Thứ tư 14/01/2026 14:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số nội dung cơ bản của Quyết định số 1252/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch tăng cường thực thi hiệu quả Công ước ICCPR và các khuyến nghị của Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp quốc

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng ta đã xác định: “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”[1]; đồng thời, cần “nêu cao ý chí độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất”[2].

Tại định hướng phát triển đất nước 10 năm tới (giai đoạn 2021 - 2030), Nghị quyết Đại hội XIII cũng xác định mục tiêu: “Xây dựng, phát triển, tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước”[3]. Trong những năm qua, có thể nói, hợp tác quốc tế về nhân quyền luôn là một trong những ưu tiên của Chính phủ Việt Nam[4], trong đó có việc ưu tiên ban hành các biện pháp, kế hoạch để thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên.

Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (Công ước ICCPR) là một trong các công ước cốt lõi của Liên Hợp quốc về quyền con người. Công ước có nội dung rộng, liên quan đến nhiều ngành và lĩnh vực khác nhau, thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước của hầu hết các bộ, ngành, cơ quan có liên quan. Việt Nam trở thành thành viên của Công ước ICCPR từ năm 1982. Kể từ năm 2014, Bộ Tư pháp được Thủ tướng Chính phủ phân công làm cơ quan đầu mối quốc gia của Việt Nam về thực thi Công ước ICCPR. Thực hiện nhiệm vụ được giao, Bộ Tư pháp đã tổ chức thực hiện nhiều hoạt động, trong đó có việc ban hành Quyết định số 487/QĐ-BTP ngày 04/3/2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về tiếp tục triển khai thực hiện Công ước ICCPR nhằm xác định nội dung công việc, trách nhiệm và phân công nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị liên quan thuộc Bộ Tư pháp trong việc tiếp tục triển khai thực hiện Công ước một cách hiệu quả và toàn diện; xây dựng, bảo vệ Báo cáo thực thi Công ước ICCPR lần thứ 3[5] và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quyết định số 1252/QĐ-TTg ngày 26/9/2019 về Kế hoạch tăng cường thực thi hiệu quả Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị và các khuyến nghị của Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp quốc (Quyết định số 1252/QĐ-TTg).

1. Về quá trình xây dựng Quyết định số 1252/QĐ-TTg

Trong quá trình nghiên cứu, xây dựng quyết định ban hành kế hoạch, Bộ Tư pháp đã tổ chức nghiên cứu các nội dung khuyến nghị[6], gửi công văn đến các bộ, ngành và cơ quan liên quan (tháng 6/2019) đề nghị cung cấp thông tin và góp ý dự thảo kế hoạch. Các bộ, ngành, cơ quan liên quan đều nhất trí về sự cần thiết ban hành kế hoạch. Đối với các ý kiến đóng góp cụ thể, Bộ Tư pháp đã tiến hành tiếp thu, giải trình các ý kiến này. Ngay sau khi hoàn thiện dự thảo quyết định trên cơ sở ý kiến góp ý của các bộ, ngành, cơ quan liên quan, Bộ Tư pháp đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1252/QĐ-TTg.

Việc ban hành Quyết định số 1252/QĐ-TTg sau 06 tháng, kể từ ngày nhận được Bản khuyến nghị của Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp quốc (UBNQLHQ) đã thể hiện nỗ lực của Việt Nam trong việc thực hiện Công ước ICCPR. Quyết định số 1252/QĐ-TTg đã phân công để bộ, ngành, địa phương chủ động xây dựng kế hoạch riêng hoặc bổ sung, lồng ghép nhiệm vụ vào các kế hoạch, đề án, chiến lược quốc gia, chương trình mục tiêu quốc gia về quyền con người, quyền công dân khác để thực hiện cho phù hợp với điều kiện của từng bộ, ngành, địa phương.

2. Mục đích xây dựng và yêu cầu của Kế hoạch tăng cường thực thi hiệu quả Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị và các khuyến nghị của Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp quốc

2.1. Mục đích

(i) Xác định rõ nội dung công việc và lộ trình thực hiện phù hợp trong việc tăng cường hiệu quả triển khai các quy định của Công ước ICCPR và khuyến nghị của UBNQLHQ. Từ đó, góp phần nâng cao sự hưởng thụ của người dân về các quyền dân sự và chính trị phù hợp với Hiến pháp, pháp luật và điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam; bảo đảm các yêu cầu đối ngoại, đối nội, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.

(ii) Nâng cao vai trò, trách nhiệm, phân công nhiệm vụ cụ thể cho các bộ, ngành, cơ quan có liên quan và tăng cường hiệu quả hoạt động phối hợp giữa các cơ quan trong quá trình triển khai, bảo đảm đúng tiến độ, hiệu quả toàn diện và đồng bộ.

2.2. Yêu cầu

Việc tổ chức, thực hiện Kế hoạch phải bám sát và phù hợp với quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác quyền con người; phù hợp với các quy định của Hiến pháp năm 2013 và Chương VIII Luật Điều ước quốc tế năm 2016. Đối với các quy định của Công ước ICCPR và khuyến nghị có liên quan đến công tác xây dựng pháp luật, khi thực hiện cần tính đến lộ trình Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội.

Đồng thời, việc tổ chức thực hiện Công ước và các khuyến nghị của UBNQLHQ phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các ngành, các cấp. Các bộ, ngành, cơ quan liên quan được giao nhiệm vụ chủ trì hoặc tham gia phối hợp thực hiện phải xây dựng kế hoạch, chương trình cụ thể và tổ chức thực hiện đúng tiến độ, hiệu quả. Bảo đảm quan hệ chặt chẽ và phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ngành, cơ quan, địa phương có liên quan; kịp thời phản ánh, giải quyết hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền giải quyết những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện Kế hoạch.

3. Nội dung cơ bản của Quyết định số 1252/QĐ-TTg

Theo Báo cáo Nghiên cứu xây dựng cơ chế theo dõi, đánh giá việc thực hiện các khuyến nghị của UBNQLHQ đối với Báo cáo thực thi Công ước ICCPR lần thứ 3 của Việt Nam[7] thì để bảo đảm thực hiện hiệu quả các khuyến nghị của các cơ quan nhân quyền, quốc gia thành viên nên thiết lập cơ chế giám sát và đánh giá. Cơ chế nêu trên bảo đảm rằng, các khuyến nghị của các cơ quan nhân quyền được thực hiện một cách mạch lạc, có hệ thống và chuyên nghiệp, để nâng cao việc tôn trọng, bảo vệ và thực hiện quyền con người cho tất cả mọi người. Cơ chế theo dõi và đánh giá quốc gia cũng cung cấp cho quốc gia thành viên một cách tổng quan, toàn diện về việc thực hiện các khuyến nghị, từ đó tạo điều kiện cho việc xây dựng báo cáo quốc gia cho các ủy ban Công ước. Cơ chế quốc gia cũng giúp quốc gia thành viên điều phối hoạt động của tất cả các bên liên quan và tạo ra trách nhiệm chia sẻ trong việc thực hiện kế hoạch quốc gia giữa tất cả các cơ quan có liên quan.

Đặc biệt, việc xây dựng một cơ chế chặt chẽ và hiệu quả sẽ giúp quốc gia: (i) Xem xét và đánh giá về các lĩnh vực được cải thiện và hạn chế của tình hình thực thi quyền con người tại quốc gia; (ii) Đưa ra những sáng kiến để tăng cường năng lực, hỗ trợ kỹ thuật cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc xây dựng lộ trình và bước đi thích hợp cho tiến trình xây dựng và thực hiện các chính sách, pháp luật phù hợp với yêu cầu của các khuyến nghị; (iii) Nâng cao nhận thức, ý thức kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và người dân về tôn trọng và bảo vệ quyền con người.

Quyết định số 1252/QĐ-TTg được xây dựng với các nội dung tăng cường thực thi hiệu quả Công ước ICCPR và các khuyến nghị của UBNQLHQ. Như vậy, mục tiêu hướng đến của Quyết định số 1252/QĐ-TTg không chỉ nhằm thực hiện các khuyến nghị của UBNQLHQ mà còn tăng cường thực thi hiệu quả các quy định của Công ước.

Về nội dung, Quyết định số 1252/QĐ-TTg có 03 điều kèm theo 01 phụ lục về các nhiệm vụ cụ thể. Điều 1 có nêu 04 nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu của Kế hoạch, bao gồm: (i) Tiếp tục nội luật hóa và hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm thực hiện Công ước ICCPR; (ii) Tiếp tục nâng cao hiệu quả thực thi các quy định pháp luật về dân sự và chính trị; (iii) Tiếp tục thúc đẩy các quyền dân sự và chính trị thông qua hoạt động tuyên truyền, giáo dục và đào tạo; (iv) Các hoạt động hợp tác quốc tế, nghiên cứu các điều ước quốc tế có liên quan và thực hiện các nghĩa vụ báo cáo định kỳ theo quy định của Công ước ICCPR và khuyến nghị của UBNQLHQ.

4. Trách nhiệm thực hiện Quyết định số 1252/QĐ-TTg của các bộ, ngành và địa phương

Theo quy định tại Mục III.1 Quyết định số 1252/QĐ-TTg, căn cứ nhiệm vụ được phân công tại Phụ lục kèm theo Quyết định này, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, các bộ, ngành, cơ quan có liên quan và địa phương có trách nhiệm ban hành kế hoạch của bộ, ngành mình, gửi về Bộ Tư pháp để theo dõi hoặc bổ sung, lồng ghép nhiệm vụ vào các kế hoạch, đề án, chiến lược quốc gia, chương trình mục tiêu quốc gia về quyền con người, quyền công dân khác. Tính đến nay, đã có 03 bộ và 19 ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã ban hành kế hoạch riêng để thực hiện Công ước ICCPR và các khuyến nghị của UBNQLHQ; một số bộ, ngành, địa phương khác đã thực hiện theo hướng lồng ghép vào các kế hoạch, đề án, chương trình… của bộ, ngành, địa phương mình.

Về phía Bộ Tư pháp, thực hiện nhiệm vụ được giao tại Quyết định số 1252/QĐ-TTg, Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 3028/QĐ-BTP ngày 04/12/2019 ban hành Kế hoạch của Bộ Tư pháp trong việc thực thi hiệu quả Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị và các khuyến nghị của UBNQLHQ (Quyết định số 3028/QĐ-BTP).

Kế hoạch ban hành kèm theo Quyết định số 3028/QĐ-BTP được xây dựng bám sát các nội dung, nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ giao tại Quyết định số 1252/QĐ-TTg (Kế hoạch 3028), đặc biệt là các nhiệm vụ Bộ Tư pháp được giao chủ trì thực hiện; các công việc trong Kế hoạch 3028 được xác định nội dung một cách rõ ràng, khả thi, hiệu quả nhằm đảm bảo và phát huy các quyền dân sự và chính trị ở Việt Nam; bảo đảm các nhiệm vụ được phân công phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị thuộc Bộ trong quá trình triển khai thực hiện các nhiệm vụ nêu tại Kế hoạch 3028; bảo đảm xác định cụ thể thời gian hoàn thành, trách nhiệm của các đơn vị và kết quả đầu ra đối với từng nội dung công việc được phân công trong Kế hoạch 3028.

Đối với 04 nội dung Bộ Tư pháp chủ trì, Kế hoạch 3028 đã phân công cụ thể như sau:

Thứ nhất, về công tác xây dựng pháp luật bao gồm một số nhiệm vụ, trong đó có nhiệm vụ nghiên cứu đề xuất hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm tính tương thích với các quy định của Công ước ICCPR. Đây là công việc có khối lượng lớn, liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của nhiều đơn vị thuộc Bộ. Vì vậy, Kế hoạch 3028 đã phân công chi tiết cho từng đơn vị theo lĩnh vực cụ thể, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị chủ trì, bao gồm:

(i) Về lĩnh vực pháp luật hình sự do Vụ Pháp luật hình sự - hành chính chủ trì thực hiện với nội dung tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật hình sự, trong đó lưu ý về một số vấn đề tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, các tội phạm liên quan đến khủng bố…;

(ii) Về lĩnh vực pháp luật xử lý vi phạm hành chính do Cục Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật thực hiện bao gồm rà soát các quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 trong quá trình sửa đổi, bổ sung Luật này và ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành bảo đảm phù hợp với yêu cầu của Công ước ICCPR và khuyến nghị của UBNQLHQ; nghiên cứu hoàn thiện các quy định về xử lý vi phạm hành chính, trong đó lưu ý đến yêu cầu bảo đảm việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính;

(iii) Về lĩnh vực pháp luật dân sự bao gồm nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về hôn nhân và gia đình (trong đó, lưu ý vấn đề về độ tuổi kết hôn, vai trò của phụ nữ trong gia đình, công nhận về mặt pháp lý và bảo vệ hôn nhân đồng giới…) do Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế chủ trì thực hiện; nghiên cứu khả năng ban hành Luật Chống phân biệt đối xử do Vụ Pháp luật quốc tế chủ trì thực hiện;

(iv) Các lĩnh vực khác thuộc chức năng, nhiệm vụ của Bộ Tư pháp do các đơn vị thuộc Bộ thực hiện theo chức năng nhiệm vụ của mình;

(v) Nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài trong quá trình nội luật hóa, bảo đảm thực hiện các quy định của Công ước ICCPR do Vụ Pháp luật quốc tế chủ trì thực hiện, trong đó có việc xây dựng, công bố hoặc xuất bản các tài liệu về Công ước ICCPR, các bình luận chung của UBNQLHQ…

Thứ hai, tiếp tục nâng cao hiệu quả thực thi các quy định pháp luật về quyền dân sự và chính trị. Nội dung công việc này liên quan đến các lĩnh vực khiếu nại, tố cáo; trợ giúp pháp lý; bồi thường nhà nước; thanh tra, kiểm tra… thuộc chức năng nhiệm vụ của các đơn vị khác nhau thuộc Bộ. Vì vậy, việc chủ trì thực hiện được giao cho từng đơn vị tương ứng theo chức năng nhiệm vụ của mình.

Thứ ba, tiếp tục thúc đẩy các quyền dân sự và chính trị thông qua hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, đào tạo và trao đổi chuyên môn, Kế hoạch 3028 chia thành các nội dung:

(i) Tuyên truyền, phổ biến Công ước ICCPR:

- Việc tuyên truyền về thực thi Công ước ICCPR tại Việt Nam với nội dung biên soạn tài liệu tuyên truyền phục vụ thực thi Công ước ICCPR tại Việt Nam do Vụ Pháp luật quốc tế chủ trì thực hiện.

- Đối với việc tiếp tục tuyên truyền, phổ biến nội dung cơ bản của Công ước ICCPR, các quy định pháp luật liên quan đến các quyền dân sự, chính trị với nội dung tiếp tục tuyên truyền và nghiên cứu, đề xuất và triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến nội dung cơ bản của Công ước ICCPR và pháp luật Việt Nam do Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật chủ trì.

(ii) Các hoạt động giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng về Công ước ICCPR:

Đối với các hoạt động giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng về Công ước ICCPR, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị, Kế hoạch đã nêu một số công việc như sau:

- Việc giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng Công ước ICCPR cho cán bộ, công chức, viên chức của Bộ Tư pháp do Vụ Tổ chức cán bộ chủ trì;

- Việc giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng Công ước ICCPR cho các đối tượng sinh viên, học viên khác do Trường Đại học Luật Hà Nội, Học viện Tư pháp và các Trường Cao đẳng Luật thuộc Bộ Tư pháp chủ trì.

(iii) Hoạt động trao đổi chuyên môn, tăng cường hiểu biết, nhận thức thống nhất về quy định của Công ước ICCPR:

Nội dung hoạt động này nhằm tăng cường trao đổi chuyên môn giữa Bộ Tư pháp và các bộ, ngành, địa phương có liên quan để kịp thời cập nhật, thống nhất cách hiểu, thực hiện các quyền được quy định trong Công ước ICCPR, phù hợp với giải thích của UBNQLHQ và tình hình, thực tiễn của Việt Nam. Hoạt động này do Vụ Pháp luật quốc tế chủ trì thực hiện.

5. Một số thuận lợi, thách thức và đề xuất

Những thành tựu trong xây dựng pháp luật, hoàn thiện pháp luật và cải cách tư pháp gần đây là những cơ hội lớn so với trước đây để thực hiện Quyết định số 1252/QĐ-TTg. Bên cạnh đó, các cơ hội đem lại từ quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng, nhận thức của cán bộ, công chức và trách nhiệm phục vụ, làm đúng pháp luật đã có nhiều cải thiện...

Tuy nhiên, như các quốc gia đang phát triển khác, quá trình triển khai thực hiện Công ước ICCPR ở Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn, thách thức cần giải quyết. Thách thức đầu tiên phải kể đến là do vị trí đặc biệt của Công ước ICCPR trong hệ thống các điều ước quốc tế về quyền con người và phạm vi điều chỉnh của Công ước rất rộng, bao gồm tất cả các quyền dân sự, chính trị và bao trùm lên một số công ước về quyền con người khác (CAT, CEDAW, CRC...).

Bên cạnh đó, trình độ phát triển, năng lực xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật còn hạn chế. Thực tiễn rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cho thấy, pháp luật về quyền dân sự, chính trị ở Việt Nam mặc dù đang từng bước được xây dựng và hoàn thiện nhưng vẫn chưa thực sự đồng bộ, một số lĩnh vực chậm được sửa đổi, bổ sung dẫn đến khó khăn trong quá trình thực thi pháp luật. Năng lực tổ chức thực hiện pháp luật còn hạn chế đã ảnh hưởng không nhỏ tới việc thực hiện hiệu quả pháp luật và Công ước. Việc thu thập thông tin còn khó khăn, nhiều nội dung không có đầy đủ dữ liệu... cũng ảnh hưởng tới việc thực hiện Quyết định số 1252/QĐ-TTg. Giáo dục về quyền con người, quyền công dân trong các cấp học, mặc dù đã được quan tâm và đẩy mạnh nhưng so với yêu cầu vẫn còn khoảng cách nhất định.

Những tác động bất lợi của đại dịch Covid-19, những biến động của tình hình khu vực và quốc tế như các cuộc chiến tranh, xung đột vũ trang tại một số khu vực, chủ nghĩa cực đoan, khủng bố diễn ra nhiều nơi trên thế giới, suy thoái kinh tế, tác động của biến đổi khí hậu… đang có những tác động tiêu cực tới Việt Nam nói riêng và tình hình quốc tế nói chung. Những thách thức này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới mỗi người dân mà còn làm phân tán nguồn lực của đất nước, làm giảm hiệu quả của các chính sách khuyến khích và thúc đẩy phát triển quyền dân sự, chính trị.

Với vai trò đặc biệt, trung tâm của Công ước ICCPR trong hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người thì việc thực hiện Công ước này đã, đang và sẽ luôn là nội dung quan trọng trong các cuộc thảo luận về chính sách, pháp luật ở tầm quốc tế, khu vực và quốc gia. Trong khi đó, với điều kiện, hoàn cảnh và trình độ phát triển của Việt Nam thì cần sự vào cuộc thực chất, hiệu quả và quyết tâm cao của các bộ, ngành, cơ quan, các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp có liên quan, trong đó, cần đặc biệt tập trung vào các nhiệm vụ chính được nêu tại Quyết định số 1252/QĐ-TTg. Bên cạnh đó, với vai trò là cơ quan được giao chủ trì thực hiện Công ước ICCPR và Quyết định số 1252/QĐ-TTg, Bộ Tư pháp cần phát huy vai trò của mình, phối hợp, hướng dẫn, đôn đốc các bộ, ngành và địa phương trong việc thực hiện kế hoạch, cũng như phối hợp với UBNQLHQ thực hiện nghiêm túc các quyền và nghĩa vụ thành viên Công ước.

ThS. Lê Thị Hồng Hải
Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp



[1]. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, tr. 324.

[2]. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, tr. 325.

[3]. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, tr. 330.

[4]. Việt Nam đã đảm nhiệm thành công vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2014 - 2016 và hiện đang chuẩn bị ứng cử nhiệm kỳ 2023 - 2025.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.

Theo dõi chúng tôi trên: