Thứ ba 13/01/2026 12:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề pháp lý về hoạt động gọi vốn cộng đồng hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp ở Việt Nam

Bài viết đề cập tới những nội dung khái quát chung về gọi vốn cộng đồng, phân tích một số vấn đề thực tiễn phát sinh từ gọi vốn cộng đồng hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp ở Việt Nam, từ đó, đề xuất giải pháp pháp lý để phát triển hình thức gọi vốn cộng đồng hỗ trợ khởi nghiệp tại Việt Nam.

Trong những năm gần đây, phong trào khởi nghiệp đang là xu hướng phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam. Một trong những khó khăn lớn nhất đối với người khởi nghiệp là vấn đề vốn. Gọi vốn cộng đồng, tài trợ bởi đám đông hay huy động vốn cộng đồng[1] đang ngày trở thành một phương thức huy động vốn quan trọng và được chứng minh là “dân chủ hóa” khả năng tiếp cận tài chính trên quy mô toàn cầu. Nếu như ban đầu, huy động vốn cộng đồng chủ yếu được áp dụng bởi các tổ chức xã hội từ thiện hoặc trong các lĩnh vực của ngành công nghiệp sáng tạo thì hình thức này đã được nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa áp dụng trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau.

1. Khái lược về gọi vốn cộng đồng

Trước khi có các nền tảng huy động vốn cộng đồng, việc huy động vốn cộng đồng đã được sử dụng để tài trợ cho các dự án. Vào thế kỷ XVIII, XIX, người ta đã huy động công chúng để tài trợ cho các buổi hòa nhạc, công chiếu tác phẩm của Mozart, Beethoven. Tượng Nữ thần Tự do được xây dựng một phần thông qua huy động vốn từ cộng đồng vào năm 1884. Do nguồn lực để xây dựng tượng đài không đủ, Joseph Pulitzer, một nhà báo người Hoa Kỳ gốc Hungary, đã sử dụng Tạp chí New York để gây quỹ trên khắp Hoa Kỳ bảo đảm cho việc xây dựng bệ của Tượng Nữ thần Tự do[2]. Mặc dù không ai đặt tên cho hình thức này nhưng đó rõ ràng là biểu hiện của việc gọi vốn từ cộng đồng.

Theo Từ điển Merriam - Webster, gọi vốn cộng đồng được coi là “hành động kêu gọi đóng góp tài chính từ một số lượng lớn người, đặc biệt là từ cộng đồng trực tuyến”[3]. Từ điển Oxford cũng đưa ra giải thích gọi vốn cộng đồng là “việc tài trợ cho một dự án hoặc một hoạt động bằng cách huy động nhiều khoản tiền nhỏ từ một số lượng lớn công chúng, thường là qua internet”[4]. Như vậy, cách giải thích thuật ngữ này đều đề cập đến yếu tố được coi là đặc trưng cho gọi vốn cộng đồng là “sự tham gia của lượng lớn công chúng” và “internet”[5].

Với sự ra đời của hàng loạt các nền tảng công nghệ kể từ năm 2008 - 2009, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra định nghĩa cụ thể hơn về gọi vốn cộng đồng. Một trong những định nghĩa đầu tiên về gọi vốn cộng đồng được nêu lên bởi Armin Schwienbacher và Thomas Lambert năm 2010, theo đó, gọi vốn cộng đồng được hiểu là một cuộc gọi mở, về cơ bản, thông qua internet để cung cấp các nguồn tài chính dưới hình thức quyên góp hoặc để đổi lấy một số hình thức phần thưởng và/hoặc chính quyền biểu quyết để hỗ trợ các sáng kiến cho các mục đích cụ thể. Từ định nghĩa này, có thể thấy, một số điểm chung cho các hình thức gọi vốn cộng đồng khác nhau là:

- Đây là một “cuộc gọi”, ưu đãi công khai: Lời mời gọi này thay vì chỉ để dành riêng cho một nhóm người thì sẽ hướng đến tất cả mọi người, nói cách khác, tất cả công chúng đều là những nhà đầu tư tiềm năng;

- Lời gọi mời được thực hiện thông qua internet, có thể thông qua các nền tảng mạng xã hội hoặc không, nhưng luôn có sự hiện diện của internet, phương thức này giúp thu hút được một lượng lớn người quan tâm;

- Mục tiêu của lời gọi mời là nhằm thu hút các nguồn tài chính để hỗ trợ cho các sáng kiến, dự án cụ thể.

Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại các hình thức huy động vốn cộng đồng. Tuy nhiên, phổ biến hơn cả là cách phân loại gọi vốn cộng đồng được sử dụng bởi Massolution (một tổ chức chuyên nghiên cứu và tư vấn về gọi vốn cộng đồng; mỗi năm đều có báo cáo thường niên về tình trạng phát triển của gọi vốn cộng đồng trên thế giới) bao gồm hình thức cơ bản sau:

Một là, gọi vốn theo hình thức quyên góp từ thiện (donation-based crowdfunding): Hình thức này gợi lại nguồn gốc lịch sử của gọi vốn cộng đồng. Theo hình thức này, các dự án được tài trợ bằng cách quyên góp và chủ dự án không phải trả lợi ích cho người gọi vốn giống như cách tài trợ cho Tượng Nữ thần Tự do đã nêu ở trên. Tuy nhiên, các chiến dịch quyên góp được thực hiện thông qua nền tảng internet. Các dự án được tài trợ trên các nền tảng này rất đa dạng, có thể phục vụ cho mục đích nhân đạo, xã hội, giáo dục hay nghiên cứu y tế và thường do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội từ thiện, tổ chức phi Chính phủ đứng ra kêu gọi.

Hai là, gọi vốn theo hình thức trả phần thưởng, quà tặng (reward-based crowdfunding): Nếu như hình thức gọi vốn bằng quyên góp từ thiện trước hết dựa vào lòng vị tha, trắc ẩn của người tham gia và thường không được nhận lại một giá trị vật chất hữu hình nào thì gọi vốn theo hình thức trả phần thưởng là để tri ân cho sự đóng góp của họ. Đây có thể coi là hình thức gọi vốn cộng đồng phát triển bậc nhất hiện nay. Ví dụ, nền tảng Kickstarter[6], Indegogo[7] là những nền tảng dẫn đầu thế giới về gọi vốn cộng đồng theo hình thức này.

Huy động vốn cộng đồng dựa trên phần thưởng là phương thức tài trợ phù hợp với nhiều loại dự án: Các dự án văn hóa (phổ biến là tài trợ cho các tác phẩm điện ảnh, album ca nhạc, xuất bản sách, báo chí…), các dự án khởi nghiệp (các dự án doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo). Từ sự phong phú của các dự án kêu gọi tài trợ, các nền tảng cũng khá đa dạng và có thể áp dụng cho nhiều loại dự án khác nhau[8] hoặc áp dụng riêng cho một lĩnh vực cụ thể[9], nền tảng tài trợ cho dự án trong một lãnh thổ cụ thể…

Ba là, gọi vốn theo hình thức vay vốn (lending-based crowdfunding hay crowdlending): Hình thức này được đánh giá là ngày càng trở nên phổ biến[10]. Ở hình thức này, những người góp vốn trở thành bên cho vay với mô hình tương tự như tài chính vi mô, cụ thể là tín dụng vi mô do các tổ chức tài chính vi mô thực hiện đối với khách hàng. Hình thức gọi vốn crowdlending cho phép các nhà tài trợ rót vốn cho các dự án dưới dạng các khoản vay (có hoặc không có lãi suất) dựa trên các nền tảng cho vay liên kết, nền tảng cho vay dành riêng cho cá nhân hay nền tảng cho vay dành cho doanh nghiệp. Vốn vay được lấy từ vốn góp của cộng đồng hoặc từ những người đã kinh doanh thành công từ hình thức này nhằm tạo ra dòng vốn luân chuyển lớn để giúp các doanh nghiệp. Đây là hình thức gọi vốn cộng đồng phù hợp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã thành lập nhưng tài sản bảo đảm không đủ để thuyết phục tổ chức tín dụng cho vay.

Bốn là, gọi vốn theo hình thức đầu tư (crowdinversting hay equity-based crowdfunding): Đây là hình thức gọi vốn cộng đồng cho phép những người đóng góp đầu tư vốn vào công ty và đổi lại họ nắm giữ một phần vốn của công ty dưới hình thức cổ phần. Hình thức gọi vốn này phù hợp với các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Về phía người đầu tư, một trong những ưu điểm lớn của hình thức này là người đầu tư sẽ nhận được khoản lợi nhuận tăng lên tương ứng với sự tăng trưởng của doanh nghiệp. Ngược lại, họ cũng phải đối mặt với rủi ro mất vốn khi doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả.

Dù là gọi vốn dưới hình thức nào, chúng ta đều có thể nhận thấy quy trình huy động vốn cộng đồng hình thành một tam giác gồm ba bên: Nhà cung cấp nền tảng gọi vốn, chủ dự án và người góp vốn (người ủng hộ, cộng đồng). Trong đó, chủ dự án chịu trách nhiệm chuẩn bị và thực hiện chiến dịch gọi vốn, cung cấp các văn bản, hình ảnh, video quảng cáo và các tài liệu khác cho nền tảng gọi vốn. Nhà cung cấp nền tảng công nghệ cung cấp không gian để mô tả dự án và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thanh toán giữa người góp vốn và chủ dự án. Bên trung gian này cũng chịu trách nhiệm phát hiện các gian lận trong thanh toán, cũng như vô hiệu hóa các chiến dịch gọi vốn có hành vi gian lận. Thông thường, tiền từ những người góp vốn được giữ trong một tài khoản ký quỹ đặc biệt cho đến khi chiến dịch kết thúc. Người góp vốn dựa trên các thông tin được cung cấp trên nền tảng gọi vốn để đưa ra quyết định có ủng hộ, tài trợ hay không.

2. Thực tiễn và đề xuất giải pháp hoàn thiện khung pháp lý về hoạt động gọi vốn cộng đồng hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp ở Việt Nam

Việt Nam là một trong những quốc gia dẫn đầu thế giới về tinh thần khởi nghiệp và thái độ tích cực đối với khởi nghiệp, song lại ở trong số 20 quốc gia có khả năng thực hiện các kế hoạch kinh doanh thấp nhất, với chỉ 3% được gọi là thành công, trong đó, kêu gọi đầu tư là mối quan tâm hàng đầu của những người dự định khởi nghiệp[11]. Việt Nam cũng là quốc gia với dân số trẻ, tỷ lệ tiếp cận internet cao và các mạng xã hội được sử dụng rộng rãi. Hoạt động gọi vốn cộng đồng chắc chắn sẽ là một sự hỗ trợ tích cực cho thanh niên khởi nghiệp, bởi đó là kết quả của sự kết hợp giữa công nghệ với niềm đam mê và sự hào phóng bẩm sinh của con người, điều vẫn còn thiếu là các cơ sở hạ tầng kỹ thuật xã hội phù hợp.

Để hoạt động góp vốn cộng đồng hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp nói riêng, doanh nghiệp khởi nghiệp nói chung phát triển tương xứng với tiềm năng, thì việc thiết lập khuôn khổ pháp lý điều chỉnh về gọi vốn cộng đồng là yêu cầu quan trọng hàng đầu. Bên cạnh Luật Thanh niên năm 2020, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản, chủ trương, chính sách khởi nghiệp, giáo dục, đào tạo kiến thức, kỹ năng khởi nghiệp cho thanh niên; cung cấp thông tin về thị trường; hỗ trợ pháp lý, khoa học và công nghệ, xúc tiến đầu tư, phát triển nguồn nhân lực; ưu đãi vay vốn từ các tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật; khuyến khích, tạo môi trường thuận lợi để thanh niên khởi nghiệp sáng tạo ứng dụng khoa học và công nghệ; ưu đãi, hỗ trợ tổ chức, cá nhân tham gia cung ứng dịch vụ hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp; khuyến khích thành lập quỹ khởi nghiệp cho thanh niên, hướng tới hình thành một hệ sinh thái khởi nghiệp hoàn chỉnh. Tuy nhiên, vẫn còn thiếu các quy định cụ thể, về gọi vốn cộng đồng.

Nhiều quốc gia trên thế giới đã ban hành quy định về mô hình gọi vốn cộng đồng nhằm hướng tới đáp ứng nhu cầu phát triển của cộng đồng khởi nghiệp, tận dụng được nguồn lực có sẵn trong xã hội, cũng như bảo vệ được quyền lợi của nhà đầu tư[12]. Việc thể chế hóa và có các quy định của pháp luật sẽ làm tăng tính khả dụng của hình thức này, cũng như làm minh bạch hóa thị trường, tạo sự yên tâm cho các chủ thể tham gia gọi vốn cộng đồng. Sự hiện hữu của các quy định pháp luật về gọi vốn cộng đồng là phù hợp với chủ trương của Chính phủ về tận dụng khả năng nội tại của những nhà khởi nghiệp và nguồn vốn có sẵn trong cộng đồng, cũng như phù hợp với xu thế chung của xã hội. Một số vấn đề cần cân nhắc khi thiết lập khung pháp lý cho gọi vốn cộng đồng đó là:

Thứ nhất, cần định nghĩa rõ ràng về gọi vốn cộng đồng cũng như mô hình gọi vốn cộng đồng, nhất là trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0. Trước đây, khi xây dựng dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, hoạt động gọi vốn cộng đồng đã được đưa vào tại Điều 3 Dự thảo Luật này, theo đó, “gọi vốn cộng đồng là hình thức huy động vốn từ số đông các cá nhân thông qua tổ chức trung gian cung cấp thông tin và các dịch vụ tư vấn, hỗ trợ việc huy động vốn trực tuyến. Bên cung cấp vốn và bên gọi vốn tự chịu rủi ro, trách nhiệm từ việc cấp vốn và hoàn trả vốn. Bên gọi vốn có thể hoàn trả bằng quà tặng, cổ phần, vốn vay hoặc dưới các hình thức khác”[13]. Tuy nhiên, do tính mới của hoạt động này cũng như do thực trạng các nền tảng gọi vốn cộng đồng tại thời điểm đó còn chưa phát triển nên khi ban hành Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, nội dung này đã không được đưa vào diện điều chỉnh. Để đa dạng hóa các hình thức gọi vốn cộng đồng, đáp ứng nhu cầu của người khởi nghiệp cũng như của người góp vốn, phù hợp với xu hướng phát triển của gọi vốn cộng đồng trên thế giới, Việt Nam có thể cân nhắc quy định cho phép áp dụng đa dạng các hình thức gọi vốn cộng đồng, bao gồm cả gọi vốn theo hình thức quyên góp từ thiện, gọi vốn theo hình thức nhận quà tặng, gọi vốn theo hình thức trả cổ phần, gọi vốn theo hình thức vay.

Thứ hai, cần xác định rõ ràng cơ quan có vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động gọi vốn cộng đồng. Trong gọi vốn cộng đồng, với đặc trưng riêng của từng hình thức huy động, có thể thấy, sự hiện diện của các cơ quan quản lý nhà nước khác nhau. Cơ quan nào sẽ là chủ thể có thẩm quyền kiểm tra các điều kiện thành lập, cấp phép cho các nền tảng gọi vốn cộng đồng? Nếu coi huy động vốn cộng đồng là một hình thức mới của dịch vụ tài chính dựa trên công nghệ thì vai trò của Ngân hàng Nhà nước sẽ thế nào? Nếu cho phép áp dụng gọi vốn theo hình thức trả cổ phần thì Ủy ban Chứng khoán Nhà nước sẽ có vai trò ra sao…

Thứ ba, cần ban hành quy định xác định rõ trách nhiệm của các tổ chức cung cấp nền tảng gọi vốn cộng đồng trong tuân thủ các điều kiện về nhân sự, tài chính, công nghệ thông tin, bảo mật cũng như bảo đảm sự công bằng trong quảng bá các dự án gọi vốn trên nền tảng. Một trong những đặc thù của huy động vốn cộng đồng là tính không chuyên nghiệp của những người tham gia, bao gồm cả người khởi nghiệp và người góp vốn và họ thường phải đặt niềm tin nhất định vào các nền tảng gọi vốn. Các nền tảng gọi vốn cộng đồng giúp tạo điều kiện tương tác cho những người đang tìm nguồn vốn cho dự án và những người muốn tham gia tài trợ. Chức năng của các nền tảng này là giúp giảm thiểu chi phí giao dịch cho người tìm vốn và cho phép những người góp vốn tiềm năng tìm kiếm, lựa chọn một cách độc lập những dự án mà họ muốn hỗ trợ. Tất nhiên, các nền tảng này hoạt động không phải miễn phí và vai trò của các nền tảng này không chỉ dừng ở việc môi giới đơn thuần, do đó, các nền tảng đều mong muốn thu hút được lượng lớn những người có nhu cầu đầu tư, góp vốn. Mục tiêu lợi nhuận có thể khiến các nền tảng này bỏ qua những yêu cầu về thẩm định chất lượng dự án, bảo vệ quyền lợi người góp vốn, thậm chí có những hành vi lừa đảo khách hàng. Do vậy, cần có quy định chặt chẽ về điều kiện thành lập và hoạt động của các nền tảng, yêu cầu tuân thủ quy định về chế độ giám sát, báo cáo định kỳ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Bên cạnh đó, khi phát triển các hình thức gọi vốn cộng đồng, Nhà nước cũng cần cân nhắc tới sự tương thích của các quy định về gọi vốn cộng đồng với các quy định pháp luật liên quan như Luật Chứng khoán, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa…

Ngoài ra, thanh toán trực tuyến cũng là một trong những khó khăn khiến gọi vốn cộng đồng khó phát triển ở Việt Nam. Những hình thức hỗ trợ chủ yếu trên các nền tảng gọi vốn cộng đồng là qua thanh toán không dùng tiền mặt như chuyển khoản, qua thẻ thanh toán quốc tế, đòi hỏi người đầu tư phải nắm bắt được công nghệ... trong khi đa số người dân vẫn có thói quen sử dụng tiền mặt, mua bán trực tiếp, nhất là với những giao dịch nhỏ.

Thứ tư, một lý do quan trọng hàng đầu là rào cản pháp lý. Mặc dù mô hình gọi vốn cộng đồng đã xuất hiện ở Việt Nam từ cách đây 10 năm nhưng cho tới nay, vẫn chưa có văn bản pháp luật nào đề cập một cách chính thức về hoạt động này. Điều này dẫn tới những khó khăn trong việc xác định tư cách pháp lý của các nền tảng gọi vốn cộng đồng, trong việc ràng buộc quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch, cũng như bảo vệ những người góp vốn khi xảy ra gian lận hay lừa đảo. Đây là khoảng trống pháp lý cản trở thanh niên khởi nghiệp nói chung, doanh nghiệp khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo nói riêng tiếp cận nguồn vốn cộng đồng đa dạng. Việc gọi vốn từ cộng đồng còn đặc biệt có ý nghĩa đối với các dự án khởi nghiệp ở khu vực nông thôn, gắn với khai thác giá trị văn hóa bản địa trong hoạt động du lịch sinh thái, khai thác, mở rộng giá trị thương mại sản phẩm của các làng nghề. Do thiếu cơ sở pháp lý cho việc gọi vốn từ cộng đồng nên các dự án khởi nghiệp rất khó có thể đến được với số đông nhà đầu tư có nhu cầu góp vốn./.

ThS. Tô Lý Cường

Ban Công tác Thiếu nhi Trung ương Đoàn

[1]. Trong phạm vi bài viết này, tác giả sử dụng các thuật ngữ “gọi vốn cộng đồng”, “huy động vốn cộng đồng” như là các cụm từ đồng nghĩa.

[2]. https://cand.com.vn/ly-luan/nu-than-tu-do-135-tuoi-i638663/, truy cập ngày 04/7/2024.

[3]. https:www.scirp.org/pdf/ojbm_2021031515314556.pdf.

[4]. https:www.merriam-webster.com/dictionary/crowfunding.

[5]. Nếu coi “web” và “đám đông” là hai yếu tố cần thiết cho việc huy động vốn thì thực ra, vào cuối những năm 90 của thế kỷ XX, đã xuất hiện những chiến dịch kêu gọi tài trợ được phát động thông qua internet và nhiều nền tảng gây quỹ từ thiện đã bắt đầu xuất hiện. Một trong những ví dụ kinh điển về “gọi vốn cộng đồng” hay được nhắc đến là trường hợp nhóm nhạc rock người Anh Marillion, vào năm 1997, đã thu hút được 60.000 USD thông qua một chiến dịch phát động trên internet có tên “Tour fund” để thực hiện chuyến lưu diễn Hoa Kỳ.

[6]. https://www.kickstarter.com/.

[7]. https://www.indiegogo.com/.

[8]. Ví dụ, Kickstarter ở Hoa Kỳ, KisskissBangBang tại Pháp, FirstStep tại Việt Nam.

[9]. Ví dụ, Foodraising cho những dự án liên quan tới nhà hàng, ăn uống, bar… hay Fundovino cho dự án xoay quanh chủ đề rượu vang và nho, thậm chí sách về cây nho hay comicola chuyên kêu gọi tài trợ cho các dự án văn hóa sáng tạo.

[10]. Theo báo cáo của Massolution (2015), năm 2014, hình thức crowdlending huy động được 11,08 tỷ đô la, tức hơn 68% tổng tài trợ bằng tất cả các hình thức crowdfunding.

[11]. Khảo sát về tinh thần khởi nghiệp (AGER) tại 44 quốc gia với gần 49.000 người từ 19 tuổi trở lên được công bố tháng 9/2018 bởi sự phối hợp thực hiện của Tập đoàn Amway, Đại học Technische Universitant Munchen (TUM) và Công ty nghiên cứu thị trường GfK.

[12]. Ví dụ, Malaysia đã thông qua sửa đổi và bổ sung Luật Thị trường vốn và dịch vụ tạo khuôn khổ pháp lý cho hoạt động gọi vốn cộng đồng vào năm 2015; Hoa Kỳ đã ban hành Đạo luật Khởi sự kinh doanh có hiệu lực từ ngày 23/9/2013; Trung Quốc có quy định về gọi vốn cộng đồng vào tháng 12/2024; Liên minh châu Âu (EU) đã ban hành quy chế chung về huy động vốn cộng đồng ngày 10/11/2020 và có hiệu lực áp dụng trực tiếp trên toàn bộ các quốc gia thuộc EU từ ngày 10/11/2021.

[13]. Nội dung này được ghi nhận tại các dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa lần 1, 2, 3, 4 (khoản 11 Điều 3).

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 410), tháng 8/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.

Theo dõi chúng tôi trên: