Thứ hai 24/08/2026 10:09
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự về bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam

Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hình sự về bảo vệ người tiêu dùng; một số hạn chế của pháp luật hình sự về bảo vệ người tiêu dùng; từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự về bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam.

Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là trách nhiệm chung của Nhà nước và toàn xã hội. Trong những năm qua, Nhà nước Việt Nam sử dụng nhiều phương thức khác nhau để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, trong đó có phương thức bảo vệ người tiêu dùng bằng pháp luật hình sự. Ngay trong Bộ luật Hình sự năm 1985 và Bộ luật Hình sự năm 1999 đã có những quy định về tội phạm và hình phạt đối với những hành vi xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, hai Bộ luật Hình sự này đã bộc lộ những hạn chế nhất định, bao gồm những hạn chế trong các quy định về tội phạm và hình phạt đối với những hành vi xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng.


1. Pháp luật hình sự về bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam

Nhà nước Việt Nam sử dụng nhiều phương thức khác nhau để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, trong đó có phương thức bảo vệ người tiêu dùng bằng pháp luật hình sự. Ngay trong Bộ luật Hình sự năm 1985 và Bộ luật Hình sự năm 1999 đã có những quy định về tội phạm và hình phạt đối với những hành vi xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, hai bộ luật hình sự này đã bộc lộ những hạn chế nhất định, bao gồm những hạn chế trong các quy định về tội phạm và hình phạt đối với những hành vi xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng.

Bộ luật Hình sự năm 2015 được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 27/11/2015 (được sửa đổi, bổ sung vào năm 2017), đã kế thừa những quy định của Bộ luật Hình sự năm 1985 và Bộ luật Hình sự năm 1999, đồng thời đã có những sửa đổi, bổ sung về tội phạm và hình phạt đối với những hành vi xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng để phù hợp với việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giai đoạn mới, khi tiến trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam ngày càng sâu rộng.

Trong Bộ luật Hình sự năm 2015, có 09 tội thuộc nhóm tội xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 192), Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Điều 193), Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 194), Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi (Điều 195), Tội đầu cơ (Điều 196), Tội lừa dối khách hàng (Điều 198), Tội vi phạm quy định về cung ứng điện (Điều 199), Tội vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế, cấp phát, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác (Điều 315), Tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm (Điều 317).

Các tội xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng được quy định trong hai chương của Bộ luật Hình sự năm 2015: Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (Chương XVIII) và Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng (Chương XXI). Mặc dù được quy định trong hai chương khác nhau của Bộ luật Hình sự năm 2015, nhưng dưới góc độ khoa học pháp lý, các tội này cùng có chung khách thể loại là quyền lợi của người tiêu dùng[1].

Tuy nhiên, không phải mọi hành vi xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng đều được coi là tội phạm. Pháp luật hình sự Việt Nam chỉ coi những hành vi xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng là tội phạm khi những hành vi đó có tính chất nguy hiểm cho xã hội, gây hậu quả nghiêm trọng cho tính mạng, sức khỏe và lợi ích kinh tế của người tiêu dùng. Phần lớn các hành vi xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng được Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định là tội phạm khi các hành vi đó gây hậu quả nghiêm trọng, hàng hóa có số lượng lớn hoặc người thực hiện hành vi đã bị xử lý hành chính trừ các quy định tại Điều 193 và Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 2015. Theo quy định tại Điều 193 và Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 2015, các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh bị coi là tội phạm cho dù chưa gây hậu quả nghiêm trọng, số lượng hàng hóa không lớn hoặc người thực hiện hành vi chưa bị xử lý hành chính.

Chủ thể của các tội xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng là cá nhân hoặc pháp nhân thương mại. Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, pháp nhân thương mại là chủ thể của các tội sau đây: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả, Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm, Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh, Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi, Tội đầu cơ.

Việc quy định pháp nhân thương mại là chủ thể của một số tội phạm nêu trên là một tiến bộ vượt bậc trong lịch sử lập pháp ở Việt Nam. Lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp Việt Nam, Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với một số tội phạm, trong đó có các tội xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng. Ngoài hình phạt tiền là hình phạt phổ biến đối với pháp nhân thương mại phạm tội, Bộ luật Hình sự năm 2015 còn quy định pháp nhân thương mại phạm tội còn có thể bị áp dụng các hình phạt khác nhau như: Bị đình chỉ hoạt động, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn. Việc quy định áp dụng những hình phạt nghiêm khắc nêu trên đối với pháp nhân thương mại phạm tội đã góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống các tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện, bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người tiêu dùng.

2. Một số hạn chế của pháp luật hình sự về bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam

Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định một cách tương đối toàn diện và cụ thể về các tội xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng, tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế sau:

Thứ nhất, các tội xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng không được quy định tập trung trong một chương của Bộ luật Hình sự

Trong khoa học pháp lý, đã có nhiều công trình nghiên cứu các tội xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng, nhưng trong Bộ luật Hình sự năm 2015 thì các tội này không được định danh rõ ràng là các tội xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng và không được quy định tập trung trong một chương mà nằm phân tán ở hai chương khác nhau của Bộ luật Hình sự là: Chương XVIII: Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và Chương XXI: Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Chính vì vậy, trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm ở Việt Nam, các tội này mới chỉ được xem xét dưới góc độ là các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, chứ không phải dưới góc độ là các tội xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng. Chính hạn chế này đã làm ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng bằng pháp luật hình sự ở Việt Nam.

Thứ hai, hình phạt đối với một số tội xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng chưa nghiêm khắc, chưa tương xứng với hậu quả mà tội phạm gây ra

Ngoài Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Điều 193) có mức hình phạt cao nhất là tù chung thân và Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 194) có mức hình phạt cao nhất là tử hình, còn các tội khác có mức hình phạt chưa nghiêm khắc. Ví dụ, theo quy định tại khoản 3 Điều 199 Bộ luật Hình sự năm 2015, người phạm tội vi phạm quy định về cung ứng điện làm chết 02 người trở lên mà chỉ bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm là chưa tương xứng với hậu quả mà tội phạm gây ra.

Phần lớn các tội xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng đều có động cơ vụ lợi, mục đích thu lợi nhuận nhưng hình thức phạt tiền là không bắt buộc với người phạm tội và mức xử phạt tiền nếu được áp dụng còn quá thấp, chưa đánh mạnh vào lợi ích kinh tế của người phạm tội. Theo quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 195 Bộ luật Hình sự năm 2015, người phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi mà gây thiệt hại về tài sản 3.000.000.000 đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính 2.000.000.000 đồng trở lên có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng là quá ít, không tương xứng với lợi nhuận mà người phạm tội thu được và thiệt hại về tài sản mà người phạm tội gây ra.

Thứ ba, chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa các tội sản xuất, buôn bán hàng giả về hình thức và các tội sản xuất, buôn bán hàng kém chất lượng (hàng giả về chất lượng)

Hiện nay, Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (đã được sửa đổi bởi Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015 của Chính phủ) được dùng làm căn cứ giải thích khái niệm hàng giả. Theo quy định của khoản 8 Điều 3 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP (đã được sửa đổi) có 2 nhóm hàng được coi là hàng giả bao gồm:

(i) Hàng kém chất lượng (hàng giả về chất lượng): Hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa, không đúng với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký; Hàng hóa có ít nhất một trong các chỉ tiêu chất lượng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản tạo nên giá trị sử dụng, công dụng của hàng hóa chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng hoặc quy chuẩn kỹ thuật; Thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người, vật nuôi không có dược chất; có dược chất nhưng không đúng với hàm lượng đã đăng ký; không đủ loại dược chất đã đăng ký; có dược chất khác với dược chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; Thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất; hàm lượng hoạt chất chỉ đạt từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật; không đủ loại hoạt chất đã đăng ký; có hoạt chất khác với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;

(ii) Hàng giả về hình thức: Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả mạo tên thương nhân, địa chỉ của thương nhân khác; giả mạo tên thương mại hoặc tên thương phẩm hàng hóa; giả mạo mã số đăng ký lưu hành, mã vạch hoặc giả mạo bao bì hàng hóa của thương nhân khác; hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo về nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa; Hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ; tem, nhãn, bao bì giả[2].

Tuy nhiên, Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa hàng giả về hình thức và hàng kém chất lượng, từ đó dẫn đến sự đồng nhất giữa hành vi phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả về hình thức với hành vi phạm tội sản xuất, buôn bán hàng kém chất lượng. Chính vì vậy, trong thực tiễn áp dụng pháp luật, không có sự phân biệt rõ ràng trách nhiệm hình sự giữa người sản xuất, buôn bán hàng giả về hình thức với người phạm tội sản xuất, buôn bán hàng kém chất lượng.

3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự về bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam

Từ những hạn chế của pháp luật hình sự về bảo vệ người tiêu dùng nêu trên, tác giả đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự về bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam như sau:

Thứ nhất, dành một chương riêng trong Bộ luật Hình sự quy định các tội xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng

Hiện nay, các tội xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng ngày càng có chiều hướng gia tăng về quy mô và số lượng, đa dạng về hình thức, do đó, việc định danh các tội xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng và quy định nhóm các tội phạm này trong cùng một chương của Bộ luật Hình sự là cần thiết, tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bằng pháp luật hình sự.

Việc quy định các tội xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng trong cùng một chương là hoàn toàn có tính khoa học, bởi vì, nhóm tội phạm này cùng có chung khách thể loại là quyền lợi của người tiêu dùng và “khách thể loại là cơ sở để hệ thống hóa các quy phạm trong Phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự thành từng chương”[3].

Hiện nay, ở nhiều nước trên thế giới, các tội xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng và các chế tài hình sự được hệ thống hóa trong luật bảo vệ người tiêu dùng, hoặc bộ luật hình sự thành một nhóm tội phạm riêng. Ở Singapore, các tội xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng và các chế tài hình sự đối với các tội phạm đó được quy định tại Phần V của Luật Bảo vệ người tiêu dùng Singapore; ở Trung Quốc, các hành vi xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng và chế tài hình sự đối với các hành vi xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng được quy định trong Chương VII của Luật Bảo vệ người tiêu dùng[4].

Ngoài ra, ở Trung Quốc, các tội sản xuất, buôn bán hàng giả và hàng kém chất lượng được quy định trong một mục riêng (Mục 1) Chương III Phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự Trung Quốc năm 1997[5].

Thứ hai, cần tăng hình phạt đối với một số tội xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng

Cần tăng hình phạt đối với một số tội xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng, trong đó có Tội vi phạm quy định về cung ứng điện theo quy định tại khoản 3 Điều 199 Bộ luật Hình sự năm 2015. Ngoài hình phạt tù là hình phạt chính, cần quy định hình thức phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các tội xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng mà người phạm tội có động cơ vụ lợi và thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội. Mức phạt tiền cần tương xứng với lợi nhuận mà người phạm tội thu được và thiệt hại về tài sản mà người phạm tội gây ra. Có như vậy mới đánh mạnh vào lợi ích kinh tế của người phạm tội, đạt được mục đích trừng trị riêng và phòng ngừa chung.

Thứ ba, cần có sự phân biệt rõ ràng giữa các tội sản xuất, buôn bán hàng giả về hình thức và các tội sản xuất, buôn bán hàng kém chất lượng (hàng giả về chất lượng)

Để bảo vệ người tiêu dùng bằng pháp luật hình sự một cách có hiệu quả, thì phải có sự phân biệt rõ ràng giữa các tội sản xuất, buôn bán hàng giả về hình thức và các tội sản xuất, buôn bán hàng kém chất lượng. Trong thực tế, hàng giả về hình thức không phải lúc nào cũng là hàng kém chất lượng, mà ngược lại, có những hàng giả về hình thức nhưng có chất lượng tốt hơn hàng thật và do đó không xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng. Do đó, có quan điểm cho rằng, “nhiều khi vấn đề hàng giả là câu chuyện của hành vi cạnh tranh không lành mạnh, xâm phạm sở hữu trí tuệ liên quan đến việc xâm hại trật tự quản lý kinh tế, trật tự công cộng và quyền lợi của nhà sản xuất chứ không phải là quyền lợi người tiêu dùng. Chúng tôi cho rằng, không thể gộp hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả về hình thức với hành vi sản xuất, buôn hàng kém chất lượng, độc hại gây nguy hiểm cho tính mạng, sức khỏe, quyền lợi kinh tế của người tiêu dùng”[6].

Luật Hình sự ở một số quốc gia đã quy định rất cụ thể các hành vi sản xuất, buôn bán hàng kém chất lượng. Bộ luật Hình sự Trung Quốc dành toàn bộ Mục 1 Chương III Phần các tội phạm với 11 điều luật quy định tội phạm và hình phạt đối với các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả và hàng kém chất lượng. Phần lớn các tội phạm được quy định trong Mục này đều quy định tội sản xuất, buôn bán hàng kém chất lượng (hàng độc hại, hàng không đạt tiêu chuẩn) như: Tội sản xuất hoặc bán các loại thuốc có chất lượng kém gây hại nghiêm trọng cho sức khoẻ con người (Điều 142), Tội sản xuất hoặc bán thực phẩm không đạt tiêu chuẩn vệ sinh gây hại nghiêm trọng cho sức khoẻ con người (Điều 143), Tội pha chế thực phẩm với các nguyên liệu phi thực phẩm độc hại (Điều 144), Tội sản xuất hoặc bán dụng cụ y tế, dụng cụ hoặc vật liệu vệ sinh y tế không đạt tiêu chuẩn gây tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe con người (Điều 145), Tội sản xuất hoặc bán mỹ phẩm không đạt tiêu chuẩn vệ sinh gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 148)[7]…

Từ những phân tích nêu trên, tác giả nhận thấy, cần tách hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả về hình thức với hành vi sản xuất, buôn hàng kém chất lượng thành các tội phạm khác nhau, theo đó, chế tài đối với hành vi sản xuất, buôn hàng kém chất lượng cần nghiêm khắc hơn mới đủ sức răn đe đối với người phạm tội. Cần cơ cấu lại các điều 192, 193, 194, 195 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thành 05 điều quy định cho các tội sau đây: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả gây hậu quả nghiêm trọng; Tội sản xuất, buôn bán hàng độc hại gây nguy hiểm cho tính mạng, sức khỏe người tiêu dùng; Tội sản xuất, buôn bán hàng kém chất lượng là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm; Tội sản xuất, buôn bán hàng kém chất lượng là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; Tội sản xuất, buôn bán hàng kém chất lượng là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi.

Ngoài ra, cần bổ sung thêm một số điều luật trong Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định các tội sau đây: Tội sản xuất, buôn bán hàng kém chất lượng là dụng cụ y tế, dụng cụ hoặc vật liệu vệ sinh y tế, Tội sản xuất, buôn bán mỹ phẩm không đạt tiêu chuẩn vệ sinh gây hậu quả nghiêm trọng…

ThS. Trần Việt Dũng

Trường Đại học Luật, Đại học Huế





[1]. Khách thể loại của tội phạm là nhóm quan hệ xã hội cùng tính chất được nhóm các quy phạm pháp luật hình sự bảo vệ khỏi sự xâm hại của nhóm tội phạm. Xem: GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Tập 1, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội - 2011, tr. 91.

[2]. Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (đã được sửa đổi bởi Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015 của Chính phủ).

[3]. Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Tập 1, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội - 2011, tr. 91.

[4]. Cục Quản lý cạnh tranh - Bộ Công Thương, So sánh Luật Bảo vệ người tiêu dùng một số nước trên thế giới - Bài học kinh nghiệm và đề xuất một số nội dung cơ bản quy định trong dự thảo Luật bảo vệ người tiêu dùng của Việt Nam, http://cuts-hrc.org/images/stories/doc/full%20report_so%20sanh%20mot%20so%20luat%20bv% 20ntd%20tren%20the%20gioi%20%20de%20xuat%20cho%20vn.pdf, truy cập ngày: 15/7/2020.

[5]. Quốc hội nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1997. (National People’s Conngress of the People’s Republic of China, Criminal Law of the People’s Republic of China 1997). https://www.oecd.org/site/adboecdanti-corruptioninitiative/46814270.pdf. Truy cập ngày 15/7/2020.

[6]. Đinh Thế Hưng, Bảo vệ người tiêu dùng bằng pháp luật hình sự, Tạp chí Kiểm sát, số 9/2010, tr. 29.

[7]. Quốc hội nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (1997), Bộ luật hình sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. (National People’s Conngress of the People’s Republic of China (1997), Criminal Law of the People’s Republic of China). https://www.oecd.org/site/adboecdanti-corruptioninitiative/46814270.pdf, truy cập ngày 15/7/2020.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: