Thứ năm 22/01/2026 18:08
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số kết quả đạt được trong công tác hòa giải ở cơ sở ở huyện Vĩnh Lợi - tỉnh Bạc Liêu

Trong phạm vi bài viết này, tác giả nêu lên một số kết quả đạt được, đánh giá về những ưu điểm, hạn chế và rút ra bài học kinh nghiệm trong công tác triển khai thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở trên địa bàn huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.


Ngay khi Luật Hòa giải ở cơ sở được Quốc Hội thông qua ngày 20/6/2013, Ủy ban nhân dân huyện đã chỉ đạo Phòng Tư pháp tham mưu triển khai và tổ chức thực hiện; kết quả xây dựng kế hoạch triển khai và tổ chức thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở được đưa vào chương trình công tác tư pháp trọng tâm hàng năm và kế hoạch tổ chức thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở và thực hiện quy ước hàng năm. Qua triển khai và hướng dẫn thực hiện, Phòng Tư pháp, Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn và các ban, ngành có liên quan đã thực hiện nghiêm túc, đúng theo quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Việc hướng dẫn kiểm tra công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn huyện được thực hiện thông qua việc ban hành công văn hướng dẫn nghiệp vụ. Trong năm 2018, Phòng Tư pháp đã tiến hành kiểm tra công tác hòa giải ở cơ sở tại các tổ hòa giải trên cơ sở thực hiện Kế hoạch số 375/KH-PTP ngày 06/7/2018 của Trưởng Phòng Tư pháp về việc kiểm tra thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở trên địa bàn huyện năm 2018. Kết quả đã tiến hành kiểm tra các tổ hòa giải ở 08 xã, thị trấn là xã Hưng Thành, xã Hưng Hội, xã Vĩnh Hưng, xã Vĩnh Hưng A, xã Châu Thới, xã Long Thạnh, xã Châu Hưng A, thị trấn Châu Hưng. Thông qua công tác kiểm tra, việc củng cố, kiện toàn tổ chức của các tổ hòa giải được bảo đảm về cơ cấu, thành phần, đúng thủ tục theo quy định của pháp luật, hiệu quả hoạt động của các tổ hòa giải ở các ấp được phát huy, công tác phổ biến, quán triệt, hướng dẫn, phát hành tài liệu, tập huấn nghiệp vụ được triển khai kịp thời, số vụ việc hòa giải thành tăng cao (đạt trên 80%), công tác phối hợp giữa các thành viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được gắn kết, mọi vụ việc được giải quyết đáp ứng nhu cầu đặt ra, góp phần tích cực trong việc giữ gìn tình làng, nghĩa xóm, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội, hạn chế xảy ra mâu thuẫn, xích mích kéo dài dẫn đến vi phạm pháp luật.

Về công tác phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, ban, ngành trong công tác hòa giải ở cơ sở: Thực hiện Chương trình phối hợp số 02/CTPH-STP-MTTQ ngày 27/3/2013 giữa Sở Tư pháp và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Bạc Liêu về củng cố, kiện toàn đội ngũ hòa giải viên và tăng cường thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở (giai đoạn 2013 - 2016), Phòng Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện tổ chức triển khai thực hiện Chương trình phối hợp này về tổ chức của tổ hòa giải và tăng cường các hoạt động hòa giải ở cơ sở; hướng dẫn Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn củng cố, kiện toàn tổ hòa giải, hòa giải viên theo Luật Hòa giải ở cơ sở. Bên cạnh đó, Phòng Tư pháp còn chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đoàn thể huyện và Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn tổ chức có hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến Luật Hòa giải ở cơ sở, Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở và một số các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan như Hiến pháp năm 2013, Luật Đất đai năm 2013, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015… đặc biệt là tổ chức thành công Hội thi hòa giải viên giỏi năm 2016. Công tác tổ chức phối hợp và phát huy vai trò nòng cốt của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên được Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn quan tâm chỉ đạo và triển khai thực hiện hiệu quả, từ khâu tuyên truyền, phổ biến, củng cố, kiện toàn các tổ hòa giải, đến công tác tổ chức tiến hành hòa giải, góp phần nâng cao vai trò, trách nhiệm của các thành viên trong thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao. Huyện cũng đã kết hợp với Sở Tư pháp tổ chức các hội nghị tập huấn kỹ năng, nghiệp vụ, kiến thức pháp luật cho đại biểu là hòa giải viên thuộc tổ hòa giải ở các ấp và công chức tư pháp - hộ tịch các xã, thị trấn trên địa bàn huyện. Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc xã, công chức tư pháp - hộ tịch thường xuyên cung cấp các văn bản pháp luật, các thông tin pháp luật cho tổ hòa giải ở cơ sở. Bên cạnh đó, còn phối hợp với Sở Tư pháp cấp phát tài liệu nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở, sổ tay pháp luật về công tác hòa giải ở cơ sở cho các tổ hòa giải trên địa bàn huyện, nhằm giúp cho đội ngũ hòa giải viên nắm vững kỹ năng, nghiệp vụ, quy trình các bước hòa giải trong quá trình thực hiện hòa giải ở cơ sở tại địa phương.

Về kết quả hoạt động hòa giải ở cơ sở: Việc nhận đơn và tiến hành hòa giải được thực hiện theo đúng quy định; các mẫu biểu hòa giải, nội dung biên bản thể hiện tương đối đầy đủ, đáp ứng yêu cầu thực tế phát sinh; hòa giải thành chiếm tỷ lệ cao góp phần hạn chế tình hình khiếu nại, khiếu kiện trong nhân nhân, tình làng nghĩa xóm được gắn kết, tình hình an ninh, trật tự ở địa phương được ổn định. Đối với một số vụ việc có tính chất phức tạp, Phòng Tư pháp cũng đã tham gia hòa giải hỗ trợ cho các tổ hòa giải. Về cấp Sổ theo dõi hoạt động hòa giải ở cơ sở, Phòng Tư pháp phối hợp với Sở Tư pháp cấp Sổ cho tất cả các tổ hòa giải trên địa bàn, đồng thời hướng dẫn việc sử dụng và quản lý Sổ cho công chức tư pháp - hộ tịch, đến nay, các tổ hòa giải đều sử dụng Sổ theo đúng hướng dẫn sử dụng, ghi chép đúng quy định.

Về thực hiện việc công nhận hòa giải thành theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Thủ tục công nhận kết quả hòa giải ngoài Tòa án lần đầu tiên được ghi nhận trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, là điểm mới quan trọng, có ý nghĩa trong việc khuyến khích hòa giải, hạn chế tranh chấp yêu cầu Tòa án giải quyết, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Đây là thủ tục rất quan trọng và cần thiết, phù hợp với yêu cầu thực tiễn hiện nay và thông lệ quốc tế, nhằm khắc phục tình trạng sau khi các bên đã hòa giải theo quy định pháp luật nhưng không có cơ quan nào tổ chức thi hành kết quả hòa giải đó. Điều 416 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Kết quả vụ việc ngoài Tòa án được Tòa án xem xét ra quyết định công nhận là kết quả hòa giải thành vụ việc xảy ra giữa cơ quan, tổ chức, cá nhân do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền có nhiệm vụ hòa giải đã hòa giải thành theo quy định của pháp luật về hòa giải”. Qua đó, nếu muốn được Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành thì người yêu cầu làm đơn yêu cầu gửi Tòa án có thẩm quyền xem xét công nhận. Với quy định này, công tác chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án được triển khai thực hiện hiệu quả. Nhằm góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật về hòa giải theo quy định trong quá trình giải quyết vụ việc, huyện cũng đã phối hợp với Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu cấp phát tài liệu (tờ bướm) tìm hiểu một số quy định về công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án cho các tổ hòa giải ở cơ sở trên địa bàn huyện. Tuy nhiên, thời gian qua, trên địa bàn huyện chưa phát sinh thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án.

Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn huyện vẫn còn tồn tại một số hạn chế như: (i) Sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc ở một số nơi chưa thực sự thường xuyên; (ii) Sự phối hợp giữa các các thành viên của Mặt trận Tổ quốc trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ hòa giải có lúc chưa thực sự chặt chẽ; (iii) Công tác tuyên truyền, phổ biến về hòa giải ở cơ sở nhìn chung chưa được thực hiện thường xuyên; (iv) Năng lực, kỹ năng, nghiệp vụ của một bộ phận hòa giải viên chưa sâu, ứng dụng vào thực tiễn còn hạn chế và đây là khó khăn lớn nhất hiện nay đối với việc nâng cao chất lượng công tác hòa giải ở cơ sở; bên cạnh đó, đội ngũ hòa giải viên thường xuyên biến động đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động của công tác này; (v) Vẫn còn một bộ phận người dân chưa nhận thức được ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng của công tác hòa giải ở cơ sở; (vi) Kinh phí hoạt động vẫn còn thấp, chế độ đãi ngộ còn chậm, chưa kịp thời động viên, khích lệ hòa giải viên, chưa huy động được nguồn lực xã hội tham gia.

Thông qua việc đánh giá về những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân về thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở tại địa phương, có thể rút ra bài học kinh nghiệm:

- Hoạt động hòa giải được thực hiện trên cơ sở tôn trọng sự tự nguyện của các bên, không bắt buộc áp đặt, do đó, để các hoạt động này ngày càng đạt hiệu quả cao, Ủy ban nhân dân các cấp cần thực hiện nhiều hình thức vận động nhân dân tham gia vào các hoạt động hòa giải, có như vậy, các loại tranh chấp mới được giải quyết từ khi mới hình thành, nhằm góp phần giữ gìn tình đoàn kết trong nội bộ nhân dân, phòng ngừa và hạn chế các vi phạm pháp luật, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn, đồng thời giảm bớt áp lực khiếu kiện lên chính quyền địa phương.

- Thực tiễn cho thấy, hoạt động hòa giải ở cơ sở hiện nay vẫn đang còn nhiều khó khăn, ngoài tinh thần trách nhiệm, lòng nhiệt tình còn phải có trình độ về chuyên môn và uy tín… Tuy nhiên, nơi nào cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc quan tâm, biết phát huy sức mạnh của quần chúng, biết lắng nghe, tham khảo, học hỏi thì nơi đó hoạt động hòa giải ở cơ sở phát huy hiệu quả.

Hà Phương



Tài liệu tham khảo:

Báo cáo Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở và xây dựng xã, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Lợi tỉnh Bạc Liêu, năm 2019.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: