Thứ năm 20/08/2026 04:38
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề lý luận về thiết chế truyền thông

Truyền thông là hiện tượng xã hội phổ biến, có vai trò rất quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, tác động và chi phối đến mọi lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Nó ra đời cùng với quá trình xuất hiện và phát triển của xã hội loài người.

Truyền thông là hiện tượng xã hội phổ biến, có vai trò rất quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, tác động và chi phối đến mọi lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Nó ra đời cùng với quá trình xuất hiện và phát triển của xã hội loài người. Hoạt động truyền thông bao gồm nhiều cấp độ và với các dạng thức hết sức đa dạng, phong phú, từ việc giao tiếp cá nhân với những mục đích cá nhân thuần túy - ở đây chủ yếu hình thành kỹ năng giao tiếp nội cá nhân, liên cá nhân mà vai trò chi phối chủ yếu là môi trường giao tiếp, môi trường văn hóa gia đình - xã hội và tính chủ động của mỗi người, đến việc nhận thức được một cách tự giác các hoạt động giao tiếp - truyền thông và sử dụng nó vào việc giải quyết các vấn đề liên quan đến cộng đồng - ở đây cần sự hiểu biết một cách hệ thống các lý thuyết và kỹ năng chuyên nghiệp...

1. Bản chất xã hội của truyền thông

1.1. Khái niệm về truyền thông

Truyền thông có gốc từ tiếng Latinh là “communicare”, nghĩa là biến nó thành thông thường, chia sẻ, truyền tải. Truyền thông thường được mô tả như việc truyền ý nghĩ, thông tin, ý tưởng, ý kiến hoặc kiến thức từ một người/một nhóm người sang một người/hoặc một nhóm người khác bằng lời nói, hình ảnh, văn bản hoặc tín hiệu. Về thực chất, đó chính là quá trình trao đổi, tương tác thông tin với nhau về các vấn đề của đời sống cá nhân/nhóm/xã hội, từ đó tăng vốn hiểu biết chung, hình thành hoặc thay đổi nhận thức, thái độ, chuyển đổi hành vi cá nhân/nhóm/xã hội.

Những quan niệm trên đây có những khác biệt đáng kể do hoàn cảnh và điều kiện ứng dụng cho giao tiếp, nhưng có thể thấy hiểu một cách chung nhất truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm…, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, tiến tới thay đổi nhận thức, điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/nhóm/cộng đồng/xã hội.

Trong các loại hình và dạng thức truyền thông, cần chú ý truyền thông đại chúng. Truyền thông đại chúng là những kênh truyền thông hướng tác động vào đông đảo công chúng; nó có vai trò quyết định sức mạnh, tính chất và khuynh hướng của nền truyền thông. Trong truyền thông đại chúng, báo chí với các loại hình báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử là những kênh truyền thông có vai trò nền tảng, vị trí trung tâm và ý nghĩa quyết định đối với truyền thông nói chung. Bởi vì, truyền thông đại chúng có thể được hiểu là hệ thống (hoặc mạng lưới) các phương tiện truyền thông hướng tác động vào đông đảo công chúng xã hội (nhân dân các vùng miền, cả nước, khu vực hay cộng đồng quốc tế) để thông tin, chia sẻ, nhằm lôi kéo và tập hợp, giáo dục thuyết phục và tổ chức đông đảo công chúng xã hội và nhân dân nói chung tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội đã và đang đặt ra, bảo đảm phát triển bền vững.

Báo chí có vai trò chi phối, quyết định sức mạnh, tính chất và khuynh hướng của truyền thông đại chúng. Cho nên, trong nhiều trường hợp, người ta dùng thuật ngữ báo chí để chỉ các phương tiện truyền thông đại chúng; mặt khác, nói đến truyền thông đại chúng, trước hết là nói đến báo chí (hay giới truyền thông nói chung). Thông tin báo chí và thông tin trên các phương tiện truyền thông khác có sự khác biệt căn bản, nhưng giữa chúng có sự chia sẻ, phối hợp, kết nối để gia tăng sức tác động và sự lan tỏa trên diện rộng cũng như len lỏi vào công chúng xã hội theo nhóm nhỏ. Tuy nhiên trong môi trường truyền thông số và thực tế hiện nay, vai trò này của báo chí đang bị giảm dần, bởi công chúng xã hội có xu hướng ngày càng rời xa báo chí và gắn kết với mạng xã hội.

Truyền thông đại chúng có những đặc trưng nổi trội như: (i) Đối tượng tác động của truyền thông đại chúng là đông đảo công chúng xã hội - những quần thể dân cư không phân biệt trình độ, dân tộc, tôn giáo, đảng phái, tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp... Do đó, các sự kiện và vấn đề đăng tải trên truyền thông đại chúng luôn hướng tới việc ưu tiên thỏa mãn, phục vụ nhu cầu, mong đợi của công chúng xã hội và nhân dân; (ii) Truyền thông đại chúng có tính mục đích rõ rệt; (iii) Truyền thông đại chúng phong phú đa dạng và nhiều chiều, dễ nhớ, dễ hiểu và dễ làm theo; (iv) Truyền thông đại chúng có tính gián tiếp bởi hầu hết các kênh truyền thông đại chúng, trong quá trình chuyển tải thông điệp, không có sự tiếp xúc trực tiếp giữa chủ thể và khách thể mà dùng các phương tiện kỹ thuật làm vật trung gian truyền dẫn; (v) Một trong những nguyên lý của truyền thông là trong quá trình truyền thông, tần suất tương tác giữa chủ thể và khách thể càng nhiều, càng bình đẳng, càng nhiều người tham gia, thì năng lực và hiệu quả truyền thông càng cao.

1.2. Một số nguyên lý cơ bản trong truyền thông

- Quá trình truyền thông, mục tiêu chung hay các mục tiêu cụ thể của chiến lược, chiến dịch (hay kế hoạch) truyền thông, sau khi đã được thiết lập, cần phải được kiên trì và bảo đảm được thực hiện. Tuy nhiên, mục tiêu ấy phải được xây dựng bảo đảm tính thực tế.


- Quá trình truyền thông, tần suất tương tác càng dày và càng bình đẳng, công chúng càng tham gia tích cực, thì năng lực và hiệu quả truyền thông càng cao.

- Trong quá trình truyền thông, mục đích truyền thông, thông điệp đích và mong đợi của chủ thể càng gần gũi, có thể chia sẻ và phù hợp với công chúng - nhóm đối tượng tiếp nhận, thì năng lực và hiệu quả truyền thông càng cao.

1.3. Bản chất xã hội của truyền thông

Thứ nhất, truyền thông là phương tiện và phương thức thông tin, giao tiếp xã hội. Thông tin trong truyền thông chủ yếu là cung cấp sự kiện và vấn đề cụ thể, có ý nghĩa xã hội, thông qua đó chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm mà chủ thể và khách thể quan tâm hoặc liên quan đến mục đích truyền thông; thông qua đó làm cơ sở cho việc mở mang hiểu biết, thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi cho công chúng tiếp nhận và cho chủ thể truyền thông theo chủ định của nhà truyền thông và đáp ứng nhu cầu người tiếp nhận, công chúng. Do đó, truyền thông chú ý từ hai phía, cả chủ thể và khách thể truyền thông.

Giao tiếp trong truyền thông thể hiện ở các cấp độ khác nhau. Trước hết là giao tiếp liên cá nhân, giao tiếp gia đình, giao tiếp nhóm và giao tiếp đại chúng. Dù ở cấp độ nào, giao tiếp truyền thông cũng cần các điều kiện cần và đủ. Điều kiện cần là năng lực, trình độ, mục đích và phương tiện giao tiếp. Vấn đề này phụ thuộc vào trình độ phát triển xã hội về con người, văn hóa, kỹ thuật và công nghệ truyền thông, tạo cho cá nhân điều kiện phát triển và sự nhận thức về vai trò, vị thế xã hội cũng như nhu cầu truyền thông, giao tiếp xã hội. Điều kiện đủ là môi trường chính trị, văn hóa, xã hội của giao tiếp. Thực tiễn phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng, xã hội nào có chế độ chính trị ưu việt, đề cao con người và sức sáng tạo cá nhân, thiết lập được môi trường tự do dân chủ, bảo đảm tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tạo dựng được môi trường truyền thông để có thể phát huy nguồn lực con người, thì xã hội ấy phát triển nhanh và bền vững; ngược lại, sẽ là sự kìm hãm phát triển. Đáp ứng và tạo điều kiện phát triển nhu cầu thông tin, giao tiếp trong môi trường tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do truyền thông là tạo môi trường và động lực cho sự phát triển.

Thứ hai, truyền thông là phương tiện và phương thức liên kết (kết nối) xã hội. Thông qua các sự kiện và vấn đề có ý nghĩa xã hội đã và đang diễn ra thường xuyên liên tục nhất, rộng khắp nhất, truyền thông thông tin, giao tiếp xã hội với các nhóm xã hội; từ đó kết nối họ thành cộng đồng trên cơ sở mục đích vì sự phát triển và lợi ích chung. Do đó, có thể khẳng định rằng, truyền thông là phương tiện và phương thức liên kết xã hội hiệu quả nhất. Tùy theo dạng thức và cấp độ của loại hình truyền thông, mà mức độ liên kết xã hội khác nhau. Chẳng hạn, đơn thuần là truyền thông nội cá nhân cũng có thể biểu hiện tính liên kết của truyền thông. Ở đây, mỗi cá nhân thực hiện truyền thông nội cá nhân phụ thuộc vào điều kiện giao tiếp, trình độ, tư chất và năng lực tư duy. Tính chất liên kết ở truyền thông liên cá nhân, truyền thông nhóm và truyền thông đại chúng được thể hiện rõ rệt hơn.

Liên kết (kết nối) xã hội là phương thức thông qua các sự kiện, vấn đề thời sự để xã hội hóa nó; thông qua xã hội hóa sự kiện, vấn đề thời sự mà khơi nguồn nhận thức, kết nối, khai thác và phát huy nguồn lực sức mạnh mềm của cộng đồng và quốc gia hay khu vực, quốc tế nói chung. Do đó, phương tiện và phương thức kết nối xã hội của truyền thông là thường xuyên liên tục nhất, có khả năng kết nối xã hội to lớn trên phạm vi rộng lớn nhất; bao quát nhiều nhóm công chúng, đối tượng nhất; đa dạng, phong phú nhất, thiết thực và cụ thể nhất. Như vậy, không một phương tiện, phương thức nào có khả năng kết nối xã hội to lớn và hiệu quả như truyền thông.

Thứ ba, truyền thông là phương tiện và phương thức can thiệp xã hội. Mọi vấn đề xã hội đều do con người tạo ra và giải quyết, từ chính trị, kinh tế, văn hóa... Thông qua các phương tiện và dạng thức truyền thông, thông điệp truyền thông tác động vào nhận thức, thái độ và hành vi xã hội của đông đảo công chúng xã hội, giúp công chúng có thêm thông tin, hiểu biết, nhận thức để có thể giải quyết vấn đề hiệu quả hơn. Mặt khác, báo chí, truyền thông có khả năng dự báo, cảnh báo những rủi ro, khủng hoảng giúp hoạch định chính sách và tiên liệu phương cách giải quyết vấn đề bảo đảm phát triển bền vững. Truyền thông, đặc biệt là truyền thông đại chúng là phương tiện hữu hiệu trong giám sát và phản biện xã hội, phản ánh tâm tư, nguyện vọng và thể hiện sức mạnh xã hội của cộng đồng, thậm chí tạo nên áp lực xã hội bằng dư luận xã hội trong quá trình tìm kiếm các giải pháp tối ưu cho việc giải quyết, can thiệp các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội một cách hiệu quả.

2. Một số dạng thức truyền thông

Dạng thức, loại hình truyền thông là những khái niệm được dùng để khu biệt các mô hình, mô thức, cách thức tổ chức liên kết các yếu tố hoạt động truyền thông; nhờ đó, kế hoạch, hoạt động truyền thông được lập ra theo những tiêu chí nhất định và những tiêu chí này làm cơ sở cho hoạt động kiểm tra, giám sát và đánh giá kế hoạch hay chiến dịch truyền thông.

Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, sẽ có các cách phân loại khác nhau cho dạng thức hay loại hình truyền thông.

- Căn cứ vào kênh chuyển tải thông điệp có truyền thông trực tiếp và truyền thông gián tiếp và các dạng thức truyền thông khác nhau;

- Căn cứ vào mức độ phạm vi tác động, ảnh hưởng của truyền thông, có thể phân chia thành truyền thông nội cá nhân, truyền thông liên cá nhân, truyền thông nhóm và truyền thông đại chúng;

- Căn cứ vào mục đích và phương thức tổ chức hoạt động truyền thông, sẽ có các loại hình truyền thông: Thông tin - giáo dục - truyền thông; tuyên truyền; truyền thông thay đổi hành vi; truyền thông - vận động xã hội…

3. Vai trò của báo chí, truyền thông đại chúng

3.1. Chức năng thông tin - giao tiếp

Có thể nói rằng, thông tin - giao tiếp là chức năng khởi nguồn, chức năng cơ bản nhất của truyền thông đại chúng. Truyền thông đại chúng ra đời và phát triển, trước hết là nhằm thoả mãn ngày càng cao nhu cầu thông tin của con người và xã hội. Thông tin là nhu cầu sống còn, nhu cầu phát triển của con người và xã hội; đồng thời là động lực kích thích sự phát triển. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu thông tin càng cao. Trong quá trình đáp ứng nhu cầu ấy, bản thân truyền thông đại chúng cũng phát triển không ngừng. Điều đó giải thích tại sao trong quá trình đổi mới ở nước ta, báo chí, truyền thông phát triển từng ngày. Đồng thời có thể khẳng định, cuộc đấu tranh tư tưởng, chính trị, xã hội càng phức tạp, kinh tế thị trường càng phát triển thì tính chất thông tin cũng ngày càng đa dạng và phức tạp. Số lượng, chất lượng và tính chất các sản phẩm truyền thông phản ánh trình độ, diện mạo và tính chất thiết chế chính trị - xã hội.

Để việc thực hiện chức năng thông tin trên các kênh truyền thông đại chúng đạt hiệu quả cao, thì thông tin phải nhanh chóng, hợp thời, phong phú, đa dạng, trung thực; thông tin phải phù hợp với các quy tắc xã hội, các giá trị văn hoá và đạo lý của dân tộc; phù hợp với phát triển và phục vụ sự phát triển; thông tin cần phải phục vụ tiến trình phát triển kinh tế - xã hội.

3.2. Chức năng cung cấp kiến thức, mở rộng hiểu biết và giáo dục tư tưởng, cổ vũ hành động

Quá trình thực hiện chức năng thông tin cũng đồng thời là quá trình cung cấp kiến thức, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm trong cộng đồng xã hội, khu vực và trên phạm vi toàn cầu. Đó là quá trình cung cấp kiến thức, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ dân trí và góp phần cải thiện diện mạo văn hóa cộng đồng. Kiến thức, hiểu biết tạo tiền đề cho hoạt động giáo dục tư tưởng và cổ vũ hành động. Chỉ có trên cơ sở hệ kiến thức đa dạng, phong phú, nhiều chiều trên cả bề rộng lẫn chiều sâu, con người mới có thể có được nhận thức tư tưởng đúng đắn, khoa học, phù hợp với nhu cầu phát triển.

Tuyên truyền, thực chất là truyền bá hệ tư tưởng, làm cho hệ tư tưởng của giai cấp thông trị chiếm lĩnh trong đời sống tinh thần của tuyệt đại đa số nhân dân. Ở Việt Nam, tuyên truyền có thể được hiểu là truyền bá đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, làm cho nó thâm nhập và chiếm lĩnh trong nhận thức, thái độ và hành vi của các tầng lớp nhân dân. Tư tưởng là lĩnh vực rất khó nắm bắt, dễ biến động và liên hệ mật thiết với thực tiễn kinh tế - xã hội. Muốn tuyên truyền tư tưởng và gây dựng niềm tin cho đông đảo nhân dân, trước hết phải giải quyết tốt những vấn đề kinh tế - xã hội, thúc đẩy sự phát triển bền vững và chống tiêu cực, tham nhũng, làm trong sạch bộ máy công quyền, thông qua đó gây dựng niềm tin của nhân dân vào chế độ xã hội.

3.3. Chức năng khai sáng, giải trí

Các sản phẩm báo chí, truyền thông góp phần to lớn vào việc nâng cao dân trí, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc cũng như giao lưu, tiếp thu các tinh hoa văn hoá của các dân tộc trên thế giới phục vụ sự nghiệp phát triền đất nước, chấn hưng dân tộc. Số lượng và chất lượng các sản phẩm truyền thông cũng là một trong những tiêu chí đánh giá trình độ phát triển của một cộng đồng, một đất nước. Đồng thời, mức độ và khuynh hướng tiếp nhận sản phẩm truyền thông còn là tiêu chí đánh giá trình độ, diện mạo văn hóa của mỗi con người.

Báo chí và truyền thông đại chúng có thể và cần phải tác động, can thiệp vào các cấp độ của giáo dục, khai sáng theo những nội dung, cách thức phù hợp nhằm góp phần nâng cao dân trí, phát triển nguồn lực cho sự nghiệp phát triển đất nước. Mặt khác, truyền thông đại chúng cũng là kênh có nhiều ưu thế trong việc phổ biến các thành tựu khoa học - công nghệ, hướng dẫn cách thức áp dụng, triển khai và chuyển giao công nghệ. Truyền thông đại chúng còn là công cụ giám sát hữu hiệu trong việc bảo đảm mục tiêu, định hướng và hiệu quả công tác giáo dục đào tạo cũng như tập hợp nguồn lực xã hội tham gia giải quyết các vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển.

Truyền thông đại chúng còn là kênh tạo cơ hội cho đông đảo nhân dân tham gia giải trí, tức là tạo điều kiện, tổ chức và hướng dẫn công chúng sử dụng thời gian rỗi một cách hữu ích để cân bằng trạng thái tâm lý và tái sản xuất sức lao động.

3.4. Chức năng giám sát và phản biện xã hội

Giám sát là một trong những chức năng quan trọng hàng đầu của truyền thông đại chúng. Ở các nước phương Tây, chức năng này được đề cao với đầy đủ hành lang pháp lý, cho nên báo chí và truyền thông đại chúng được coi là quyền lực thứ tư, kiểm soát cả quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Phản biện xã hội có thể được hiểu là cách thức (hay phương thức) thể hiện, huy động nguồn lực trí tuệ và cảm xúc của đông đảo nhân dân vào việc góp ý kiến hoàn thiện các chủ trương, quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước, trong quá trình giải quyết các vấn đề lớn, liên quan đến sự phát triển của cộng đồng.

Ở Việt Nam, Nghị quyết Trung ương 6 (lần hai) khóa VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã ghi nhận, khẳng định báo chí và truyền thông đại chúng là một trong bốn hệ thống giám sát xã hội. Đây là bước phát triển quan trọng về lý luận, nhận thức của Đảng về vai trò xã hội của báo chí và truyền thông đại chúng.

Giám sát xã hội của báo chí, truyền thông đại chúng là giám sát chủ yếu bằng tai mắt của nhân dân, giám sát bằng dư luận xã hội. Đó là quá trình giám sát mọi nơi, mọi lúc. Chức năng giám sát xã hội của báo chí, truyền thông đại chúng trong quá trình thực hiện chủ trương chính sách, luật pháp là để kịp thời phát hiện những nơi làm đúng, làm hay để biểu dương khích lệ và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn; đồng thời cũng để sớm phát hiện những “trục trặc”, những nơi làm dở, làm sai, những nơi vi phạm chủ trương, chính sách và luật pháp để đấu tranh. Vai trò và sức mạnh giám sát xã hội của truyền thông đại chúng trước hết là xã hội hóa những việc tốt và những sai phạm của tổ các chức hoặc cá nhân nào đó để khơi nguồn và định hướng dư luận xã hội theo hướng ủng hộ hoặc chỉ trích, tạo áp lực dư luận và buộc các cơ quan công quyền giải quyết, giải thích và giải đáp trước nhân dân, trước công luận.

3.5. Chức năng kinh tế - dịch vụ xã hội

Sản phẩm truyền thông đại chúng có thể được sản xuất, chuyển tải qua nhiều kênh khác nhau, với những mục đích và ý đồ cụ thể, với những phương thức khác nhau. Có loại sản phẩm được sản xuất phục vụ mục đích chính trị, quảng bá; có loại được sản xuất đáp ứng nhu cầu xã hội, thị trường trên cơ sở bảo đảm yêu cầu chính trị và chuẩn mực văn hóa, được lưu thông và hạch toán như sản phẩm hàng hóa theo thị trường cung - cầu. Do đó, sản phẩm truyền thông đại chúng vừa phục vụ yêu cầu chính trị - xã hội trong từng thời điểm cụ thể, nhưng cần chú ý nó là sản phẩm hàng hóa với những đặc thù riêng có. Trong nền kinh tế thị trường nước ta, với sự phát triển của truyền thông đại chúng, đã và đang hình thành nền công nghiệp giải trí.

Trong môi trường truyền thông số và hội nhập quốc tế, cùng với quá trình toàn cầu hóa, báo chí và truyền thông nói chung có vai trò ngày càng to lớn; sức mạnh chi phối và can thiệp của nó vào các quá trình xã hội ngày càng gia tăng. Báo chí và truyền thông là một thiết chế xã hội đặc thù, có tính độc lập nhưng gắn chặt với hệ thống chính trị và quyền lực chính trị. Nó có vai trò đa dạng, phong phú, với bản chất là phương tiện và phương thức thông tin, giao tiếp, kết nối và can thiệp xã hội. Vấn đề phát huy, huy động sức mạnh và nguồn tài nguyên của thông tin báo chí, truyền thông như thế nào tùy thuộc vào quan niệm, quan điểm và chính sách cụ thể. Nhưng cần thống nhất nhận thức rằng, báo chí, truyền thông không chỉ là công cụ tuyên truyền chính trị, nó còn là thiết chế xã hội và có vai trò xã hội rộng lớn, đa dạng, phù hợp với nhu cầu công chúng và phát triển khách quan của xã hội.

Nhóm nghiên cứu Đề tài
(Bài viết là sản phẩm của Đề tài khoa học cấp Bộ
"Tăng cường vai trò của thiết chế truyền thông trong bảo vệ quyền con người và quyền công dân ở Việt Nam").

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: