Chủ nhật 25/10/2026 08:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số kết quả đạt được trong công tác hòa giải ở cơ sở ở huyện Vĩnh Lợi - tỉnh Bạc Liêu

Trong phạm vi bài viết này, tác giả nêu lên một số kết quả đạt được, đánh giá về những ưu điểm, hạn chế và rút ra bài học kinh nghiệm trong công tác triển khai thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở trên địa bàn huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.


Ngay khi Luật Hòa giải ở cơ sở được Quốc Hội thông qua ngày 20/6/2013, Ủy ban nhân dân huyện đã chỉ đạo Phòng Tư pháp tham mưu triển khai và tổ chức thực hiện; kết quả xây dựng kế hoạch triển khai và tổ chức thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở được đưa vào chương trình công tác tư pháp trọng tâm hàng năm và kế hoạch tổ chức thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở và thực hiện quy ước hàng năm. Qua triển khai và hướng dẫn thực hiện, Phòng Tư pháp, Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn và các ban, ngành có liên quan đã thực hiện nghiêm túc, đúng theo quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Việc hướng dẫn kiểm tra công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn huyện được thực hiện thông qua việc ban hành công văn hướng dẫn nghiệp vụ. Trong năm 2018, Phòng Tư pháp đã tiến hành kiểm tra công tác hòa giải ở cơ sở tại các tổ hòa giải trên cơ sở thực hiện Kế hoạch số 375/KH-PTP ngày 06/7/2018 của Trưởng Phòng Tư pháp về việc kiểm tra thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở trên địa bàn huyện năm 2018. Kết quả đã tiến hành kiểm tra các tổ hòa giải ở 08 xã, thị trấn là xã Hưng Thành, xã Hưng Hội, xã Vĩnh Hưng, xã Vĩnh Hưng A, xã Châu Thới, xã Long Thạnh, xã Châu Hưng A, thị trấn Châu Hưng. Thông qua công tác kiểm tra, việc củng cố, kiện toàn tổ chức của các tổ hòa giải được bảo đảm về cơ cấu, thành phần, đúng thủ tục theo quy định của pháp luật, hiệu quả hoạt động của các tổ hòa giải ở các ấp được phát huy, công tác phổ biến, quán triệt, hướng dẫn, phát hành tài liệu, tập huấn nghiệp vụ được triển khai kịp thời, số vụ việc hòa giải thành tăng cao (đạt trên 80%), công tác phối hợp giữa các thành viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được gắn kết, mọi vụ việc được giải quyết đáp ứng nhu cầu đặt ra, góp phần tích cực trong việc giữ gìn tình làng, nghĩa xóm, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội, hạn chế xảy ra mâu thuẫn, xích mích kéo dài dẫn đến vi phạm pháp luật.

Về công tác phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, ban, ngành trong công tác hòa giải ở cơ sở: Thực hiện Chương trình phối hợp số 02/CTPH-STP-MTTQ ngày 27/3/2013 giữa Sở Tư pháp và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Bạc Liêu về củng cố, kiện toàn đội ngũ hòa giải viên và tăng cường thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở (giai đoạn 2013 - 2016), Phòng Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện tổ chức triển khai thực hiện Chương trình phối hợp này về tổ chức của tổ hòa giải và tăng cường các hoạt động hòa giải ở cơ sở; hướng dẫn Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn củng cố, kiện toàn tổ hòa giải, hòa giải viên theo Luật Hòa giải ở cơ sở. Bên cạnh đó, Phòng Tư pháp còn chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đoàn thể huyện và Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn tổ chức có hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến Luật Hòa giải ở cơ sở, Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở và một số các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan như Hiến pháp năm 2013, Luật Đất đai năm 2013, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015… đặc biệt là tổ chức thành công Hội thi hòa giải viên giỏi năm 2016. Công tác tổ chức phối hợp và phát huy vai trò nòng cốt của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên được Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn quan tâm chỉ đạo và triển khai thực hiện hiệu quả, từ khâu tuyên truyền, phổ biến, củng cố, kiện toàn các tổ hòa giải, đến công tác tổ chức tiến hành hòa giải, góp phần nâng cao vai trò, trách nhiệm của các thành viên trong thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao. Huyện cũng đã kết hợp với Sở Tư pháp tổ chức các hội nghị tập huấn kỹ năng, nghiệp vụ, kiến thức pháp luật cho đại biểu là hòa giải viên thuộc tổ hòa giải ở các ấp và công chức tư pháp - hộ tịch các xã, thị trấn trên địa bàn huyện. Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc xã, công chức tư pháp - hộ tịch thường xuyên cung cấp các văn bản pháp luật, các thông tin pháp luật cho tổ hòa giải ở cơ sở. Bên cạnh đó, còn phối hợp với Sở Tư pháp cấp phát tài liệu nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở, sổ tay pháp luật về công tác hòa giải ở cơ sở cho các tổ hòa giải trên địa bàn huyện, nhằm giúp cho đội ngũ hòa giải viên nắm vững kỹ năng, nghiệp vụ, quy trình các bước hòa giải trong quá trình thực hiện hòa giải ở cơ sở tại địa phương.

Về kết quả hoạt động hòa giải ở cơ sở: Việc nhận đơn và tiến hành hòa giải được thực hiện theo đúng quy định; các mẫu biểu hòa giải, nội dung biên bản thể hiện tương đối đầy đủ, đáp ứng yêu cầu thực tế phát sinh; hòa giải thành chiếm tỷ lệ cao góp phần hạn chế tình hình khiếu nại, khiếu kiện trong nhân nhân, tình làng nghĩa xóm được gắn kết, tình hình an ninh, trật tự ở địa phương được ổn định. Đối với một số vụ việc có tính chất phức tạp, Phòng Tư pháp cũng đã tham gia hòa giải hỗ trợ cho các tổ hòa giải. Về cấp Sổ theo dõi hoạt động hòa giải ở cơ sở, Phòng Tư pháp phối hợp với Sở Tư pháp cấp Sổ cho tất cả các tổ hòa giải trên địa bàn, đồng thời hướng dẫn việc sử dụng và quản lý Sổ cho công chức tư pháp - hộ tịch, đến nay, các tổ hòa giải đều sử dụng Sổ theo đúng hướng dẫn sử dụng, ghi chép đúng quy định.

Về thực hiện việc công nhận hòa giải thành theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Thủ tục công nhận kết quả hòa giải ngoài Tòa án lần đầu tiên được ghi nhận trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, là điểm mới quan trọng, có ý nghĩa trong việc khuyến khích hòa giải, hạn chế tranh chấp yêu cầu Tòa án giải quyết, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Đây là thủ tục rất quan trọng và cần thiết, phù hợp với yêu cầu thực tiễn hiện nay và thông lệ quốc tế, nhằm khắc phục tình trạng sau khi các bên đã hòa giải theo quy định pháp luật nhưng không có cơ quan nào tổ chức thi hành kết quả hòa giải đó. Điều 416 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Kết quả vụ việc ngoài Tòa án được Tòa án xem xét ra quyết định công nhận là kết quả hòa giải thành vụ việc xảy ra giữa cơ quan, tổ chức, cá nhân do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền có nhiệm vụ hòa giải đã hòa giải thành theo quy định của pháp luật về hòa giải”. Qua đó, nếu muốn được Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành thì người yêu cầu làm đơn yêu cầu gửi Tòa án có thẩm quyền xem xét công nhận. Với quy định này, công tác chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án được triển khai thực hiện hiệu quả. Nhằm góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật về hòa giải theo quy định trong quá trình giải quyết vụ việc, huyện cũng đã phối hợp với Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu cấp phát tài liệu (tờ bướm) tìm hiểu một số quy định về công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án cho các tổ hòa giải ở cơ sở trên địa bàn huyện. Tuy nhiên, thời gian qua, trên địa bàn huyện chưa phát sinh thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án.

Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn huyện vẫn còn tồn tại một số hạn chế như: (i) Sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc ở một số nơi chưa thực sự thường xuyên; (ii) Sự phối hợp giữa các các thành viên của Mặt trận Tổ quốc trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ hòa giải có lúc chưa thực sự chặt chẽ; (iii) Công tác tuyên truyền, phổ biến về hòa giải ở cơ sở nhìn chung chưa được thực hiện thường xuyên; (iv) Năng lực, kỹ năng, nghiệp vụ của một bộ phận hòa giải viên chưa sâu, ứng dụng vào thực tiễn còn hạn chế và đây là khó khăn lớn nhất hiện nay đối với việc nâng cao chất lượng công tác hòa giải ở cơ sở; bên cạnh đó, đội ngũ hòa giải viên thường xuyên biến động đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động của công tác này; (v) Vẫn còn một bộ phận người dân chưa nhận thức được ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng của công tác hòa giải ở cơ sở; (vi) Kinh phí hoạt động vẫn còn thấp, chế độ đãi ngộ còn chậm, chưa kịp thời động viên, khích lệ hòa giải viên, chưa huy động được nguồn lực xã hội tham gia.

Thông qua việc đánh giá về những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân về thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở tại địa phương, có thể rút ra bài học kinh nghiệm:

- Hoạt động hòa giải được thực hiện trên cơ sở tôn trọng sự tự nguyện của các bên, không bắt buộc áp đặt, do đó, để các hoạt động này ngày càng đạt hiệu quả cao, Ủy ban nhân dân các cấp cần thực hiện nhiều hình thức vận động nhân dân tham gia vào các hoạt động hòa giải, có như vậy, các loại tranh chấp mới được giải quyết từ khi mới hình thành, nhằm góp phần giữ gìn tình đoàn kết trong nội bộ nhân dân, phòng ngừa và hạn chế các vi phạm pháp luật, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn, đồng thời giảm bớt áp lực khiếu kiện lên chính quyền địa phương.

- Thực tiễn cho thấy, hoạt động hòa giải ở cơ sở hiện nay vẫn đang còn nhiều khó khăn, ngoài tinh thần trách nhiệm, lòng nhiệt tình còn phải có trình độ về chuyên môn và uy tín… Tuy nhiên, nơi nào cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc quan tâm, biết phát huy sức mạnh của quần chúng, biết lắng nghe, tham khảo, học hỏi thì nơi đó hoạt động hòa giải ở cơ sở phát huy hiệu quả.

Hà Phương



Tài liệu tham khảo:

Báo cáo Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở và xây dựng xã, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Lợi tỉnh Bạc Liêu, năm 2019.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: