Thứ sáu 20/03/2026 12:32
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề lý luận về thiết chế truyền thông

Truyền thông là hiện tượng xã hội phổ biến, có vai trò rất quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, tác động và chi phối đến mọi lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Nó ra đời cùng với quá trình xuất hiện và phát triển của xã hội loài người.

Truyền thông là hiện tượng xã hội phổ biến, có vai trò rất quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, tác động và chi phối đến mọi lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Nó ra đời cùng với quá trình xuất hiện và phát triển của xã hội loài người. Hoạt động truyền thông bao gồm nhiều cấp độ và với các dạng thức hết sức đa dạng, phong phú, từ việc giao tiếp cá nhân với những mục đích cá nhân thuần túy - ở đây chủ yếu hình thành kỹ năng giao tiếp nội cá nhân, liên cá nhân mà vai trò chi phối chủ yếu là môi trường giao tiếp, môi trường văn hóa gia đình - xã hội và tính chủ động của mỗi người, đến việc nhận thức được một cách tự giác các hoạt động giao tiếp - truyền thông và sử dụng nó vào việc giải quyết các vấn đề liên quan đến cộng đồng - ở đây cần sự hiểu biết một cách hệ thống các lý thuyết và kỹ năng chuyên nghiệp...

1. Bản chất xã hội của truyền thông

1.1. Khái niệm về truyền thông

Truyền thông có gốc từ tiếng Latinh là “communicare”, nghĩa là biến nó thành thông thường, chia sẻ, truyền tải. Truyền thông thường được mô tả như việc truyền ý nghĩ, thông tin, ý tưởng, ý kiến hoặc kiến thức từ một người/một nhóm người sang một người/hoặc một nhóm người khác bằng lời nói, hình ảnh, văn bản hoặc tín hiệu. Về thực chất, đó chính là quá trình trao đổi, tương tác thông tin với nhau về các vấn đề của đời sống cá nhân/nhóm/xã hội, từ đó tăng vốn hiểu biết chung, hình thành hoặc thay đổi nhận thức, thái độ, chuyển đổi hành vi cá nhân/nhóm/xã hội.

Những quan niệm trên đây có những khác biệt đáng kể do hoàn cảnh và điều kiện ứng dụng cho giao tiếp, nhưng có thể thấy hiểu một cách chung nhất truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm…, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, tiến tới thay đổi nhận thức, điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/nhóm/cộng đồng/xã hội.

Trong các loại hình và dạng thức truyền thông, cần chú ý truyền thông đại chúng. Truyền thông đại chúng là những kênh truyền thông hướng tác động vào đông đảo công chúng; nó có vai trò quyết định sức mạnh, tính chất và khuynh hướng của nền truyền thông. Trong truyền thông đại chúng, báo chí với các loại hình báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử là những kênh truyền thông có vai trò nền tảng, vị trí trung tâm và ý nghĩa quyết định đối với truyền thông nói chung. Bởi vì, truyền thông đại chúng có thể được hiểu là hệ thống (hoặc mạng lưới) các phương tiện truyền thông hướng tác động vào đông đảo công chúng xã hội (nhân dân các vùng miền, cả nước, khu vực hay cộng đồng quốc tế) để thông tin, chia sẻ, nhằm lôi kéo và tập hợp, giáo dục thuyết phục và tổ chức đông đảo công chúng xã hội và nhân dân nói chung tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội đã và đang đặt ra, bảo đảm phát triển bền vững.

Báo chí có vai trò chi phối, quyết định sức mạnh, tính chất và khuynh hướng của truyền thông đại chúng. Cho nên, trong nhiều trường hợp, người ta dùng thuật ngữ báo chí để chỉ các phương tiện truyền thông đại chúng; mặt khác, nói đến truyền thông đại chúng, trước hết là nói đến báo chí (hay giới truyền thông nói chung). Thông tin báo chí và thông tin trên các phương tiện truyền thông khác có sự khác biệt căn bản, nhưng giữa chúng có sự chia sẻ, phối hợp, kết nối để gia tăng sức tác động và sự lan tỏa trên diện rộng cũng như len lỏi vào công chúng xã hội theo nhóm nhỏ. Tuy nhiên trong môi trường truyền thông số và thực tế hiện nay, vai trò này của báo chí đang bị giảm dần, bởi công chúng xã hội có xu hướng ngày càng rời xa báo chí và gắn kết với mạng xã hội.

Truyền thông đại chúng có những đặc trưng nổi trội như: (i) Đối tượng tác động của truyền thông đại chúng là đông đảo công chúng xã hội - những quần thể dân cư không phân biệt trình độ, dân tộc, tôn giáo, đảng phái, tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp... Do đó, các sự kiện và vấn đề đăng tải trên truyền thông đại chúng luôn hướng tới việc ưu tiên thỏa mãn, phục vụ nhu cầu, mong đợi của công chúng xã hội và nhân dân; (ii) Truyền thông đại chúng có tính mục đích rõ rệt; (iii) Truyền thông đại chúng phong phú đa dạng và nhiều chiều, dễ nhớ, dễ hiểu và dễ làm theo; (iv) Truyền thông đại chúng có tính gián tiếp bởi hầu hết các kênh truyền thông đại chúng, trong quá trình chuyển tải thông điệp, không có sự tiếp xúc trực tiếp giữa chủ thể và khách thể mà dùng các phương tiện kỹ thuật làm vật trung gian truyền dẫn; (v) Một trong những nguyên lý của truyền thông là trong quá trình truyền thông, tần suất tương tác giữa chủ thể và khách thể càng nhiều, càng bình đẳng, càng nhiều người tham gia, thì năng lực và hiệu quả truyền thông càng cao.

1.2. Một số nguyên lý cơ bản trong truyền thông

- Quá trình truyền thông, mục tiêu chung hay các mục tiêu cụ thể của chiến lược, chiến dịch (hay kế hoạch) truyền thông, sau khi đã được thiết lập, cần phải được kiên trì và bảo đảm được thực hiện. Tuy nhiên, mục tiêu ấy phải được xây dựng bảo đảm tính thực tế.


- Quá trình truyền thông, tần suất tương tác càng dày và càng bình đẳng, công chúng càng tham gia tích cực, thì năng lực và hiệu quả truyền thông càng cao.

- Trong quá trình truyền thông, mục đích truyền thông, thông điệp đích và mong đợi của chủ thể càng gần gũi, có thể chia sẻ và phù hợp với công chúng - nhóm đối tượng tiếp nhận, thì năng lực và hiệu quả truyền thông càng cao.

1.3. Bản chất xã hội của truyền thông

Thứ nhất, truyền thông là phương tiện và phương thức thông tin, giao tiếp xã hội. Thông tin trong truyền thông chủ yếu là cung cấp sự kiện và vấn đề cụ thể, có ý nghĩa xã hội, thông qua đó chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm mà chủ thể và khách thể quan tâm hoặc liên quan đến mục đích truyền thông; thông qua đó làm cơ sở cho việc mở mang hiểu biết, thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi cho công chúng tiếp nhận và cho chủ thể truyền thông theo chủ định của nhà truyền thông và đáp ứng nhu cầu người tiếp nhận, công chúng. Do đó, truyền thông chú ý từ hai phía, cả chủ thể và khách thể truyền thông.

Giao tiếp trong truyền thông thể hiện ở các cấp độ khác nhau. Trước hết là giao tiếp liên cá nhân, giao tiếp gia đình, giao tiếp nhóm và giao tiếp đại chúng. Dù ở cấp độ nào, giao tiếp truyền thông cũng cần các điều kiện cần và đủ. Điều kiện cần là năng lực, trình độ, mục đích và phương tiện giao tiếp. Vấn đề này phụ thuộc vào trình độ phát triển xã hội về con người, văn hóa, kỹ thuật và công nghệ truyền thông, tạo cho cá nhân điều kiện phát triển và sự nhận thức về vai trò, vị thế xã hội cũng như nhu cầu truyền thông, giao tiếp xã hội. Điều kiện đủ là môi trường chính trị, văn hóa, xã hội của giao tiếp. Thực tiễn phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng, xã hội nào có chế độ chính trị ưu việt, đề cao con người và sức sáng tạo cá nhân, thiết lập được môi trường tự do dân chủ, bảo đảm tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tạo dựng được môi trường truyền thông để có thể phát huy nguồn lực con người, thì xã hội ấy phát triển nhanh và bền vững; ngược lại, sẽ là sự kìm hãm phát triển. Đáp ứng và tạo điều kiện phát triển nhu cầu thông tin, giao tiếp trong môi trường tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do truyền thông là tạo môi trường và động lực cho sự phát triển.

Thứ hai, truyền thông là phương tiện và phương thức liên kết (kết nối) xã hội. Thông qua các sự kiện và vấn đề có ý nghĩa xã hội đã và đang diễn ra thường xuyên liên tục nhất, rộng khắp nhất, truyền thông thông tin, giao tiếp xã hội với các nhóm xã hội; từ đó kết nối họ thành cộng đồng trên cơ sở mục đích vì sự phát triển và lợi ích chung. Do đó, có thể khẳng định rằng, truyền thông là phương tiện và phương thức liên kết xã hội hiệu quả nhất. Tùy theo dạng thức và cấp độ của loại hình truyền thông, mà mức độ liên kết xã hội khác nhau. Chẳng hạn, đơn thuần là truyền thông nội cá nhân cũng có thể biểu hiện tính liên kết của truyền thông. Ở đây, mỗi cá nhân thực hiện truyền thông nội cá nhân phụ thuộc vào điều kiện giao tiếp, trình độ, tư chất và năng lực tư duy. Tính chất liên kết ở truyền thông liên cá nhân, truyền thông nhóm và truyền thông đại chúng được thể hiện rõ rệt hơn.

Liên kết (kết nối) xã hội là phương thức thông qua các sự kiện, vấn đề thời sự để xã hội hóa nó; thông qua xã hội hóa sự kiện, vấn đề thời sự mà khơi nguồn nhận thức, kết nối, khai thác và phát huy nguồn lực sức mạnh mềm của cộng đồng và quốc gia hay khu vực, quốc tế nói chung. Do đó, phương tiện và phương thức kết nối xã hội của truyền thông là thường xuyên liên tục nhất, có khả năng kết nối xã hội to lớn trên phạm vi rộng lớn nhất; bao quát nhiều nhóm công chúng, đối tượng nhất; đa dạng, phong phú nhất, thiết thực và cụ thể nhất. Như vậy, không một phương tiện, phương thức nào có khả năng kết nối xã hội to lớn và hiệu quả như truyền thông.

Thứ ba, truyền thông là phương tiện và phương thức can thiệp xã hội. Mọi vấn đề xã hội đều do con người tạo ra và giải quyết, từ chính trị, kinh tế, văn hóa... Thông qua các phương tiện và dạng thức truyền thông, thông điệp truyền thông tác động vào nhận thức, thái độ và hành vi xã hội của đông đảo công chúng xã hội, giúp công chúng có thêm thông tin, hiểu biết, nhận thức để có thể giải quyết vấn đề hiệu quả hơn. Mặt khác, báo chí, truyền thông có khả năng dự báo, cảnh báo những rủi ro, khủng hoảng giúp hoạch định chính sách và tiên liệu phương cách giải quyết vấn đề bảo đảm phát triển bền vững. Truyền thông, đặc biệt là truyền thông đại chúng là phương tiện hữu hiệu trong giám sát và phản biện xã hội, phản ánh tâm tư, nguyện vọng và thể hiện sức mạnh xã hội của cộng đồng, thậm chí tạo nên áp lực xã hội bằng dư luận xã hội trong quá trình tìm kiếm các giải pháp tối ưu cho việc giải quyết, can thiệp các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội một cách hiệu quả.

2. Một số dạng thức truyền thông

Dạng thức, loại hình truyền thông là những khái niệm được dùng để khu biệt các mô hình, mô thức, cách thức tổ chức liên kết các yếu tố hoạt động truyền thông; nhờ đó, kế hoạch, hoạt động truyền thông được lập ra theo những tiêu chí nhất định và những tiêu chí này làm cơ sở cho hoạt động kiểm tra, giám sát và đánh giá kế hoạch hay chiến dịch truyền thông.

Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, sẽ có các cách phân loại khác nhau cho dạng thức hay loại hình truyền thông.

- Căn cứ vào kênh chuyển tải thông điệp có truyền thông trực tiếp và truyền thông gián tiếp và các dạng thức truyền thông khác nhau;

- Căn cứ vào mức độ phạm vi tác động, ảnh hưởng của truyền thông, có thể phân chia thành truyền thông nội cá nhân, truyền thông liên cá nhân, truyền thông nhóm và truyền thông đại chúng;

- Căn cứ vào mục đích và phương thức tổ chức hoạt động truyền thông, sẽ có các loại hình truyền thông: Thông tin - giáo dục - truyền thông; tuyên truyền; truyền thông thay đổi hành vi; truyền thông - vận động xã hội…

3. Vai trò của báo chí, truyền thông đại chúng

3.1. Chức năng thông tin - giao tiếp

Có thể nói rằng, thông tin - giao tiếp là chức năng khởi nguồn, chức năng cơ bản nhất của truyền thông đại chúng. Truyền thông đại chúng ra đời và phát triển, trước hết là nhằm thoả mãn ngày càng cao nhu cầu thông tin của con người và xã hội. Thông tin là nhu cầu sống còn, nhu cầu phát triển của con người và xã hội; đồng thời là động lực kích thích sự phát triển. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu thông tin càng cao. Trong quá trình đáp ứng nhu cầu ấy, bản thân truyền thông đại chúng cũng phát triển không ngừng. Điều đó giải thích tại sao trong quá trình đổi mới ở nước ta, báo chí, truyền thông phát triển từng ngày. Đồng thời có thể khẳng định, cuộc đấu tranh tư tưởng, chính trị, xã hội càng phức tạp, kinh tế thị trường càng phát triển thì tính chất thông tin cũng ngày càng đa dạng và phức tạp. Số lượng, chất lượng và tính chất các sản phẩm truyền thông phản ánh trình độ, diện mạo và tính chất thiết chế chính trị - xã hội.

Để việc thực hiện chức năng thông tin trên các kênh truyền thông đại chúng đạt hiệu quả cao, thì thông tin phải nhanh chóng, hợp thời, phong phú, đa dạng, trung thực; thông tin phải phù hợp với các quy tắc xã hội, các giá trị văn hoá và đạo lý của dân tộc; phù hợp với phát triển và phục vụ sự phát triển; thông tin cần phải phục vụ tiến trình phát triển kinh tế - xã hội.

3.2. Chức năng cung cấp kiến thức, mở rộng hiểu biết và giáo dục tư tưởng, cổ vũ hành động

Quá trình thực hiện chức năng thông tin cũng đồng thời là quá trình cung cấp kiến thức, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm trong cộng đồng xã hội, khu vực và trên phạm vi toàn cầu. Đó là quá trình cung cấp kiến thức, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ dân trí và góp phần cải thiện diện mạo văn hóa cộng đồng. Kiến thức, hiểu biết tạo tiền đề cho hoạt động giáo dục tư tưởng và cổ vũ hành động. Chỉ có trên cơ sở hệ kiến thức đa dạng, phong phú, nhiều chiều trên cả bề rộng lẫn chiều sâu, con người mới có thể có được nhận thức tư tưởng đúng đắn, khoa học, phù hợp với nhu cầu phát triển.

Tuyên truyền, thực chất là truyền bá hệ tư tưởng, làm cho hệ tư tưởng của giai cấp thông trị chiếm lĩnh trong đời sống tinh thần của tuyệt đại đa số nhân dân. Ở Việt Nam, tuyên truyền có thể được hiểu là truyền bá đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, làm cho nó thâm nhập và chiếm lĩnh trong nhận thức, thái độ và hành vi của các tầng lớp nhân dân. Tư tưởng là lĩnh vực rất khó nắm bắt, dễ biến động và liên hệ mật thiết với thực tiễn kinh tế - xã hội. Muốn tuyên truyền tư tưởng và gây dựng niềm tin cho đông đảo nhân dân, trước hết phải giải quyết tốt những vấn đề kinh tế - xã hội, thúc đẩy sự phát triển bền vững và chống tiêu cực, tham nhũng, làm trong sạch bộ máy công quyền, thông qua đó gây dựng niềm tin của nhân dân vào chế độ xã hội.

3.3. Chức năng khai sáng, giải trí

Các sản phẩm báo chí, truyền thông góp phần to lớn vào việc nâng cao dân trí, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc cũng như giao lưu, tiếp thu các tinh hoa văn hoá của các dân tộc trên thế giới phục vụ sự nghiệp phát triền đất nước, chấn hưng dân tộc. Số lượng và chất lượng các sản phẩm truyền thông cũng là một trong những tiêu chí đánh giá trình độ phát triển của một cộng đồng, một đất nước. Đồng thời, mức độ và khuynh hướng tiếp nhận sản phẩm truyền thông còn là tiêu chí đánh giá trình độ, diện mạo văn hóa của mỗi con người.

Báo chí và truyền thông đại chúng có thể và cần phải tác động, can thiệp vào các cấp độ của giáo dục, khai sáng theo những nội dung, cách thức phù hợp nhằm góp phần nâng cao dân trí, phát triển nguồn lực cho sự nghiệp phát triển đất nước. Mặt khác, truyền thông đại chúng cũng là kênh có nhiều ưu thế trong việc phổ biến các thành tựu khoa học - công nghệ, hướng dẫn cách thức áp dụng, triển khai và chuyển giao công nghệ. Truyền thông đại chúng còn là công cụ giám sát hữu hiệu trong việc bảo đảm mục tiêu, định hướng và hiệu quả công tác giáo dục đào tạo cũng như tập hợp nguồn lực xã hội tham gia giải quyết các vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển.

Truyền thông đại chúng còn là kênh tạo cơ hội cho đông đảo nhân dân tham gia giải trí, tức là tạo điều kiện, tổ chức và hướng dẫn công chúng sử dụng thời gian rỗi một cách hữu ích để cân bằng trạng thái tâm lý và tái sản xuất sức lao động.

3.4. Chức năng giám sát và phản biện xã hội

Giám sát là một trong những chức năng quan trọng hàng đầu của truyền thông đại chúng. Ở các nước phương Tây, chức năng này được đề cao với đầy đủ hành lang pháp lý, cho nên báo chí và truyền thông đại chúng được coi là quyền lực thứ tư, kiểm soát cả quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Phản biện xã hội có thể được hiểu là cách thức (hay phương thức) thể hiện, huy động nguồn lực trí tuệ và cảm xúc của đông đảo nhân dân vào việc góp ý kiến hoàn thiện các chủ trương, quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước, trong quá trình giải quyết các vấn đề lớn, liên quan đến sự phát triển của cộng đồng.

Ở Việt Nam, Nghị quyết Trung ương 6 (lần hai) khóa VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã ghi nhận, khẳng định báo chí và truyền thông đại chúng là một trong bốn hệ thống giám sát xã hội. Đây là bước phát triển quan trọng về lý luận, nhận thức của Đảng về vai trò xã hội của báo chí và truyền thông đại chúng.

Giám sát xã hội của báo chí, truyền thông đại chúng là giám sát chủ yếu bằng tai mắt của nhân dân, giám sát bằng dư luận xã hội. Đó là quá trình giám sát mọi nơi, mọi lúc. Chức năng giám sát xã hội của báo chí, truyền thông đại chúng trong quá trình thực hiện chủ trương chính sách, luật pháp là để kịp thời phát hiện những nơi làm đúng, làm hay để biểu dương khích lệ và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn; đồng thời cũng để sớm phát hiện những “trục trặc”, những nơi làm dở, làm sai, những nơi vi phạm chủ trương, chính sách và luật pháp để đấu tranh. Vai trò và sức mạnh giám sát xã hội của truyền thông đại chúng trước hết là xã hội hóa những việc tốt và những sai phạm của tổ các chức hoặc cá nhân nào đó để khơi nguồn và định hướng dư luận xã hội theo hướng ủng hộ hoặc chỉ trích, tạo áp lực dư luận và buộc các cơ quan công quyền giải quyết, giải thích và giải đáp trước nhân dân, trước công luận.

3.5. Chức năng kinh tế - dịch vụ xã hội

Sản phẩm truyền thông đại chúng có thể được sản xuất, chuyển tải qua nhiều kênh khác nhau, với những mục đích và ý đồ cụ thể, với những phương thức khác nhau. Có loại sản phẩm được sản xuất phục vụ mục đích chính trị, quảng bá; có loại được sản xuất đáp ứng nhu cầu xã hội, thị trường trên cơ sở bảo đảm yêu cầu chính trị và chuẩn mực văn hóa, được lưu thông và hạch toán như sản phẩm hàng hóa theo thị trường cung - cầu. Do đó, sản phẩm truyền thông đại chúng vừa phục vụ yêu cầu chính trị - xã hội trong từng thời điểm cụ thể, nhưng cần chú ý nó là sản phẩm hàng hóa với những đặc thù riêng có. Trong nền kinh tế thị trường nước ta, với sự phát triển của truyền thông đại chúng, đã và đang hình thành nền công nghiệp giải trí.

Trong môi trường truyền thông số và hội nhập quốc tế, cùng với quá trình toàn cầu hóa, báo chí và truyền thông nói chung có vai trò ngày càng to lớn; sức mạnh chi phối và can thiệp của nó vào các quá trình xã hội ngày càng gia tăng. Báo chí và truyền thông là một thiết chế xã hội đặc thù, có tính độc lập nhưng gắn chặt với hệ thống chính trị và quyền lực chính trị. Nó có vai trò đa dạng, phong phú, với bản chất là phương tiện và phương thức thông tin, giao tiếp, kết nối và can thiệp xã hội. Vấn đề phát huy, huy động sức mạnh và nguồn tài nguyên của thông tin báo chí, truyền thông như thế nào tùy thuộc vào quan niệm, quan điểm và chính sách cụ thể. Nhưng cần thống nhất nhận thức rằng, báo chí, truyền thông không chỉ là công cụ tuyên truyền chính trị, nó còn là thiết chế xã hội và có vai trò xã hội rộng lớn, đa dạng, phù hợp với nhu cầu công chúng và phát triển khách quan của xã hội.

Nhóm nghiên cứu Đề tài
(Bài viết là sản phẩm của Đề tài khoa học cấp Bộ
"Tăng cường vai trò của thiết chế truyền thông trong bảo vệ quyền con người và quyền công dân ở Việt Nam").

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: