Thứ năm 15/10/2026 21:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề về chuyển đơn khởi kiện trong tố tụng dân sự Việt Nam[1]

Theo Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam năm 2015 thì các đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự và Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó. Trong bài viết này, tác giả trình bày một số vấn đề về thông báo, hồ sơ chuyển đơn khởi kiện; phân tích những hạn chế của pháp luật và đề xuất kiến nghị hoàn thiện.

1. Chuyển đơn khởi kiện trong tố tụng dân sự

Theo Từ điển tiếng Việt: “Chuyển đơn khởi kiện là việc di chuyển đơn kiện từ nơi này đến một nơi khác bằng cách thức nào đó, nhằm mục đích nào đó”[2]. Theo khái niệm này, chuyển đơn khởi kiện là một trong các hoạt động tố tụng dân sự mà Tòa án phải thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án dân sự. Sau khi nhận đơn khởi kiện, Tòa án cần xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo luật định. Trường hợp, nếu vụ án dân sự đó không thuộc thẩm quyền của Tòa án mà thuộc thẩm quyền của cơ quan, tổ chức khác hoặc không thuộc thẩm quyền của Tòa án đã nhận đơn mà thuộc thẩm quyền của Tòa án khác hoặc của Tòa án cấp khác thì tùy từng trường hợp, Tòa án tiến hành các hoạt động tố tụng phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chẳng hạn, theo Điều 41 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nếu vụ việc dân sự đã được thụ lý mà sau đó Tòa án nhận thấy không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án đã thụ lý thì Tòa án đó ra quyết định chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho Tòa án có thẩm quyền và xóa tên vụ án đó trong sổ thụ lý.

Về cơ sở pháp lý, chuyển đơn khởi kiện quy định tại điểm c khoản 3 Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, cụ thể: “Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác”.

Về căn cứ chuyển đơn khởi kiện, khi Tòa án nhận và xử lý đơn khởi kiện nếu thấy vụ việc mà người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết không thuộc thẩm quyền theo cấp Tòa án và thẩm quyền theo lãnh thổ thì Tòa án nhận đơn sẽ chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền (theo cấp Tòa án và theo lãnh thổ) để giải quyết.

Như vậy, việc nhận và xử lý đơn khởi kiện trong tố tụng dân sự là việc Tòa án tiếp nhận đơn khởi kiện về dân sự của các cá nhân, tổ chức (tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp) gửi đến Tòa án bằng những cách thức khác nhau theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự để tiến hành hoạt động xử lý đơn và hướng dẫn người gửi đơn cách thức bảo vệ quyền của mình tại cơ quan, tổ chức thẩm quyền. Căn cứ vào thẩm quyền, Tòa án xác định phạm vi quyền hạn của mình trong thụ lý những vụ việc dân sự do các chủ thể có thẩm quyền yêu cầu. Chuyển đơn khởi kiện là một trong các kết quả của việc xác định thẩm quyền và được thực hiện khi Tòa án chưa thụ lý vụ việc dân sự.

2. Trình tự, thủ tục chuyển đơn khởi kiện và một số vướng mắc, bất cập

Hiện nay, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chưa có quy định cụ thể về thủ tục chuyển đơn khởi kiện, mà chỉ quy định ngắn gọn: “Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây: Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác”[3]. Quy định này dẫn đến cách hiểu về việc chuyển đơn khởi kiện do thẩm phán ban hành dưới hình thức bằng một quyết định. Đến nay, vẫn chưa có văn bản hướng dẫn về việc chuyển đơn khởi kiện được ban hành dưới hình thức tên loại văn bản là quyết định hay thông báo dẫn đến tình trạng áp dụng không thống nhất giữa các Tòa án.

Như vậy, sau khi tiếp nhận đơn khởi kiện, thẩm phán được phân công phải xem xét đơn khởi kiện, tùy từng trường hợp, thẩm phán sẽ tiến hành thủ tục như sau: (i) Thụ lý vụ án dân sự, nếu vụ án dân sự có đủ điều kiện để giải quyết theo quy định của luật; (ii) Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác. Đây là hoạt động tố tụng mà Tòa án nhận đơn khởi kiện phải thực hiện trước khi thụ lý vụ án dân sự. Khi kiểm tra đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo do đương sự cung cấp, Tòa án phải xác định vụ án dân sự nào thuộc thẩm quyền của Tòa án nhận đơn và vụ án nào không thuộc thẩm quyền.

Về thủ tục tiếp nhận và xử lý đơn khởi kiện: Khi người khởi kiện nộp đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo đến Tòa án bằng một trong những phương thức được pháp luật quy định thì bộ phận tiếp nhận đơn tại Tòa án có trách nhiệm tiếp nhận và ghi ngày, tháng, năm người khởi kiện nộp đơn vào sổ nhận đơn. Sau khi nhận được đơn khởi kiện, Tòa án có trách nhiệm cấp giấy xác nhận đã nhận đơn cho người khởi kiện. Bộ phận tiếp nhận đơn khởi kiện phải tham mưu cho Chánh án Tòa án đã nhận đơn để phân công một thẩm phán xem xét đơn khởi kiện trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn. Việc xem xét đơn khởi kiện là hoạt động nghiệp vụ quan trọng trong việc thụ lý vụ án dân sự, hoạt động này nhằm mục đích tiến hành kiểm tra các điều kiện thụ lý để quyết định có thụ lý hay không thụ lý vụ án. Sau khi được Chánh án phân công xem xét đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, thẩm phán được phân công phải xem xét đơn khởi kiện[4].

Hiện nay, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chưa quy định cụ thể về hồ sơ chuyển đơn khởi kiện. Tuy nhiên, theo Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự (đã hết hiệu lực) quy định: Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo bằng văn bản cho người khởi kiện biết. Thủ tục chuyển đơn khởi kiện được thực hiện theo quy định tại Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và hướng dẫn tại Điều 10 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định tại Phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật Tố tụng dân sự[5] đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự (đã hết hiệu lực). Theo đó, thủ tục và hồ sơ chuyển đơn khởi kiện được thực hiện tương tự như thủ tục chuyển vụ án dân sự cho Tòa án khác giải quyết, cụ thể: “Khi xét thấy vụ việc dân sự đã được thụ lý không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình mà thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân địa phương khác cùng cấp hoặc khác cấp, thì Tòa án đã thụ lý vụ việc dân sự ra quyết định chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho Tòa án có thẩm quyền và xóa sổ thụ lý. Quyết định này phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp, đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan. Tòa án có thẩm quyền sau khi nhận được quyết định chuyển vụ việc dân sự và hồ sơ vụ việc dân sự phải vào sổ thụ lý và tiếp tục giải quyết vụ việc đó theo quy định chung”[6].

Hồ sơ khởi kiện của người khởi kiện khi nộp tại Tòa án bao gồm đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo. Sau khi Tòa án nhận và xử lý đơn khởi kiện sẽ phát sinh thêm một số các văn bản liên quan đến thủ tục nhận và xử lý đơn. Vì vậy, hồ sơ nhận và xử lý đơn khởi kiện cũng có tầm quan trọng như hồ sơ của một vụ án. Tuy nhiên, do thiếu các quy định hướng dẫn đối với thủ tục chuyển đơn khởi kiện nên thực tế hiện nay, việc chuyển đơn khởi kiện đều phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của các Tòa án. Hầu hết, các Tòa án nhận đơn khi nhận thấy đơn khởi kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác, thì chỉ tiến hành một thủ tục đơn giản là ra thông báo chuyển đơn khởi kiện và gửi kèm theo đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ do người khởi kiện giao nộp cho Tòa án có thẩm quyền mà không nêu rõ hồ sơ gửi kèm theo đơn khởi kiện bao gồm những tài liệu, chứng cứ gì. Những tài liệu, chứng cứ này thông thường cũng không được liệt kê và đánh số bút lục như hồ sơ vụ án. Trong trường hợp nếu có thất lạc thì cũng không xác định được tài liệu, chứng cứ gửi kèm theo đơn có đầy đủ hay chưa.

Như vậy, từ những phân tích ở trên, có thể tổng hợp một số vướng mắc, bất cập về chuyển đơn khởi kiện như sau:

Thứ nhất, do Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chưa quy định cụ thể về hình thức chuyển đơn khởi kiện bằng quyết định hay thông báo cho nên việc áp dụng pháp luật về chuyển đơn khởi kiện không thống nhất giữa các Tòa án. Có Tòa án ban hành thông báo chuyển đơn khởi kiện, có Tòa án ban hành quyết định chuyển đơn khởi kiện, trong khi nội dung của quyết định và thông báo hoàn toàn giống nhau.

Thứ hai, qua thực tiễn nghiên cứu cho thấy, các hồ sơ chuyển đơn khởi kiện trong một số trường hợp còn sơ sài, hầu hết đều không có các văn bản cần thiết như: Giấy xác nhận đã nhận đơn khởi kiện hoặc thông báo nhận đơn; biên bản giao nhận tài liệu, chứng cứ kèm theo do nguyên đơn giao nộp; thông báo chuyển đơn khởi kiện; biên bản giao thông báo chuyển đơn khởi kiện cho người khởi kiện và Viện kiểm sát; phiếu chuyển kèm theo bảng kê tài liệu, văn bản của hồ sơ chuyển đơn khởi kiện… Vì vậy, Tòa án nơi nhận được hồ sơ chuyển đơn khởi kiện không thể thực hiện việc hoàn trả lại phiếu chuyển cho Tòa án nơi chuyển nhằm phục vụ công tác lưu trữ và thông báo, xác nhận đã nhận được hồ sơ khởi kiện.

Thứ ba, nội dung quyết định chuyển đơn khởi kiện hay thông báo chuyển đơn khởi kiện mới chỉ dừng lại ở việc Tòa án thông báo cho người khởi kiện được biết về việc Tòa án đã chuyển đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo cho một Tòa án khác có thẩm quyền giải quyết, mà không có nội dung thông báo cho Viện kiểm sát được biết về việc chuyển đơn khởi kiện. Ngoài ra, quyết định hoặc thông báo chưa có nội dung giải thích về lý do, căn cứ của việc chuyển đơn, cũng như chưa có các nội dung thông báo về quyền khiếu nại của đương sự, quyền kiến nghị của Viện kiểm sát và thời hạn khiếu nại, kiến nghị.

3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về chuyển đơn khởi kiện

Một là, cần phải có văn bản hướng dẫn cụ thể về thủ tục chuyển đơn khởi kiện để các Tòa án áp dụng dưới một hình thức văn bản thống nhất. Theo đó, văn bản phải bảo đảm bao gồm các nội dung về quyền khiếu nại của đương sự và kiến nghị của Viện kiểm sát; thẩm quyền giải quyết khiếu nại, kiến nghị đối với việc chuyển đơn khởi kiện. Có như vậy mới bảo đảm được ác nguyên tắc tố tụng, bảo đảm việc kiểm sát hoạt động tố tụng và quyền lợi chính đáng của đương sự.

Hai là, Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn riêng đối với thủ tục chuyển đơn khởi kiện cần ban hành kèm theo biểu mẫu về thông báo chuyển đơn khởi kiện thay thế cho Biểu mẫu số 25-DS (ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao). Cụ thể trong hồ sơ chuyển đơn khởi kiện cần bao gồm:

- Đơn khởi kiện;

- Toàn bộ các tài liệu, chứng cứ kèm theo do nguyên đơn giao nộp và biên bản giao nhận tài liệu, chứng cứ;

- Giấy xác nhận đã nhận đơn khởi kiện hoặc thông báo nhận đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (để Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án có căn cứ xác định thời hiệu khởi kiện);

- Thông báo chuyển đơn khởi kiện và thủ tục giao nhận, tống đạt thông báo chuyển đơn khởi kiện cho Viện kiểm sát và người khởi kiện;

- Phiếu chuyển kèm theo bảng kê tài liệu, văn bản của toàn bộ hồ sơ chuyển đơn khởi kiện.

Tóm lại, chuyển đơn khởi kiện trong tố tụng dân sự dựa trên các quy định về thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Xuất phát từ yêu cầu phải bảo đảm nguyên tắc xét xử kịp thời trong tố tụng dân sự, từ thực tế đa dạng, phức tạp của các vụ án dân sự và từ nhu cầu cần được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, đòi hỏi Tòa án phải kết hợp sử dụng nhiều biện pháp tố tụng khác nhau để giải quyết vụ án dân sự. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có các quy định đầy đủ cũng như chưa có các văn bản hướng dẫn cụ thể nên thủ tục chuyển đơn khởi kiện vẫn chưa thực sự được quan tâm, chú trọng và chủ yếu phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của cơ quan tiến hành tố tụng. Điều này chưa bảo đảm các quyền khiếu nại của đương sự, cũng như kiến nghị của Viện kiểm sát… Vì vậy, trong thời gian tới, cần có những giải pháp sửa đổi, bổ sung kịp thời để hoàn thiện pháp luật về chuyển đơn khởi kiện./.

Phan Thị Chánh Lý

Trường Đại học Trà Vinh

[1]. Bài viết là kết quả nghiên cứu được tài trợ bởi Trường Đại học Trà Vinh thông qua Hợp đồng số: 381/2023/HĐ.HĐKH&ĐT-ĐHTV.

[2]. Từ điển tiếng Việt (2007), Nxb. Từ điển Bách khoa, tr. 274.

[3]. Điểm c khoản 3 Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[4]. Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[5]. Điểm b khoản 4 Điều 7 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

[6]. Điều 10 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định tại Phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi; bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 402), tháng 4/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: