Thứ tư 20/05/2026 05:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số so sánh về Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam với Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa theo Hiến pháp hiện hành

Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả tập trung phân tích những nét đặc trưng của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam và Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa theo Hiến pháp hiện hành của hai quốc gia

Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả tập trung phân tích những nét đặc trưng của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam và Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa theo Hiến pháp hiện hành của hai quốc gia.

Abstract: In this paper, the author focuses on features of the Standing Committee of the National Assembly of Vietnam to the Standing Committee of the National People's Congress of the People's Republic of China under the current Constitution of the two nations.

Cơ quan lập pháp của Việt Nam và Trung Quốc được thiết lập theo mô hình một viện mặc dù tên gọi có khác nhau: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (sau đây gọi chung là Quốc hội). Hình thức hoạt động quan trọng bậc nhất của Quốc hội là các kỳ họp, tuy nhiên Quốc hội Việt Nam và Trung Quốc lại bao gồm phần đa số các đại biểu hoạt động không thường xuyên, không chuyên trách, trong khi quyền hạn rất lớn, buộc Quốc hội phải thành lập ra một cơ quan thường trực để giúp Quốc hội đảm nhận các hoạt động có tính chất thường xuyên và điều phối hoạt động của Quốc hội giữa hai kỳ họp đó chính là Ủy ban Thường vụ.

Mặc dù cùng tên gọi Ủy ban Thường vụ, cùng giữ vai trò là cơ quan thường trực của Quốc hội Việt Nam và Trung Quốc, tuy nhiên Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) Việt Nam và Trung Quốc cũng có những đặc trưng riêng của mình. Dưới đây là một số so sánh về UBTVQH Việt Nam và Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa theo Hiến pháp hiện hành của hai nước.

1. Vị trí, vai trò của Ủy ban Thường vụ

Quốc hội chiếm một vị trí quan trọng trong bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo Hiến pháp năm 2013, vị trí pháp lý của Quốc hội được xác định: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước”[1]. Với tư cách là cơ quan thường trực của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, UBTVQH Việt Nam đóng vai trò quan trọng nhất định trong lĩnh vực kiểm soát quyền lực nhà nước, thẩm quyền giám sát việc thi hành Hiến pháp. Có thể thấy rằng, UBTVQH Việt Nam là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu tổ chức của Quốc hội và là nhân tố quyết định đến hiệu quả hoạt động của Quốc hội Việt Nam.

Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Quốc hội Trung Quốc) là cơ quan quyền lực tối cao và là cơ quan lập pháp, tương đương với Quốc hội ở các nước khác. Theo Hiến pháp hiện nay của Trung Quốc[2], Quốc hội được cấu trúc như một cơ quan lập pháp đơn viện, với sức mạnh để lập pháp, quyền giám sát hoạt động của Chính phủ, bầu các chức danh quan trọng của Nhà nước, cũng như là cơ quan tham vấn với các thành viên đại diện cho các nhóm xã hội khác nhau. Tuy nhiên, trên thực tế, Quốc hội Trung Quốc hoạt động hình thức và chịu sự chi phối, kiểm soát mạnh mẽ của Đảng cộng sản Trung Quốc, đặc biệt về thành phần đại biểu[3].

Quốc hội Trung Quốc được bầu ra với nhiệm kỳ 05 năm thông qua một hệ thống bầu cử nhiều cấp[4]. Các đại biểu được bầu từ các tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương, các đặc khu hành chính, các đại biểu được bầu từ lực lượng vũ trang, tất cả dân tộc thiểu số có quyền đại diện thích hợp[5]... Quốc hội Trung Quốc tổ chức mỗi năm một phiên họp trong khoảng 07 - 10 ngày, nhiều nhất là 20 ngày. Do số lượng đại biểu rất đông sẽ không đảm bảo tính chuyên nghiệp, tinh hoa và thống nhất. Các đại biểu không có tính gắn kết cao, hoạt động sẽ rời rạc nhất là lại không hoạt động thường xuyên đồng nghĩa với việc ảnh hưởng và quyền lực thực sự nằm trong một Ủy ban thường trực gồm khoảng trên 160 thành viên được bầu từ các đại biểu Quốc hội với tần suất họp và làm việc thường xuyên mỗi tháng một lần, đó chính là Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa[6] (sau đây gọi là UBTVQH Trung Quốc).

Như vậy, có thể thấy vai trò quan trọng của Ủy ban Thường vụ đối với Quốc hội Việt Nam và Quốc hội Trung Quốc, là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu của Quốc hội. Sở dĩ, việc tồn tại UBTVQH là do cả Quốc hội Việt Nam và Quốc hội Trung Quốc hoạt động không thường xuyên như các Quốc hội khác trên thế giới nên buộc phải lập ra cơ quan mang tính thường trực, có quyền giải quyết những quyền hạn của Quốc hội.

2. Cách thức thành lập và cơ cấu tổ chức

UBTVQH Việt Nam là cơ quan thường trực của Quốc hội và do Quốc hội bầu ra[7]. Thành phần UBTVQH Việt Nam gồm có: Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội và các ủy viên[8]. Chủ tịch Quốc hội làm Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc hội làm Phó Chủ tịch[9]. Số thành viên UBTVQH Việt Nam do Quốc hội quyết định. Thành viên UBTVQH Việt Nam không thể đồng thời là thành viên của Chính phủ[10] và nhiệm kỳ sẽ kết thúc cho đến khi Quốc hội khóa mới bầu ra UBTVQH Việt Nam mới. Cơ quan này làm việc theo chế độ hội nghị và mỗi tháng họp ít nhất một lần. Thông thường khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, UBTVQH Việt Nam thường ban hành pháp lệnh và nghị quyết. Pháp lệnh và nghị quyết phải được quá nửa tổng số ủy viên biểu quyết tán thành.

UBTVQH Trung Quốc là cơ quan thường trực quyền lực cao nhất của Quốc hội Trung Quốc. Ủy ban Thường vụ do Chủ tịch (Ủy viên trưởng), Phó chủ tịch (Phó Ủy viên trưởng), Tổng Thư ký và khoảng trên 160 người là thành viên của Quốc hội Trung Quốc cấu thành. Theo Luật Tổ chức Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định: Ủy ban Thường vụ do Quốc hội Trung Quốc bầu ra, chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Quốc hội Trung Quốc, với nhiệm kỳ 05 năm theo nhiệm kỳ của Quốc hội Trung Quốc, quản lý các Ủy ban chuyên trách của Quốc hội Trung Quốc. Thành viên Ủy ban Thường vụ không đảm nhiệm các chức vụ thuộc cơ quan hành chính, cơ quan thẩm phán, cơ quan kiểm sát[11].

3. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn

Thông qua hai bản Hiến pháp của Việt Nam và Trung Quốc, có thể khái quát những chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn chính của UBTVQH thông qua những khía cạnh sau:

Thứ nhất, những nhiệm vụ, quyền hạn của UBTVQH với tư cách là một cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật và giải thích pháp luật

Theo Điều 74 Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam, UBTVQH được giao: “Ra pháp lệnh về những vấn đề được Quốc hội giao; giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh”. Có thể nói rằng đây là 02 nhiệm vụ vô cùng quan trọng, nó thể hiện quyền hạn của UBTVQH mà không một cơ quan nào có được.

Ủy ban Thường vụ “ra pháp lệnh về những vấn đề được Quốc hội giao” là một chức năng rất gần với “lập pháp” của Quốc hội (pháp lệnh phải nằm trong chương trình lập pháp của Quốc hội), thực chất là bổ sung vào những vấn đề thiếu vắng luật hoặc luật điều chỉnh không đầy đủ. Có ý kiến cho rằng pháp lệnh trong một chừng mực nào đó còn tồn tại do chủ yếu của sự vắng luật chứ không phải là do luật chưa điều chỉnh một cách đầy đủ - sự thiếu hụt của luật. Với việc ngày càng nâng cao vai trò lập pháp của Quốc hội, UBTVQH hiện nay chỉ được phép làm pháp lệnh trong phạm vi chương trình cho phép của Quốc hội và có thể bị Chủ tịch nước phủ quyết. Chính những đặc điểm này đã hạn chế chức năng ra pháp lệnh của UBTVQH nhằm tăng cường hoạt động lập pháp của Quốc hội.

UBTVQH thời gian qua mặc dù đã rất cố gắng nhưng vẫn không thể thực hiện chức năng giải thích pháp luật một cách hiệu quả. Điều này có thể lý giải bởi các lý do sau: (i) UBTVQH không có các chất liệu đời sống từ phía người dân để cân bằng với các quy phạm hiến định, pháp định từ phía cơ quan nhà nước; (ii) Họ nhìn các quy định hiến định và pháp định dưới con mắt của người trong cuộc chứ không phải dưới con mắt của chủ thể phản biện, chủ thể đánh giá; (iii) Tư cách của họ không hoàn toàn độc lập với các chủ thể lập pháp, lập hiến, bởi vì họ là chủ thể đắc lực tham gia vào quá trình lập pháp, lập hiến đó[12].

Hiến pháp Trung Quốc năm 1982 tại Điều 58 quy định chủ thể thực hiện quyền lập pháp của Nhà nước: Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc và Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc thực hiện quyền lập pháp. Điều 67 quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của UBTVQH Trung Quốc: (i) Sửa đổi Hiến pháp, giám sát việc tuân thủ Hiến pháp; (ii) Ban hành và sửa đổi các văn bản pháp luật mà các văn bản này không do Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc ban hành và sửa đổi; (iii) Trong thời gian Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc không họp, có thể bổ sung hoặc sửa đổi các văn bản pháp luật do Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc ban hành, nhưng không được mâu thuẫn với nguyên tắc cơ bản của những văn bản pháp luật này; (iv) Giải thích pháp luật[13].

UBTVQH Trung Quốc được Hiến pháp trao cho quyền lực lập pháp như một Quốc hội. Việc Ủy ban Thường vụ có quyền lực lập pháp do cơ quan thành lập ra nó là Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc tổ chức mỗi năm có một phiên họp, với số lượng đại biểu hùng hậu (gần 3.000 thành viên) sẽ không đảm bảo tính chuyên nghiệp, tinh hoa và thống nhất. Các đại biểu không có tính gắn kết cao, hoạt động sẽ rời rạc, hoạt động không thường xuyên và mang tính hình thức nên rất khó đưa ra được ý kiến tập trung, vì vậy đồng nghĩa với việc ảnh hưởng và quyền lực thực sự nằm trong một Ủy ban thường trực gồm khoảng trên 160 thành viên được bầu từ các đại biểu Đại hội với tần suất họp và làm việc thường xuyên mỗi tháng một lần, đó chính là UBTVQH Trung Quốc.

Như vậy có thể thấy, nếu như UBTVQH Việt Nam chỉ được ban hành văn bản quy phạm pháp luật dưới dạng pháp lệnh (văn bản dưới luật) thì UBTVQH Trung Quốc lại là cơ quan làm luật.

Theo Hiến pháp năm 2013, UBTVQH Việt Nam chỉ được quy định giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh thì Hiến pháp Trung Quốc năm 1982 trao cho UBTVQH Trung Quốc thẩm quyền giải thích pháp luật. UBTVQH Trung Quốc - một chủ thể mang quyền lực nhà nước có quyền giải thích mọi văn bản có nội dung chứa quy phạm pháp luật, điều này khác với Việt Nam chưa có bất cứ một quy định nào về giải thích các hình thức văn bản quy phạm pháp luật khác (ngoài quy định giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh).

Thứ hai, những nhiệm vụ, quyền hạn liên quan đến chức năng thường vụ tổ chức cho Quốc hội hoạt động

Theo Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam, UBTVQH có nhiệm vụ, quyền hạn: Tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội; chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp cho Hội đồng bầu cử quốc gia (Điều 117); tổ chức việc chuẩn bị, triệu tập và chủ trì kỳ họp Quốc hội; chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội; hướng dẫn và bảo đảm điều kiện hoạt động của đại biểu Quốc hội; thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội và tổ chức trưng cầu ý dân theo quyết định của Quốc hội (Điều 74).

Hiến pháp năm 1982 của Trung Quốc quy định việc bầu cử Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc do Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc chủ trì (Điều 59); tổ chức việc chuẩn bị, triệu tập và chủ trì các kỳ họp của Quốc hội (Điều 61); lãnh đạo các Ủy ban khi Quốc hội không họp (Điều 70); thành lập Ủy ban điều tra đối với các vấn đề đặc biệt nếu thấy cần thiết (Điều 71); thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội (Điều 67).

Với tư cách là cơ quan thường trực của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, UBTVQH của Việt Nam và của Trung Quốc đều đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức việc chuẩn bị, triệu tập và chủ trì các kỳ họp của Quốc hội; chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội; hướng dẫn và bảo đảm điều kiện hoạt động của Đại biểu Quốc hội, thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội.

Thứ ba, những nhiệm vụ, quyền hạn thay Quốc hội giải quyết những nhiệm vụ của Quốc hội giữa hai kỳ họp

Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam quy định UBTVQH có nhiệm vụ giải quyết các công việc của Quốc hội giữa hai kỳ họp tại Điều 74 như sau: Đình chỉ việc thi hành văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc bãi bỏ văn bản đó tại kỳ họp gần nhất; quyết định việc tuyên bố tình trạng chiến tranh trong trường hợp Quốc hội không thể họp được và báo cáo Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất.

Những nhiệm vụ nêu trên nếu ở quốc gia có Quốc hội hoạt động thường xuyên sẽ không được phép giao lại cho một cơ quan nào khác đảm nhiệm, nhưng do ở Việt Nam, Quốc hội không hoạt động thường xuyên nên để đáp ứng kịp thời cho các tình huống cấp bách xảy ra, những nhiệm vụ trên đã được trao cho UBTVQH với tư cách là cơ quan thường trực của Quốc hội. Hiện nay số lượng kỳ họp của Quốc hội Việt Nam ngày càng tăng, nên những nhiệm vụ này của UBTVQH ngày càng có xu hướng chuyển về cho Quốc hội.

Hiến pháp năm 1982 của Trung Quốc trao cho UBTVQH Trung Quốc những nhiệm vụ, quyền hạn thay Quốc hội giải quyết những công việc của Quốc hội giữa hai kỳ họp, cụ thể: (i) Có thể bổ sung hoặc sửa đổi các văn bản pháp luật do Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc ban hành, nhưng không được mâu thuẫn với nguyên tắc cơ bản của những văn bản pháp luật này; (ii) Có thể có phương án điều chỉnh bộ phận khi cần thiết trong quá trình thi hành dự toán nhà nước, thẩm tra và phê chuẩn kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; (iii) Theo đề nghị của Thủ tướng Quốc vụ viện quyết định bầu ra các bộ trưởng, chủ nhiệm các ủy ban, Tổng kiểm toán, Trưởng Ban thư ký; (iv) Theo đề nghị của Chủ tịch Ủy ban Quân sự trung ương, quyết định bầu các thành viên khác trong Ủy ban Quân sự trung ương; (v) Nếu xảy ra xâm lược vũ trang hoặc cần thiết phải tham gia vào điều ước quốc tế để chống lại sự xâm lược trong cộng đồng quốc tế, Ủy ban Thường vụ có quyền quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh[14].

Như vậy, so với Việt Nam, Quốc hội Trung Quốc trao thẩm quyền của mình cho UBTVQH mạnh mẽ hơn rất nhiều. Điều này cũng phù hợp với thực tế số lượng kỳ họp của Quốc hội Trung Quốc một năm chỉ có một lần, hoạt động của nó chỉ mang tính hình thức và hầu hết các đại biểu đều là kiêm nhiệm.

Thứ tư, nhiệm vụ, quyền hạn của UBTVQH trong việc giám sát việc tuân thủ Hiến pháp và luật của các cơ quan nhà nước khác

Với tư cách là cơ quan thường trực của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, UBTVQH của Việt Nam và UBTVQH của Trung Quốc đều đóng vai trò quan trọng nhất định trong lĩnh vực kiểm soát quyền lực nhà nước. Cả hai cơ quan đều có thẩm quyền giám sát việc thi hành Hiến pháp[15]. Phạm vi giám sát của UBTVQH hai nước đều bao gồm: Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Hội đồng nhân dân ở cấp tỉnh hoặc tương đương. Tuy nhiên, các quy định của Hiến pháp hai quốc gia về quyền kiểm soát của hai cơ quan cũng có những điểm khác biệt quan trọng, cụ thể:

Một là, đối với thẩm quyền bãi bỏ các văn bản, UBTVQH của Việt Nam chỉ có quyền bãi bỏ các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH. Nếu các văn bản đó trái với Hiến pháp hoặc luật thì UBTVQH đình chỉ việc thi hành và trình Quốc hội quyết định việc bãi bỏ văn bản đó tại kỳ họp gần nhất. UBTVQH có quyền bãi bỏ các văn bản có cùng tính chất vi phạm của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, thậm chí có quyền giải tán Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nếu Hội đồng nhân dân đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của người dân[16].

UBTVQH của Trung quốc bãi bỏ các văn bản pháp quy hành chính, quyết định và mệnh lệnh trái với Hiến pháp và pháp luật của Quốc vụ viện; bãi bỏ các văn bản pháp quy và quyết định có tính địa phương do cơ quan quyền lực nhà nước cấp tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương ban hành trái với Hiến pháp, pháp luật và văn bản pháp quy hành chính[17].

Hai là, UBTVQH của Trung Quốc có một đặc quyền tương tự như Quốc hội Trung Quốc mà UBTVQH Việt Nam không có đó là quyền thành lập các ủy ban điều tra lâm thời. Theo Điều 71 Hiến pháp năm 1982 của Trung Quốc, UBTVQH Trung Quốc nếu thấy cần thiết có thể thành lập ủy ban điều tra đối với các vấn đề đặc biệt và căn cứ vào báo cáo của ủy ban điều tra để ra các quyết định tương ứng. Ủy ban điều tra khi tiến hành điều tra, tất cả các cơ quan nhà nước, đoàn thể xã hội và công dân có liên quan đều có nghĩa vụ cung cấp tài liệu cần thiết khi cơ quan này yêu cầu.

Thứ năm, những nhiệm vụ liên quan đến việc quyết định tình trạng đặc biệt của đất nước

UBTVQH Việt Nam quyết định tổng động viên hoặc động viên cục bộ, ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương chính[18]. UBTVQH của Trung Quốc có quyền quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh, quyết định tổng động viên toàn quốc hoặc động viên cục bộ; quyết định giới nghiêm toàn quốc hoặc các tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc[19].

Đặc điểm của những nhiệm vụ này là phải giải quyết một cách nhanh chóng để kịp thời hạn chế những thiệt hại do tình hình đặc biệt gây ra. Do vậy, những nhiệm vụ, quyền hạn này theo quy định của các quốc gia khác là thuộc thẩm quyền của Nguyên thủ quốc gia (người đứng đầu nhà nước). Những nhiệm vụ này thường có liên quan đến việc sử dụng quân đội, và các lực lượng vũ trang nhằm kịp thời xử lý, khắc phục các thiệt hại và mau chóng đưa tình trạng trở lại bình thường.

Tóm lại, từ những điều phân tích nêu trên, chúng ta có thể nhận thấy rằng, sự hiện diện của UBTVQH gắn liền với vị trí, vai trò của Quốc hội Việt Nam và Trung Quốc hiện nay. UBTVQH vừa là thực thể của Quốc hội, vừa là cơ quan có một ví trí tương đối độc lập. Ở Việt Nam, từ khi được tái thành lập theo Hiến pháp năm 1992, UBTVQH ngày càng có xu hướng nghiêng về cơ quan thường trực, đảm trách các công việc thường trực, đảm bảo các hoạt động thường xuyên của Quốc hội. Trong tương lai không xa nữa, khi Quốc hội hoạt động chuyên trách, thường xuyên, những phần việc mà UBTVQH đang đảm trách thay mặt cho Quốc hội sẽ ngày càng giảm đi. UBTVQH sẽ dần chuyển thành cơ quan có nhiệm vụ thường trực đảm bảo các hoạt động thường xuyên của Quốc hội, chủ yếu là điều hành các kỳ họp của Quốc hội và ký chứng thực các văn bản của Quốc hội đã ban hành...

Đặng Phương Hải

Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội





[1]. Điều 69 Hiến pháp Việt Nam năm 2013.

[2]. Hiến pháp năm 1982 là bản Hiến pháp hiện hành của Trung Quốc, được ban hành ngày 04/12/1982, tại Hội nghị lần thứ 5 Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc khóa 5. Hiến pháp được tu chính 04 lần (1988, 1993, 1999, 2004). Được gọi là Hiến pháp Bát Nhị.

[3]. How China is ruled: National People’s Congress, nguồn: http://www.bbc.com/news/world-asia-pacific-13908155, đăng ngày 08/10/2012.

[4]. Điều 60 Hiến pháp Trung Quốc năm 1982.

[5]. Điều 59 Hiến pháp Trung Quốc năm 1982.

[6]. How China is ruled: National People’s Congress, tlđd.

[7]. Khoản 1 Điều 73 Hiến pháp Việt Nam năm 2013.

[8]. Khoản 2 Điều 73 Hiến pháp Việt Nam năm 2013.

[9]. Khoản 2 Điều 44 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014.

[10]. Khoản 3 Điều 73 Hiến pháp Việt Nam năm 2013.

[11]. Điều 65 và 70 Hiến pháp Trung Quốc năm 1982.

[12]. Văn phòng Quốc hội, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế bảo hiến, Nxb. Thời đại, 2009, tr. 21.

[13]. Điều 67 Hiến pháp Trung Quốc năm 1982, Văn phòng Quốc hội, Nxb. Thống kê, 2009.

[14]. Điều 67 Hiến pháp Trung Quốc năm 1982.

[15]. Khoản 3 Điều 74 Hiến pháp Việt Nam năm 2013; khoản 1 Điều 67 Hiến pháp Trung Quốc năm 1982.

[16]. Khoản 7 Điều 74 Hiến pháp Việt Nam năm 2013.

[17]. Khoản 7 Điều 67 Hiến pháp Trung Quốc năm 1982.

[18]. Khoản 9, 10 Điều 74 Hiến pháp Việt Nam năm 2013.

[19]. Khoản 18 - 20 Điều 67 Hiến pháp Trung Quốc năm 1982.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: