Thứ bảy 24/10/2026 11:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề pháp lý khi nhà đầu tư tham gia tái cơ cấu tổ chức tín dụng có vốn của Nhà nước bị kiểm soát đặc biệt

Tóm tắt: Bài viết đề cập đến sự cần thiết, nội dung của tái cơ cấu tổ chức tín dụng có vốn nhà nước bị kiểm soát đặc biệt và một số khuyến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này

Tóm tắt: Bài viết đề cập đến sự cần thiết, nội dung của tái cơ cấu tổ chức tín dụng có vốn nhà nước bị kiểm soát đặc biệt và một số khuyến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

Abstract: The article deals with the necessity, the content of the restructuring of state-owned credit institutions under special control and some recommendations to the law improvement on this issue.

1. Vì sao phải tái cơ cấu tổ chức tín dụng bị kiểm soát đặc biệt

Khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2007 gây đổ vỡ nhiều định chế tài chính, ngân hàng đẩy kinh tế khu vực và kinh tế thế giới vào suy thoái, từ đó ảnh hưởng lớn đến thương mại, đầu tư quốc tế và tăng trưởng kinh tế trong nước; kinh tế vĩ mô diễn biến bất ổn, thị trường bất động sản, chứng khoán sụt giảm mạnh tác động bất lợi cho hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) Việt Nam. Đặc biệt, vào cuối năm 2011, thanh khoản căng thẳng, một bộ phận không nhỏ các TCTD trong trạng thái mất khả năng chi trả, tiềm ẩn rủi ro rất cao, có nguy cơ đổ vỡ gây mất an toàn hệ thống, thị trường tiền tệ bất ổn, cạnh tranh huy động vốn giữa các TCTD gay gắt, thiếu lành mạnh, có những thời điểm tỷ lệ tín dụng trên huy động vốn lên tới 103,07%[1]. Trước bối cảnh như vậy, đặt ra mục tiêu cấp bách cần thực hiện là tái cơ cấu, xử lý TCTD yếu kém và xử lý nợ xấu của hệ thống TCTD để đảm bảo an toàn, hiệu quả hoạt động của toàn hệ thống.

Theo Điều 130 và Điều 145 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) (sau đây gọi tắt là Luật Các tổ chức tín dụng), một TCTD được xem xét đặt vào kiểm soát đặc biệt khi lâm vào một trong các trường hợp là mất, có nguy cơ mất khả năng chi trả hoặc mất, có nguy cơ mất khả năng thanh toán theo quy định của Ngân hàng Nhà nước; hoặc số lỗ lũy kế của tổ chức tín dụng lớn hơn 50% giá trị của vốn điều lệ và các quỹ dự trữ ghi trong báo cáo tài chính đã được kiểm toán gần nhất; hoặc không duy trì được tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8% hoặc tỷ lệ cao hơn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước trong từng thời kỳ trong thời gian 12 tháng liên tục hoặc tỷ lệ an toàn vốn thấp hơn 4% trong thời gian 06 tháng liên tục; hoặc xếp hạng yếu kém trong 02 năm liên tục theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Khi bị kiểm soát đặc biệt, TCTD sẽ bị đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước. Các phương án cơ cấu lại TCTD được kiểm soát đặc biệt bao gồm: Phương án phục hồi; phương án sáp nhập, hợp nhất, chuyển nhượng toàn bộ cổ phần, phần vốn góp; phương án giải thể; phương án chuyển giao bắt buộc; phương án phá sản.

2. Nội dung tái cơ cấu và nhà đầu tư tham gia tái cơ cấu tổ chức tín dụng bị kiểm soát đặc biệt

Sau khi có sự rà soát, phân loại của Ngân hàng Nhà nước, số lượng các TCTD có quy mô nhỏ, hoạt động yếu kém đã giảm dần, từ cuối năm 2011, số lượng các TCTD đã giảm khoảng 22 tổ chức gồm 07 ngân hàng thương mại trong nước, 03 ngân hàng liên doanh, 04 TCTD phi ngân hàng và 08 chi nhánh ngân hàng nước ngoài[2]. Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn còn những TCTD yếu kém được Ngân hàng Nhà nước mua lại bắt buộc (03 ngân hàng thương mại) và kiểm soát đặt biệt (01 TCTD phi ngân hàng). Quy mô nợ xấu và tài sản không sinh lời của các TCTD này ở mức cao. Việc xử lý nợ xấu, thu hồi tài sản không sinh lời rất khó khăn, chưa đạt được kết quả đáng kể.

Điều 148b Luật Các tổ chức tín dụng đã quy định một số biện pháp hỗ trợ thực hiện phương án phục hồi như bán nợ xấu có hoặc không có tài sản bảo đảm cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC); vay đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (Quỹ dự phòng nghiệp vụ) Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân) và các TCTD khác; mua, đầu tư hệ thống công nghệ thông tin vượt tỷ lệ 50% trên vốn điều lệ và các quỹ dự trữ vốn điều lệ…

Tuy nhiên, theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam[3], trong điều kiện ngân sách nhà nước không có nguồn lực dành cho việc tái cơ cấu TCTD yếu kém, Ngân hàng Nhà nước và các đơn vị hỗ trợ theo quyết định của Ngân hàng Nhà nước sẽ cấp vốn chủ yếu nhằm cung ứng vốn ngắn hạn (có thể được gia hạn)[4].

Để mở rộng thêm các giải pháp, ngày 19/7/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1058/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 - 2020”. Một trong những giải pháp trọng tâm là khuyến khích nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia xử lý TCTD yếu kém[5]. Khi tham gia tái cơ cấu TCTD yếu kém, bị kiểm soát đặc biệt, các nhà đầu tư sẽ không phải là bên cho vay cấp các khoản vay đặc biệt như Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức trong nước khác mà họ sẽ tham gia với tư cách của các nhà đầu tư mua cổ phần, vốn góp của TCTD được kiểm soát đặc biệt. Sự tham gia của nhà đầu tư sẽ mang tính chất dài hạn vì họ sẽ trực tiếp đồng hành cùng với TCTD, tham gia quản lý, điều hành TCTD thông qua những người đại diện tại các cơ quan quản lý của TCTD như Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Ban điều hành, Ban kiểm soát. Đây rõ ràng là một nguồn lực tài chính cần thiết và nên được đẩy mạnh để hỗ trợ quá trình tái cơ cấu TCTD tại Việt Nam.

3. Một số khuyến nghị hoàn thiện pháp luật về tái cơ cấu tổ chức tín dụng có vốn nhà nước bị kiểm soát đặc biệt

Thứ nhất, phương án chuyển nhượng toàn bộ cổ phần, phần vốn góp của các TCTD bị kiểm soát đặc biệt có phần vốn của doanh nghiệp nhà nước sẽ được trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trước hay sau quá trình đấu giá phần vốn của doanh nghiệp nhà nước

Hiện một số TCTD được kiểm soát đặc biệt vẫn đang có vốn của các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là tại các TCTD phi ngân hàng (tiền thân là công ty trực thuộc doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò một đơn vị đầu tư trong nội bộ công ty mẹ như thu xếp các khoản cho vay, quản lý nguồn tiền mặt và tình hình tiền mặt, quản lý đầu tư các khoản tiền chưa sử dụng đến cho các công ty con trong nội bộ)[6]. Trong trường hợp chuyển nhượng toàn bộ vốn điều lệ của TCTD được kiểm soát đặc biệt thì phần vốn của các doanh nghiệp nhà nước vẫn phải thực hiện theo các quy định liên quan đến quản lý vốn nhà nước. Tuy nhiên, hiện nay chưa có sự kết nối rõ ràng giữa các quy định của Luật Các tổ chức tín dụng với Luật Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014 khiến cho các nhà đầu tư tham gia nhận chuyển nhượng vốn tại các TCTD bị kiểm soát đặc biệt không dự kiến được kế hoạch cụ thể cho lộ trình nhận chuyển nhượng toàn bộ vốn điều lệ.

Theo quy định tại Điều 149 và Điều 149b Luật Các tổ chức tín dụng, khi xây dựng phương án chuyển nhượng toàn bộ vốn điều lệ, TCTD phải xác định được nhà đầu tư dự kiến nhận chuyển nhượng toàn bộ cổ phần, vốn góp. Theo Điều 29a Nghị định số 32/2018/NĐ-CP ngày 08/3/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 91/2015/NĐ-CP ngày 13/10/2015 về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp, khi chuyển nhượng vốn tại công ty cổ phần đã niêm yết hoặc đăng ký giao dịch trên thị trường chứng khoán nhưng không thực hiện trên sàn giao dịch chứng khoán hoặc các công ty cổ phần chưa niêm yết hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn thì phương thức đấu giá công khai phải được thực hiện trước tiên. Tuy nhiên, quá trình đấu giá sẽ không phải để xác định nhà đầu tư dự kiến mà sẽ là chuyển nhượng chính thức và chuyển quyền sở hữu cổ phần, vốn góp chính thức từ doanh nghiệp nhà nước cho nhà đầu tư thắng trong đấu giá. Theo đó, trước khi có chấp thuận phương án chuyển nhượng của Thủ tướng Chính phủ thì không thể chuyển nhượng chính thức, nghĩa là doanh nghiệp nhà nước không được tiến hành đấu giá. Nhưng không tiến hành đấu giá thì cũng sẽ không có thông tin về nhà đầu tư để trình Thủ tướng Chính phủ trong phương án chuyển nhượng.

Các quy định này nên được quy định rõ hơn trong: (i) Luật Các tổ chức tín dụng, cụ thể là sau khi có quyết định chấp thuận chủ trương chuyển nhượng toàn bộ vốn điều lệ của Thủ tướng Chính phủ thì các cổ đông, thành viên là doanh nghiệp nhà nước có thể tiến hành đấu giá để lựa chọn nhà đầu tư nhận chuyển nhượng; (ii) Nghị định số 32/2018/NĐ-CP và Nghị định số 91/2015/NĐ-CP, bổ sung trường hợp sau khi trúng đấu giá nhưng phương án chuyển nhượng toàn bộ cổ phần, vốn góp của TCTD bị kiểm soát đặc biệt không được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì nhà đầu tư không phải thanh toán tiền bán cổ phần, vốn góp cho doanh nghiệp nhà nước, trường hợp đã thanh toán thì được hoàn trả (kể cả tiền đặt cọc) và số cổ phần chưa thanh toán hoặc đã thanh toán nhưng được hoàn trả tiền vẫn thuộc sở hữu của doanh nghiệp nhà nước.

Thứ hai, TCTD sau chuyển nhượng toàn bộ cổ phần, vốn góp đương nhiên được xem xét chấm dứt kiểm soát đặc biệt

Hiện nay, Luật Các tổ chức tín dụng chưa có quy định TCTD sau chuyển nhượng toàn bộ cổ phần, vốn góp được đương nhiên xem xét chấm dứt kiểm soát đặc biệt mà chỉ có quy định trong nội dung phương án chuyển nhượng toàn bộ cổ phần, vốn góp trình Thủ tướng Chính phủ phải có nội dung phương án khắc phục tình trạng dẫn đến TCTD được đặt vào kiểm soát đặc biệt.

Theo quy định hiện hành, sau khi chuyển nhượng toàn bộ vốn điều lệ cho nhà đầu tư mới, nhà đầu tư mới đã tiếp quản TCTD nhưng TCTD vẫn trong tình trạng kiểm soát đặc biệt thì sẽ rất khó khăn cho nhà đầu tư mới trong điều hành TCTD. Hay nói cách khác, nhà đầu tư vẫn chịu nhiều rủi ro sau khi hoàn tất giao dịch chuyển nhượng trong trường hợp TCTD không được chấm dứt kiểm soát đặc biệt. Mặt khác, TCTD sau chuyển nhượng toàn bộ vốn điều lệ mà không thoát khỏi tình trạng bị kiểm soát đặc biệt thì cũng không đáp ứng được mục tiêu tái cơ cấu TCTD, vẫn trong hoàn cảnh “bình mới, rượu cũ”.

Trên thực tế, khi thực hiện chuyển nhượng 100% vốn điều lệ và chuyển đổi hình thức pháp lý, các bên trong giao dịch chuyển nhượng và TCTD bị kiểm soát đặc biệt sẽ có một khoảng thời gian trước và sau khi nộp hồ sơ chấp thuận chủ trương về chuyển đổi hình thức pháp lý để có thể khắc phục tình trạng dẫn đến TCTD bị đặt vào kiểm soát đặc biệt. Theo đó, TCTD sau chuyển nhượng toàn bộ vốn điều lệ sẽ đương nhiên thoát khỏi tình trạng kiểm soát đặc biệt, thay đổi hoàn toàn về chất lượng đúng như mục tiêu của phương án tái cơ cấu TCTD. Trong trường hợp TCTD không khắc phục được tình trạng dẫn đến bị kiểm soát đặc biệt thì giao dịch chuyển nhượng không thành công, chấp thuận nguyên tắc về chuyển đổi hình thức pháp lý hết hiệu lực.

Do đó, Luật Các tổ chức tín dụng cần có quy định bổ sung yêu cầu bắt buộc đối với TCTD sau chuyển nhượng toàn bộ cổ phần, vốn góp phải đảm bảo giá trị thực của vốn điều lệ tối thiểu bằng mức vốn pháp định và các tỷ lệ bảo đảm an toàn theo quy định và sau chuyển nhượng toàn bộ cổ phần, vốn góp thuộc một trong các trường hợp nêu trên thì đương nhiên được xem xét chấm dứt kiểm soát đặc biệt .

ThS. Vũ Thanh Minh



[1]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành pháp luật về xử lý tổ chức tín dụng yếu kém và xử lý nợ xấu (Dự thảo lần 1 ngày 07/02/2017 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam).

[2]. Báo cáo đánh giá tác động của chính sách đề nghị xây dựng dự án Luật Hỗ trợ tái cơ cấu các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu (Dự thảo lần 1 ngày 08/2/2017 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam).

[3]. Kình Dương, Cái khó của Ngân hàng Nhà nước trong xử lý các TCTD yếu kém, https://vietnamfinance.vn/cai-kho-cua-nhnn-trong-xu-ly-cac-tctd-yeu-kem-20170213005945978.htm.

[4]. Theo Điều 10 Thông tư số 01/2018/TT-NHNN ngày 26/01/2018 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về cho vay đặc biệt đối với tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt, thời hạn các khoản vay đặc biệt trong trường hợp Ngân hàng Nhà nước cho vay hoặc quyết định cho vay tối đa là 02 năm, được gia hạn mỗi lần tối đa 02 năm.

[5]. Mục A(II) Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 - 2020” ban hành kèm theo Quyết định số 1058/QĐ-TTg ngày 19/7/2017 của Thủ tướng Chính phủ.

[6]. Thanh Thủy, Công ty Tài chính - ngày ấy & bây giờ, http://ndh.vn/infographic-cong-ty-tai-chinh-ngay-ay-bay-gio-2017050208373325p4c149.news.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: