Thứ ba 28/07/2026 23:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề pháp lý khi nhà đầu tư tham gia tái cơ cấu tổ chức tín dụng có vốn của Nhà nước bị kiểm soát đặc biệt

Tóm tắt: Bài viết đề cập đến sự cần thiết, nội dung của tái cơ cấu tổ chức tín dụng có vốn nhà nước bị kiểm soát đặc biệt và một số khuyến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này

Tóm tắt: Bài viết đề cập đến sự cần thiết, nội dung của tái cơ cấu tổ chức tín dụng có vốn nhà nước bị kiểm soát đặc biệt và một số khuyến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

Abstract: The article deals with the necessity, the content of the restructuring of state-owned credit institutions under special control and some recommendations to the law improvement on this issue.

1. Vì sao phải tái cơ cấu tổ chức tín dụng bị kiểm soát đặc biệt

Khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2007 gây đổ vỡ nhiều định chế tài chính, ngân hàng đẩy kinh tế khu vực và kinh tế thế giới vào suy thoái, từ đó ảnh hưởng lớn đến thương mại, đầu tư quốc tế và tăng trưởng kinh tế trong nước; kinh tế vĩ mô diễn biến bất ổn, thị trường bất động sản, chứng khoán sụt giảm mạnh tác động bất lợi cho hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) Việt Nam. Đặc biệt, vào cuối năm 2011, thanh khoản căng thẳng, một bộ phận không nhỏ các TCTD trong trạng thái mất khả năng chi trả, tiềm ẩn rủi ro rất cao, có nguy cơ đổ vỡ gây mất an toàn hệ thống, thị trường tiền tệ bất ổn, cạnh tranh huy động vốn giữa các TCTD gay gắt, thiếu lành mạnh, có những thời điểm tỷ lệ tín dụng trên huy động vốn lên tới 103,07%[1]. Trước bối cảnh như vậy, đặt ra mục tiêu cấp bách cần thực hiện là tái cơ cấu, xử lý TCTD yếu kém và xử lý nợ xấu của hệ thống TCTD để đảm bảo an toàn, hiệu quả hoạt động của toàn hệ thống.

Theo Điều 130 và Điều 145 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) (sau đây gọi tắt là Luật Các tổ chức tín dụng), một TCTD được xem xét đặt vào kiểm soát đặc biệt khi lâm vào một trong các trường hợp là mất, có nguy cơ mất khả năng chi trả hoặc mất, có nguy cơ mất khả năng thanh toán theo quy định của Ngân hàng Nhà nước; hoặc số lỗ lũy kế của tổ chức tín dụng lớn hơn 50% giá trị của vốn điều lệ và các quỹ dự trữ ghi trong báo cáo tài chính đã được kiểm toán gần nhất; hoặc không duy trì được tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8% hoặc tỷ lệ cao hơn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước trong từng thời kỳ trong thời gian 12 tháng liên tục hoặc tỷ lệ an toàn vốn thấp hơn 4% trong thời gian 06 tháng liên tục; hoặc xếp hạng yếu kém trong 02 năm liên tục theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Khi bị kiểm soát đặc biệt, TCTD sẽ bị đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước. Các phương án cơ cấu lại TCTD được kiểm soát đặc biệt bao gồm: Phương án phục hồi; phương án sáp nhập, hợp nhất, chuyển nhượng toàn bộ cổ phần, phần vốn góp; phương án giải thể; phương án chuyển giao bắt buộc; phương án phá sản.

2. Nội dung tái cơ cấu và nhà đầu tư tham gia tái cơ cấu tổ chức tín dụng bị kiểm soát đặc biệt

Sau khi có sự rà soát, phân loại của Ngân hàng Nhà nước, số lượng các TCTD có quy mô nhỏ, hoạt động yếu kém đã giảm dần, từ cuối năm 2011, số lượng các TCTD đã giảm khoảng 22 tổ chức gồm 07 ngân hàng thương mại trong nước, 03 ngân hàng liên doanh, 04 TCTD phi ngân hàng và 08 chi nhánh ngân hàng nước ngoài[2]. Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn còn những TCTD yếu kém được Ngân hàng Nhà nước mua lại bắt buộc (03 ngân hàng thương mại) và kiểm soát đặt biệt (01 TCTD phi ngân hàng). Quy mô nợ xấu và tài sản không sinh lời của các TCTD này ở mức cao. Việc xử lý nợ xấu, thu hồi tài sản không sinh lời rất khó khăn, chưa đạt được kết quả đáng kể.

Điều 148b Luật Các tổ chức tín dụng đã quy định một số biện pháp hỗ trợ thực hiện phương án phục hồi như bán nợ xấu có hoặc không có tài sản bảo đảm cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC); vay đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (Quỹ dự phòng nghiệp vụ) Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân) và các TCTD khác; mua, đầu tư hệ thống công nghệ thông tin vượt tỷ lệ 50% trên vốn điều lệ và các quỹ dự trữ vốn điều lệ…

Tuy nhiên, theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam[3], trong điều kiện ngân sách nhà nước không có nguồn lực dành cho việc tái cơ cấu TCTD yếu kém, Ngân hàng Nhà nước và các đơn vị hỗ trợ theo quyết định của Ngân hàng Nhà nước sẽ cấp vốn chủ yếu nhằm cung ứng vốn ngắn hạn (có thể được gia hạn)[4].

Để mở rộng thêm các giải pháp, ngày 19/7/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1058/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 - 2020”. Một trong những giải pháp trọng tâm là khuyến khích nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia xử lý TCTD yếu kém[5]. Khi tham gia tái cơ cấu TCTD yếu kém, bị kiểm soát đặc biệt, các nhà đầu tư sẽ không phải là bên cho vay cấp các khoản vay đặc biệt như Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức trong nước khác mà họ sẽ tham gia với tư cách của các nhà đầu tư mua cổ phần, vốn góp của TCTD được kiểm soát đặc biệt. Sự tham gia của nhà đầu tư sẽ mang tính chất dài hạn vì họ sẽ trực tiếp đồng hành cùng với TCTD, tham gia quản lý, điều hành TCTD thông qua những người đại diện tại các cơ quan quản lý của TCTD như Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Ban điều hành, Ban kiểm soát. Đây rõ ràng là một nguồn lực tài chính cần thiết và nên được đẩy mạnh để hỗ trợ quá trình tái cơ cấu TCTD tại Việt Nam.

3. Một số khuyến nghị hoàn thiện pháp luật về tái cơ cấu tổ chức tín dụng có vốn nhà nước bị kiểm soát đặc biệt

Thứ nhất, phương án chuyển nhượng toàn bộ cổ phần, phần vốn góp của các TCTD bị kiểm soát đặc biệt có phần vốn của doanh nghiệp nhà nước sẽ được trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trước hay sau quá trình đấu giá phần vốn của doanh nghiệp nhà nước

Hiện một số TCTD được kiểm soát đặc biệt vẫn đang có vốn của các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là tại các TCTD phi ngân hàng (tiền thân là công ty trực thuộc doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò một đơn vị đầu tư trong nội bộ công ty mẹ như thu xếp các khoản cho vay, quản lý nguồn tiền mặt và tình hình tiền mặt, quản lý đầu tư các khoản tiền chưa sử dụng đến cho các công ty con trong nội bộ)[6]. Trong trường hợp chuyển nhượng toàn bộ vốn điều lệ của TCTD được kiểm soát đặc biệt thì phần vốn của các doanh nghiệp nhà nước vẫn phải thực hiện theo các quy định liên quan đến quản lý vốn nhà nước. Tuy nhiên, hiện nay chưa có sự kết nối rõ ràng giữa các quy định của Luật Các tổ chức tín dụng với Luật Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014 khiến cho các nhà đầu tư tham gia nhận chuyển nhượng vốn tại các TCTD bị kiểm soát đặc biệt không dự kiến được kế hoạch cụ thể cho lộ trình nhận chuyển nhượng toàn bộ vốn điều lệ.

Theo quy định tại Điều 149 và Điều 149b Luật Các tổ chức tín dụng, khi xây dựng phương án chuyển nhượng toàn bộ vốn điều lệ, TCTD phải xác định được nhà đầu tư dự kiến nhận chuyển nhượng toàn bộ cổ phần, vốn góp. Theo Điều 29a Nghị định số 32/2018/NĐ-CP ngày 08/3/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 91/2015/NĐ-CP ngày 13/10/2015 về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp, khi chuyển nhượng vốn tại công ty cổ phần đã niêm yết hoặc đăng ký giao dịch trên thị trường chứng khoán nhưng không thực hiện trên sàn giao dịch chứng khoán hoặc các công ty cổ phần chưa niêm yết hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn thì phương thức đấu giá công khai phải được thực hiện trước tiên. Tuy nhiên, quá trình đấu giá sẽ không phải để xác định nhà đầu tư dự kiến mà sẽ là chuyển nhượng chính thức và chuyển quyền sở hữu cổ phần, vốn góp chính thức từ doanh nghiệp nhà nước cho nhà đầu tư thắng trong đấu giá. Theo đó, trước khi có chấp thuận phương án chuyển nhượng của Thủ tướng Chính phủ thì không thể chuyển nhượng chính thức, nghĩa là doanh nghiệp nhà nước không được tiến hành đấu giá. Nhưng không tiến hành đấu giá thì cũng sẽ không có thông tin về nhà đầu tư để trình Thủ tướng Chính phủ trong phương án chuyển nhượng.

Các quy định này nên được quy định rõ hơn trong: (i) Luật Các tổ chức tín dụng, cụ thể là sau khi có quyết định chấp thuận chủ trương chuyển nhượng toàn bộ vốn điều lệ của Thủ tướng Chính phủ thì các cổ đông, thành viên là doanh nghiệp nhà nước có thể tiến hành đấu giá để lựa chọn nhà đầu tư nhận chuyển nhượng; (ii) Nghị định số 32/2018/NĐ-CP và Nghị định số 91/2015/NĐ-CP, bổ sung trường hợp sau khi trúng đấu giá nhưng phương án chuyển nhượng toàn bộ cổ phần, vốn góp của TCTD bị kiểm soát đặc biệt không được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì nhà đầu tư không phải thanh toán tiền bán cổ phần, vốn góp cho doanh nghiệp nhà nước, trường hợp đã thanh toán thì được hoàn trả (kể cả tiền đặt cọc) và số cổ phần chưa thanh toán hoặc đã thanh toán nhưng được hoàn trả tiền vẫn thuộc sở hữu của doanh nghiệp nhà nước.

Thứ hai, TCTD sau chuyển nhượng toàn bộ cổ phần, vốn góp đương nhiên được xem xét chấm dứt kiểm soát đặc biệt

Hiện nay, Luật Các tổ chức tín dụng chưa có quy định TCTD sau chuyển nhượng toàn bộ cổ phần, vốn góp được đương nhiên xem xét chấm dứt kiểm soát đặc biệt mà chỉ có quy định trong nội dung phương án chuyển nhượng toàn bộ cổ phần, vốn góp trình Thủ tướng Chính phủ phải có nội dung phương án khắc phục tình trạng dẫn đến TCTD được đặt vào kiểm soát đặc biệt.

Theo quy định hiện hành, sau khi chuyển nhượng toàn bộ vốn điều lệ cho nhà đầu tư mới, nhà đầu tư mới đã tiếp quản TCTD nhưng TCTD vẫn trong tình trạng kiểm soát đặc biệt thì sẽ rất khó khăn cho nhà đầu tư mới trong điều hành TCTD. Hay nói cách khác, nhà đầu tư vẫn chịu nhiều rủi ro sau khi hoàn tất giao dịch chuyển nhượng trong trường hợp TCTD không được chấm dứt kiểm soát đặc biệt. Mặt khác, TCTD sau chuyển nhượng toàn bộ vốn điều lệ mà không thoát khỏi tình trạng bị kiểm soát đặc biệt thì cũng không đáp ứng được mục tiêu tái cơ cấu TCTD, vẫn trong hoàn cảnh “bình mới, rượu cũ”.

Trên thực tế, khi thực hiện chuyển nhượng 100% vốn điều lệ và chuyển đổi hình thức pháp lý, các bên trong giao dịch chuyển nhượng và TCTD bị kiểm soát đặc biệt sẽ có một khoảng thời gian trước và sau khi nộp hồ sơ chấp thuận chủ trương về chuyển đổi hình thức pháp lý để có thể khắc phục tình trạng dẫn đến TCTD bị đặt vào kiểm soát đặc biệt. Theo đó, TCTD sau chuyển nhượng toàn bộ vốn điều lệ sẽ đương nhiên thoát khỏi tình trạng kiểm soát đặc biệt, thay đổi hoàn toàn về chất lượng đúng như mục tiêu của phương án tái cơ cấu TCTD. Trong trường hợp TCTD không khắc phục được tình trạng dẫn đến bị kiểm soát đặc biệt thì giao dịch chuyển nhượng không thành công, chấp thuận nguyên tắc về chuyển đổi hình thức pháp lý hết hiệu lực.

Do đó, Luật Các tổ chức tín dụng cần có quy định bổ sung yêu cầu bắt buộc đối với TCTD sau chuyển nhượng toàn bộ cổ phần, vốn góp phải đảm bảo giá trị thực của vốn điều lệ tối thiểu bằng mức vốn pháp định và các tỷ lệ bảo đảm an toàn theo quy định và sau chuyển nhượng toàn bộ cổ phần, vốn góp thuộc một trong các trường hợp nêu trên thì đương nhiên được xem xét chấm dứt kiểm soát đặc biệt .

ThS. Vũ Thanh Minh



[1]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành pháp luật về xử lý tổ chức tín dụng yếu kém và xử lý nợ xấu (Dự thảo lần 1 ngày 07/02/2017 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam).

[2]. Báo cáo đánh giá tác động của chính sách đề nghị xây dựng dự án Luật Hỗ trợ tái cơ cấu các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu (Dự thảo lần 1 ngày 08/2/2017 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam).

[3]. Kình Dương, Cái khó của Ngân hàng Nhà nước trong xử lý các TCTD yếu kém, https://vietnamfinance.vn/cai-kho-cua-nhnn-trong-xu-ly-cac-tctd-yeu-kem-20170213005945978.htm.

[4]. Theo Điều 10 Thông tư số 01/2018/TT-NHNN ngày 26/01/2018 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về cho vay đặc biệt đối với tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt, thời hạn các khoản vay đặc biệt trong trường hợp Ngân hàng Nhà nước cho vay hoặc quyết định cho vay tối đa là 02 năm, được gia hạn mỗi lần tối đa 02 năm.

[5]. Mục A(II) Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 - 2020” ban hành kèm theo Quyết định số 1058/QĐ-TTg ngày 19/7/2017 của Thủ tướng Chính phủ.

[6]. Thanh Thủy, Công ty Tài chính - ngày ấy & bây giờ, http://ndh.vn/infographic-cong-ty-tai-chinh-ngay-ay-bay-gio-2017050208373325p4c149.news.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.
Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trên cơ sở kế thừa, bổ sung nhiều quy định mới về nguyên tắc định hướng, chủ thể giám sát, nội dung và quy trình để hoạt động giám sát đạt hiệu quả, chất lượng. Việc gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương có tính chất tương hỗ để hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.
Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: