạn chế, đồng thời, thủ tục thanh toán chi phí thực hiện vụ việc TGPL chưa thực sự đơn giản, dẫn đến số lượng luật sư tham gia thực hiện TGPL không nhiều, chưa thường xuyên, tích cực, nhiều luật sư mới hành nghề, chưa có nhiều kinh nghiệm và năng lực tham gia tố tụng còn hạn chế.

- Về công tác truyền thông về TGPL còn hạn chế, chưa đa dạng về hình thức và nội dung: Công tác truyền thông, phổ biến pháp luật về TGPL nói chung và xã hội hóa hoạt động TGPL nói riêng ở một số nơi còn chưa thường xuyên, chưa đổi mới phương thức nên hiệu quả còn nhiều hạn chế, chưa thu hút được sự quan tâm của xã hội, người dân về công tác này.

- Về nguồn nhân lực thực hiện xã hội hóa hoạt động TGPL: Số lượng các tổ chức tự nguyện đăng ký tham gia TGPL còn ít so với tiềm năng hiện có. Nhiều tổ chức hành nghề luật sư, tư vấn pháp luật đăng ký tham gia nhưng chưa thực sự quan tâm đến việc thực hiện vụ việc TGPL. Đội ngũ cộng tác viên hiện gấp 11,4 lần so với đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý nhưng việc thực hiện TGPL còn hạn chế, chưa thực sự tích cực, tâm huyết giành nhiều thời gian tham gia hoạt động TGPL. Năng lực, kỹ năng TGPL của các tư vấn viên pháp luật chưa đồng đều.

- Về kinh phí và các điều kiện tài chính khác: Kinh phí bảo đảm cho công tác TGPL còn hạn chế. Tỷ lệ kinh phí dành cho TGPL chiếm tỷ lệ không cao, cá biệt có địa phương không có đủ nguồn kinh phí thực hiện TGPL.

3. Một số giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động trợ giúp pháp lý

Để thực hiện có hiệu quả xã hội hóa hoạt động TGPL nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc còn tồn tại, trong thời gian tới, cần có sự nghiên cứu để đề ra những giải pháp thúc đẩy xã hội hóa hoạt động TGPL nhằm đáp ứng nhu cầu TGPL ngày một tăng của nhân dân bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

3.1. Về giải pháp trước mắt

- Tăng cường truyền thông về Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 cũng như vị trí, vai trò, ý nghĩa của công tác này đến với các cơ quan, tổ chức, cá nhân nói chung các văn phòng luật sư, công ty luật, tổ chức tư vấn pháp luật và các luật sư trong toàn quốc. Nâng cao nhận thức cho toàn xã hội về TGPL góp phần bảo vệ công lý, công bằng xã hội phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ văn minh.

- Về thể chế, cần xây dựng Đề án xã hội hóa hoạt động TGPL; xây dựng Nghị định của Chính phủ quy định về cơ chế vinh danh, ưu tiên là khách hàng của Nhà nước đối với các vụ tranh chấp mà Nhà nước là một bên cho các tổ chức hành nghề luật sư thực hiện nhiều vụ việc TGPL, đồng thời, có chính sách ưu đãi về thuế, về việc giao đất hoặc thuê đất, thuê trụ sở, hỗ trợ quảng cáo đối với các tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật thực hiện một số lượng vụ việc TGPL nhất định trong năm. Đặc biệt, cần có chính sách đãi ngộ phù hợp đối với các tổ chức tham gia TGPL tại vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

- Củng cố, kiện toàn tổ chức, tăng cường năng lực thực hiện TGPL của các tổ chức thực hiện TGPL theo Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017. Đối với Trung tâm TGPL Nhà nước, cần có phương án kiện toàn, tăng cường năng lực bảo đảm phù hợp với điều kiện từng vùng miền và nhu cầu TGPL ở địa phương cũng như các nguồn lực xã hội khác. Xây dựng cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập không có thu.

- Xây dựng cơ chế chi trả thù lao hợp lý cho các tổ chức hành nghề luật sư, trung tâm tư vấn pháp luật tham gia TGPL thông qua việc ký hợp đồng thực hiện TGPL với Sở Tư pháp hoặc đăng ký tham gia TGPL với Sở Tư pháp nơi đã cấp giấy đăng ký hoạt động.

- Về người thực hiện TGPL, rà soát đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý hiện có, trên cơ sở điều kiện thực tế, nhu cầu TGPL của từng địa phương để xác định số lượng cần thiết bảo đảm phù hợp với từng vùng miền. Bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ và kỹ năng cho họ với những hình thức phù hợp, đặc biệt là kỹ năng tranh tụng. Nâng cao chất lượng tham gia tố tụng của các Trợ giúp viên pháp lý thông qua việc tiếp tục giao chỉ tiêu tham gia tố tụng hàng năm. Nâng cao chế độ đãi ngộ người tham gia thực hiện TGPL để khuyến khích, động viên thu hút lực lượng xã hội tham gia vào hoạt động TGPL. Đơn giản hóa các thủ tục thanh toán chi phí thực hiện vụ việc TGPL và thù lao tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia TGPL.

- Xây dựng cơ chế hỗ trợ cơ sở vật chất; tăng mức thù lao và chi phí thực hiện vụ việc TGPL; thu hút tài trợ cho các hoạt động TGPL, bảo đảm kinh phí cho công tác TGPL, cơ cấu hợp lý các khoản chi.

- Tăng cường hợp tác quốc tế về TGPL, tập trung hỗ trợ kỹ thuật từ các nước có hệ thống TGPL phát triển giúp tăng cường chia sẻ thông tin, kinh nghiệm về cách thức triển khai hoạt động TGPL có hiệu quả.

3.2. Về giải pháp lâu dài

- Tiếp tục nâng cao nhận thức cho toàn xã hội về TGPL là trách nhiệm của xã hội đối với hoạt động này và đẩy mạnh hoạt động truyền thông về TGPL.

- Xây dựng cơ chế chuyển đổi các Trợ giúp viên pháp lý đã tham gia tố tụng đạt chỉ tiêu vụ việc được giao hàng năm và bảo đảm chất lượng thành luật sư công thay thế cho chức danh Trợ giúp viên pháp lý hiện nay nếu có nguyện vọng. Theo hướng này, tại Trung tâm TGPL Nhà nước có luật sư công là người thực hiện TGPL. Như vậy, người thực hiện TGPL có thể là luật sư công thực hiện TGPL và luật sư hành nghề cung cấp dịch vụ TGPL (ký hợp đồng vụ việc với Nhà nước). Luật sư công sẽ được Nhà nước ưu tiên ký hợp đồng thường xuyên để thực hiện TGPL. Việc chuyển đổi mô hình người thực hiện TGPL ở giai đoạn sau năm 2025 là phù hợp với xu thế chung của các nước trong khu vực và trên thế giới và bảo đảm lộ trình phát triển dịch vụ TGPL miễn phí ở nước ta. Khi chuyển đổi Trợ giúp viên pháp lý thành luật sư góp phần nâng cao vị thế của Trợ giúp viên pháp lý, bởi vì khi đó họ trở thành luật sư công - một chức danh nghề nghiệp tư pháp quan trọng, không thể thiếu trong nền tư pháp dân chủ. Luật sư công thực hiện TGPL bảo đảm tính độc lập, khách quan khi tham gia tố tụng để bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL, nhất là đối với các vụ việc tham gia tố tụng trong lĩnh vực hành chính.

- Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động TGPL là huy động luật sư hành nghề cung cấp dịch vụ TGPL tham gia thực hiện TGPL. Do đó, trong giai đoạn này đòi hỏi đội ngũ luật sư có trình độ chuyên môn sâu. Đồng thời, cần có chế độ đãi ngộ xứng đáng, cơ chế vinh danh, khen thưởng đối với những người thực hiện TGPL.

- Ngân sách nhà nước đầu tư cho hoạt động TGPL bảo đảm có dòng ngân sách riêng. Nhà nước tập trung quản lý, điều phối nguồn nhân lực và tài chính, bảo đảm cho hoạt động TGPL của Nhà nước hiệu quả, bền vững.

Lê Thị Thu Hà

Cục Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: