Thứ ba 10/02/2026 19:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề pháp lý về biện pháp phát hiện tham nhũng ở Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về biện pháp phát hiện tham nhũng ở Việt Nam

1. Quy định của pháp luật hiện hành về các biện pháp phát hiện tham nhũng

Các biện pháp phát hiện tham nhũng hiện nay được quy định trong Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 tại Chương III từ Điều 55 đến Điều 69, cụ thể:

Thứ nhất, phát hiện tham nhũng thông qua công tác kiểm tra và tự kiểm tra của cơ quan, tổ chức, đơn vị (Điều 55 - Điều 58).

Người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm tổ chức kiểm tra việc chấp hành pháp luật của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của mình nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý tham nhũng. Đây là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý của cấp trên đối với cấp dưới trong việc thực hiện nhiệm vụ công vụ. Qua đó, kịp thời phát hiện tham nhũng để xử lý. Có thể khẳng định rằng, hoạt động kiểm tra không chỉ đơn thuần là biện pháp phát hiện tham nhũng mà còn là biện pháp phòng ngừa tham nhũng mặc dù hiện nay Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 chỉ xem kiểm tra là biện pháp phát hiện, xử lý tham nhũng. Hoạt động kiểm tra của cấp trên đối với cấp dưới là hoạt động kiểm soát trong cùng hệ thống nhưng có tính độc lập khách quan giữa chủ thể kiểm tra và đối tượng kiểm tra.

Bên cạnh hoạt động kiểm tra của cấp trên đối với cấp dưới, yêu cầu về sự phát hiện vi phạm pháp luật nói chung, tham nhũng nói riêng, đặt ra trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị chủ động tổ chức kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người có chức vụ, quyền hạn do mình quản lý mà thường xuyên, trực tiếp giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khác nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý tham nhũng. Đồng thời, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm thường xuyên đôn đốc đơn vị trực thuộc kiểm tra người có chức vụ, quyền hạn do mình quản lý trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ. Khi phát hiện có hành vi tham nhũng, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải kịp thời xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cho cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.

Hoạt động tự kiểm tra này gọi là kiểm tra nội bộ. Đây là biện pháp cần thiết, bởi lẽ, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm nếu như để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị mình.

Về hình thức, hoạt động kiểm tra nhằm phát hiện tham nhũng có thể được tiến hành bằng hai hình thức là kiểm tra thường xuyên được tiến hành theo chương trình, kế hoạch và tập trung vào lĩnh vực, hoạt động dễ phát sinh tham nhũng; kiểm tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện có dấu hiệu tham nhũng.

Thứ hai, phát hiện tham nhũng thông qua giám sát (Điều 59).

Giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước nói chung, việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của các cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị trong khu vực công bao gồm giám sát quyền lực và giám sát xã hội. Theo đó, giám sát quyền lực thuộc về cơ quan dân cử (Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp), giám sát xã hội được thực hiện bởi các tổ chức, cá nhân trong xã hội, trong đó được thể chế thành chức năng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ban thanh tra nhân dân trong các cơ quan nhà nước, đơn vị, xã, phường, thị trấn.

Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định biện pháp phát hiện tham nhũng thông qua giám sát đó là thông qua hoạt động giám sát của cơ quan dân cử, đại biểu dân cử và xử lý đề nghị của cơ quan dân cử. Theo đó, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân thông qua hoạt động giám sát nếu phát hiện vụ việc có dấu hiệu tham nhũng thì đề nghị Cơ quan thanh tra, Kiểm toán Nhà nước, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân xử lý theo quy định của pháp luật.

Các hoạt động giám sát để phát hiện tham nhũng cũng sẽ được thực hiện theo quy định của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.

Hoạt động giám sát của cơ quan dân cử trong việc phát hiện tham nhũng không mang tính trực tiếp như các biện pháp khác ở chỗ nếu phát hiện “dấu hiệu tham nhũng” thì đề nghị các cơ quan chuyên trách để xử lý.

Thứ ba, phát hiện tham nhũng thông qua thanh tra, kiểm toán (Điều 60 - Điều 64).

Cơ quan thanh tra, Kiểm toán Nhà nước thông qua hoạt động thanh tra, kiểm toán có trách nhiệm chủ động phát hiện hành vi tham nhũng, xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị xử lý theo quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Thanh tra Chính phủ, Thanh tra Bộ, Thanh tra tỉnh, Kiểm toán Nhà nước ra quyết định thanh tra, kiểm toán vụ việc có dấu hiệu tham nhũng khi có căn cứ theo quy định của Luật Thanh tra, Luật Kiểm toán nhà nước.

Trình tự, thủ tục tiến hành thanh tra, kiểm toán vụ việc có dấu hiệu tham nhũng được thực hiện theo quy định của pháp luật về thanh tra, về kiểm toán nhà nước.

Tổng Thanh tra Chính phủ, Tổng Kiểm toán Nhà nước có trách nhiệm phối hợp xử lý trùng lặp trong hoạt động thanh tra, kiểm toán vụ việc có dấu hiệu tham nhũng.

Thanh tra, kiểm toán là biện pháp phát hiện tham nhũng quan trọng, cơ bản. Thực tiễn cho thấy, phần lớn các vụ việc tham nhũng được phát hiện thông qua thanh tra, kiểm toán hơn là các biện pháp kiểm tra, tự kiểm tra và giám sát.

Thứ tư, phát hiện tham nhũng thông qua phản ánh, tố cáo, báo cáo về tham nhũng (Điều 65 - Điều 69).

Bên cạnh các biện pháp phát hiện tham nhũng mang tính quyền lực nhà nước thì còn có những biện pháp mang tính xã hội, không mang quyền lực nhà nước đó là phản ánh, tố cáo về tham nhũng. Trên cơ sở phản ánh, tố cáo người có thẩm quyền xử lý phản ánh và giải quyết tố cáo để từ đó kết luận có hay không hành vi tham nhũng và tiến hành xử lý tham nhũng nếu có. Cụ thể: Cá nhân, tổ chức có quyền phản ánh về hành vi tham nhũng, cá nhân có quyền tố cáo về hành vi tham nhũng theo quy định của pháp luật. Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền khi nhận được phản ánh, tố cáo về hành vi tham nhũng phải xem xét, xử lý kịp thời và áp dụng các biện pháp bảo vệ người phản ánh, tố cáo. Việc tiếp nhận, giải quyết tố cáo về hành vi tham nhũng được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo. Việc tiếp nhận, xử lý phản ánh về hành vi tham nhũng được thực hiện theo quy định của pháp luật về tiếp công dân.

Ngoài biện pháp phản ánh, tố cáo về thì trong nội bộ cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang khi phát hiện hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi mình công tác thì phải báo cáo ngay với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị đó; trường hợp người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan đến hành vi tham nhũng thì phải báo cáo với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý cán bộ. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo về hành vi tham nhũng, người được báo cáo phải xử lý vụ việc theo thẩm quyền hoặc chuyển cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét, xử lý và thông báo cho người báo cáo biết; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày; trường hợp cần thiết thì người được báo cáo quyết định hoặc đề nghị người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn, khắc phục hậu quả của hành vi tham nhũng và bảo vệ người báo cáo.

2. Một số vấn đề pháp lý đặt ra về các biện pháp phát hiện tham nhũng

Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 và các văn bản hướng dẫn thi hành[1] đã quy định khá đa dạng các biện pháp phát hiện tham nhũng bao gồm cả những biện pháp mang tính quyền lực và những biện pháp mang tính xã hội. Tuy nhiên, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 vẫn còn tồn tại bất cập, hạn chế dẫn đến tình trạng có biện pháp không được thực hiện một cách hiệu quả trên thực tế và đồng thời, có biện pháp phát hiện tham nhũng trên thực tế lại không được điều chỉnh trong Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018. Cụ thể:

Thứ nhất, phát hiện tham nhũng thông qua giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Thanh tra nhân dân không được điều chỉnh trong Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, trong khi đó, trong chức năng giám sát của mình, hai tổ chức này có thể phát hiện tham nhũng và có quyền đề nghị xử lý tham nhũng.

Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đã quy định khá rõ nét về phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động giám sát, nhưng chỉ dừng lại ở biện pháp giám sát mang quyền lực nhà nước. Đó là phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động giám sát của cơ quan dân cử, các đại biểu dân cử. Tuy nhiên, bên cạnh giám sát quyền lực nhà nước còn có giám sát xã hội cũng được pháp luật điều chỉnh đó là giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, giám sát của Ban thanh tra nhân dân nhưng lại không được xem là biện pháp phát hiện tham nhũng.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có chức năng giám sát và phản biện xã hội theo khoản 1 Điều 9 Hiến pháp 2013, được thể chế hóa thành quyền, trách nhiệm tại khoản 5 Điều 3 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 và được cụ thể hóa tại Chương V Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015. Theo đó, nội dung giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong phòng, chống tham nhũng là việc tổ chức, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước ở các cấp chính quyền và ở những cá nhân có trách nhiệm trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội[2]. Cùng với đó, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp thực hiện Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội tham gia phản biện xã hội trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực[3]. Trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu tham nhũng thì có quyền kiến nghị người có thẩm quyền xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật. Như vậy, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý để thực hiện quyền giám sát và phát hiện tham nhũng từ hoạt động này.

Thanh tra nhân dân có nhiệm vụ giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở của cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm ở xã, phường, thị trấn, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước[4]. Như vậy, cũng giống như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban thanh tra nhân dân ở cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước và ở xã, phường, thị trấn là chủ thể có quyền phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động giám sát. Thực tiễn lực lượng Ban thanh tra nhân dân ở Việt Nam là rất lớn, đây là một lực lượng xã hội to lớn góp phần quan trọng trong công tác đấu tranh, phòng, chống tham nhũng.

Sẽ có quan điểm cho rằng, khi phát hiện tham nhũng thì Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp hay Ban thanh tra nhân dân ở các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước, ở xã, phường, thị trấn sẽ phản ánh đến cơ quan, người có thẩm quyền để giải quyết theo quy trình của pháp luật tiếp công dân. Tuy nhiên, điều này là không đúng, bởi lẽ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ban thanh tra nhân dân là thiết chế giám sát xã hội được thể chế hóa và hoạt động giám sát của họ được thực hiện bằng các văn bản kiến nghị, đề nghị buộc các cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm giải quyết và thông báo kết quả giải quyết. Đó không phải là hoạt động tiếp công dân theo Luật Tiếp công dân năm 2013. Vì vậy, việc Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 không ghi nhận biện pháp phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ban thanh tra nhân dân là lỗ hổng pháp lý cần phải được khắc phục vì không bảo đảm tính thống nhất trong điều chỉnh pháp luật.

Thứ hai, thiếu vắng những quy định chi tiết về biện pháp kiểm tra, tự kiểm tra để phát hiện và xử lý tham nhũng trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Biện pháp kiểm tra và tự kiểm tra của các cơ quan, tổ chức, đơn vị mặc dù được ghi nhận trong Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 nhưng chưa có văn bản nào quy định rõ trình tự, thủ tục về hoạt động kiểm tra, tự kiểm tra về việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ nói chung và phát hiện tham nhũng nói riêng. Đặc biệt, hiện nay, pháp luật quy định trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trong khi đó, hoạt động “tự kiểm tra” thì có những cơ quan chưa được quan tâm, triển khai vì còn khá lúng túng, thậm chí là không được biết đến (thực tế là do thiếu vắng đội ngũ thực hiện công tác tự kiểm tra trong nội bộ cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc có nhưng lại không đưa hoạt động kiểm tra phát hiện tham nhũng vào chương trình kế hoạch hàng năm). Điều này được khẳng định tại Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII: “Việc phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí vẫn còn hạn chế, nhất là việc tự kiểm tra, tự phát hiện và xử lý tham nhũng, lãng phí trong nội bộ cơ quan, đơn vị còn yếu”[5].

Thứ ba, quy định phát hiện tham nhũng thông qua phản ánh và xử lý phản ánh của một số cơ quan, tổ chức, cá nhân còn khá mơ hồ, thiếu thống nhất.

Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định việc tiếp nhận, xử lý phản ánh tham nhũng theo quy định của pháp luật tiếp công dân. Tuy nhiên, đối chiếu Luật Tiếp công dân năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành[6] thì dường như “ không bao hàm “. Bởi vì theo pháp luật tiếp công dân, kiến nghị, phản ánh là việc công dân cung cấp thông tin, trình bày ý kiến, nguyện vọng, đề xuất giải pháp với cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền về những vấn đề liên quan đến việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, công tác quản lý trong các lĩnh vực đời sống xã hội thuộc trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân đó[7]. Đồng thời, pháp luật tiếp công dân điều chỉnh nhóm “kiến nghị, phản ánh” chứ không riêng lẻ “phản ánh” như theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

Vấn đề là, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 chỉ dừng lại ở việc nêu tên của biện pháp phát hiện tham nhũng thông qua phản ánh và dẫn chiếu đến pháp luật tiếp công dân nhưng pháp luật tiếp công dân cũng chỉ dừng lại ở quy định tiếp nhận, xử lý đơn “kiến nghị, phản ánh” mà không quy định rõ trình tự, thủ tục giải quyết “kiến nghị, phản ánh”. Mặc dù, trước đây có Thông tư số 07/2014/TT-TTCP ngày 31/10/2014 của Tổng Thanh tra Chính phủ quy định Quy trình xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn kiến nghị, phản ánh trong đó có đề cập tiếp nhận, xử đơn kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Tuy nhiên, Thông tư này lại không giải thích thế nào là đơn kiến nghị, đơn phản ánh nên không có cơ sở pháp lý để phân định với đơn khiếu nại, đặc biệt là đơn tố cáo hành vi tham nhũng. Đây cũng là một lỗ hổng của quy định pháp luật về biện pháp phát hiện tham nhũng hiện nay.

Bên cạnh đó, phát hiện tham nhũng thông qua phản ánh của báo chí[8] cũng đang còn có thiếu sót về mặt pháp lý. Chúng ta đã và đang chứng kiến sự bùng nổ thông tin, cách mạng công nghiệp 4.0, qua đó, vai trò và ảnh hưởng của báo chí, đặc biệt là báo điện tử ngày càng to lớn. Trong quá trình thực hiện chức năng của mình, báo chí cũng đã góp phần quan trọng trong việc phản ánh tham nhũng. Tuy nhiên, pháp luật phòng, chống tham nhũng quy định phát hiện tham nhũng thông qua phản ánh theo pháp luật tiếp công dân không bao hàm “phản ánh” của báo chí. Do đó, yêu cầu về tính kịp thời, trách nhiệm, cách thức xử lý, xác minh phản ánh của báo chí cũng là vấn đề cấp thiết hiện nay. Thực tiễn cho thấy, việc xử lý, xác minh một số vấn đề báo chí phản ánh, nhất là vụ việc có dấu hiện tham nhũng còn khá chậm chạp, tùy nghi và manh mún, có địa phương quan tâm thì có quy định, còn ngược lại thì không có quy định.

Thứ tư, bất cập trong quy định pháp luật về thanh tra hiện hành, nhất là kiểm soát, giám sát đối với hoạt động thanh tra.

Thanh tra là “tai, mắt của cấp trên, bạn của cấp dưới”. Hoạt động thanh tra, đặc biệt là thanh tra hành chính hướng đến việc xem xét, đánh giá, xử lý việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cấp dưới. Qua đó, những vi phạm pháp luật, trong đó có hành vi tham nhũng được phát hiện và xử lý kịp thời. Thực tiễn đã chứng minh, thanh tra là công cụ, biện pháp quan trọng trong việc phát hiện tham nhũng. Tuy nhiên, hiện nay, pháp luật thanh tra đã và đang bộc lộ những bất cập, hạn chế, trong đó, quy định về kiểm soát, giám sát hoạt động thanh tra chưa rõ ràng, đầy đủ. Thực tiễn, vẫn còn tình trạng tham nhũng trong chính cơ quan chống tham nhũng. Điều đó đã làm giảm hiệu quả của biện pháp phát hiện tham nhũng thông qua thanh tra.

3. Kiến nghị

Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật phòng, chống tham nhũng về các biện pháp phát hiện tham nhũng, tác giả kiến nghị một số vấn đề sau:

Một là, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 cần ghi nhận biện pháp phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và của Thanh tra nhân dân để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.

Vấn đề hiện nay là cần tiếp tục đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đối với công tác giám sát, phản biện xã hội nói chung và giám sát, phản biện xã hội trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng nói riêng[9]. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là chủ thể có vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị và đời sống xã hội với mạng lưới rộng khắp, là nơi quy tụ và tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân tham gia xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Đây cũng là chủ thể thực hiện việc giám sát mang tính nhân dân, hỗ trợ cho công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra của Nhà nước. Do đó, Mặt trận có điều kiện và cơ sở để thực hiện có hiệu quả vai trò của mình trong tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và phối hợp trong công tác giám sát tại cơ sở, khuyến khích tinh thần chủ động, tích cực đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong nhân dân[10].

Đồng thời, Thanh tra nhân dân được tổ chức rộng khắp bao gồm ở các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập nhà nước, doanh nghiệp nhà nước và ở xã, phường, thị trấn, cũng là một lực lượng to lớn giám sát xã hội góp phần quan trọng vào công cuộc đấu tranh, PCTN, đặc biệt là trong công tác phát hiện tham nhũng.

Hai là, cần quy định chi tiết về biện pháp kiểm tra và tự kiểm tra để phát hiện và xử lý tham nhũng trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị, nhất là đối với hoạt động tự kiểm tra trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Ba là, cần quy định rõ biện pháp phát hiện tham nhũng thông qua phản ánh, nhất là quy định rõ thời hạn, trình tự, thủ tục xử lý phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Đồng thời, cần thiết có quy định về trách nhiệm, trình tự, thủ tục xử lý, xác minh những nội dung có dấu hiệu tham nhũng thông qua phản ánh của báo chí để kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi tham nhũng, tăng cường vai trò của báo chí trong công tác đấu tranh, phòng, chống tham nhũng.

Nhìn chung, pháp luật phòng, chống tham nhũng hiện hành đã quy định khá đầy đủ và đa dạng các biện pháp phát hiện tham nhũng. Tuy nhiên, những quy định này đa phần chỉ dừng lại ở việc nêu tên, thiếu quy định chi tiết, do đó đã gây ra sự khó khăn, lúng túng trong việc thực hiện. Ngoài ra, còn những biện pháp phát hiện tham nhũng khác chưa được điều chỉnh trong pháp luật phòng, chống tham nhũng hiện nay. Do vậy, trong thời gian tới, cần thiết phải có những sửa đổi, bổ sung theo hướng ghi nhận đầy đủ hơn các biện pháp phát hiện tham nhũng, đồng thời, quy định rõ ràng, chi tiết về thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện các biện pháp phát hiện tham nhũng.

ThS. Nguyễn Văn Trí

Phó trưởng Khoa Luật Hành chính - Nhà nước,

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh


[1] Nghị định số 59/2019/NĐ-CP ngày 01/7/2019 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng và Nghị định số 134/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2019/NĐ-CP ngày 01/7/2019 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng.

[2] Trần Ngọc Đường (2018), Quyền, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, Trang thông tin điện tử tổng hợp của Ban Nội chính Trung ương, https://noichinh.vn/cong-tac-phong-chong-tham-nhung/201808/quyen-trach-nhiem-cua-mat-tran-to-quoc-trong-dau-tranh-phong-chong-tham-nhung-304360/.

[3] Trần Nam Chuân (2022), Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Tạp chí Mặt trận của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, http://tapchimattran.vn/thuc-tien/vai-tro-cua-mat-tran-to-quoc-viet-nam-trong-cong-tac-phong-chong-tham-nhung-tieu-cuc-43008.html.

[4] Điều 66 Luật Thanh tra năm 2010.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII - Tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 92 - 93.

[6] Nghị định số 64/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiếp công dân và Thông tư số 04/2021/TT-TTCP ngày 01/10/2021 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình tiếp công dân.

[7] Khoản 2 Điều 2 Luật Tiếp công dân năm 2013.

[8] Hiện nay có Luật Báo chí năm 2016.

[9] Trần Ngọc Đường (2018), Quyền, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, Trang thông tin điện tử tổng hợp của Ban Nội chính Trung ương, https://noichinh.vn/cong-tac-phong-chong-tham-nhung/201808/quyen-trach-nhiem-cua-mat-tran-to-quoc-trong-dau-tranh-phong-chong-tham-nhung-304360/.

[10] Nguyễn Phúc Quỳnh (2021), Tăng cường vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong tham gia công tác phòng, chống tham nhũng, Tạp chí Mặt trận online của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, http://tapchimattran.vn/thuc-tien/bai-1-tang-cuong-vai-tro-cua-mttq-viet-nam-trong-tham-gia-cong-tac-phong-chong-tham-nhung-39200.html.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: