Thứ tư 15/04/2026 04:26
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề về chuyển đơn khởi kiện trong tố tụng dân sự Việt Nam[1]

Theo Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam năm 2015 thì các đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự và Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó. Trong bài viết này, tác giả trình bày một số vấn đề về thông báo, hồ sơ chuyển đơn khởi kiện; phân tích những hạn chế của pháp luật và đề xuất kiến nghị hoàn thiện.

1. Chuyển đơn khởi kiện trong tố tụng dân sự

Theo Từ điển tiếng Việt: “Chuyển đơn khởi kiện là việc di chuyển đơn kiện từ nơi này đến một nơi khác bằng cách thức nào đó, nhằm mục đích nào đó”[2]. Theo khái niệm này, chuyển đơn khởi kiện là một trong các hoạt động tố tụng dân sự mà Tòa án phải thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án dân sự. Sau khi nhận đơn khởi kiện, Tòa án cần xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo luật định. Trường hợp, nếu vụ án dân sự đó không thuộc thẩm quyền của Tòa án mà thuộc thẩm quyền của cơ quan, tổ chức khác hoặc không thuộc thẩm quyền của Tòa án đã nhận đơn mà thuộc thẩm quyền của Tòa án khác hoặc của Tòa án cấp khác thì tùy từng trường hợp, Tòa án tiến hành các hoạt động tố tụng phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chẳng hạn, theo Điều 41 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nếu vụ việc dân sự đã được thụ lý mà sau đó Tòa án nhận thấy không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án đã thụ lý thì Tòa án đó ra quyết định chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho Tòa án có thẩm quyền và xóa tên vụ án đó trong sổ thụ lý.

Về cơ sở pháp lý, chuyển đơn khởi kiện quy định tại điểm c khoản 3 Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, cụ thể: “Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác”.

Về căn cứ chuyển đơn khởi kiện, khi Tòa án nhận và xử lý đơn khởi kiện nếu thấy vụ việc mà người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết không thuộc thẩm quyền theo cấp Tòa án và thẩm quyền theo lãnh thổ thì Tòa án nhận đơn sẽ chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền (theo cấp Tòa án và theo lãnh thổ) để giải quyết.

Như vậy, việc nhận và xử lý đơn khởi kiện trong tố tụng dân sự là việc Tòa án tiếp nhận đơn khởi kiện về dân sự của các cá nhân, tổ chức (tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp) gửi đến Tòa án bằng những cách thức khác nhau theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự để tiến hành hoạt động xử lý đơn và hướng dẫn người gửi đơn cách thức bảo vệ quyền của mình tại cơ quan, tổ chức thẩm quyền. Căn cứ vào thẩm quyền, Tòa án xác định phạm vi quyền hạn của mình trong thụ lý những vụ việc dân sự do các chủ thể có thẩm quyền yêu cầu. Chuyển đơn khởi kiện là một trong các kết quả của việc xác định thẩm quyền và được thực hiện khi Tòa án chưa thụ lý vụ việc dân sự.

2. Trình tự, thủ tục chuyển đơn khởi kiện và một số vướng mắc, bất cập

Hiện nay, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chưa có quy định cụ thể về thủ tục chuyển đơn khởi kiện, mà chỉ quy định ngắn gọn: “Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây: Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác”[3]. Quy định này dẫn đến cách hiểu về việc chuyển đơn khởi kiện do thẩm phán ban hành dưới hình thức bằng một quyết định. Đến nay, vẫn chưa có văn bản hướng dẫn về việc chuyển đơn khởi kiện được ban hành dưới hình thức tên loại văn bản là quyết định hay thông báo dẫn đến tình trạng áp dụng không thống nhất giữa các Tòa án.

Như vậy, sau khi tiếp nhận đơn khởi kiện, thẩm phán được phân công phải xem xét đơn khởi kiện, tùy từng trường hợp, thẩm phán sẽ tiến hành thủ tục như sau: (i) Thụ lý vụ án dân sự, nếu vụ án dân sự có đủ điều kiện để giải quyết theo quy định của luật; (ii) Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác. Đây là hoạt động tố tụng mà Tòa án nhận đơn khởi kiện phải thực hiện trước khi thụ lý vụ án dân sự. Khi kiểm tra đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo do đương sự cung cấp, Tòa án phải xác định vụ án dân sự nào thuộc thẩm quyền của Tòa án nhận đơn và vụ án nào không thuộc thẩm quyền.

Về thủ tục tiếp nhận và xử lý đơn khởi kiện: Khi người khởi kiện nộp đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo đến Tòa án bằng một trong những phương thức được pháp luật quy định thì bộ phận tiếp nhận đơn tại Tòa án có trách nhiệm tiếp nhận và ghi ngày, tháng, năm người khởi kiện nộp đơn vào sổ nhận đơn. Sau khi nhận được đơn khởi kiện, Tòa án có trách nhiệm cấp giấy xác nhận đã nhận đơn cho người khởi kiện. Bộ phận tiếp nhận đơn khởi kiện phải tham mưu cho Chánh án Tòa án đã nhận đơn để phân công một thẩm phán xem xét đơn khởi kiện trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn. Việc xem xét đơn khởi kiện là hoạt động nghiệp vụ quan trọng trong việc thụ lý vụ án dân sự, hoạt động này nhằm mục đích tiến hành kiểm tra các điều kiện thụ lý để quyết định có thụ lý hay không thụ lý vụ án. Sau khi được Chánh án phân công xem xét đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, thẩm phán được phân công phải xem xét đơn khởi kiện[4].

Hiện nay, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chưa quy định cụ thể về hồ sơ chuyển đơn khởi kiện. Tuy nhiên, theo Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự (đã hết hiệu lực) quy định: Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo bằng văn bản cho người khởi kiện biết. Thủ tục chuyển đơn khởi kiện được thực hiện theo quy định tại Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và hướng dẫn tại Điều 10 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định tại Phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật Tố tụng dân sự[5] đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự (đã hết hiệu lực). Theo đó, thủ tục và hồ sơ chuyển đơn khởi kiện được thực hiện tương tự như thủ tục chuyển vụ án dân sự cho Tòa án khác giải quyết, cụ thể: “Khi xét thấy vụ việc dân sự đã được thụ lý không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình mà thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân địa phương khác cùng cấp hoặc khác cấp, thì Tòa án đã thụ lý vụ việc dân sự ra quyết định chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho Tòa án có thẩm quyền và xóa sổ thụ lý. Quyết định này phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp, đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan. Tòa án có thẩm quyền sau khi nhận được quyết định chuyển vụ việc dân sự và hồ sơ vụ việc dân sự phải vào sổ thụ lý và tiếp tục giải quyết vụ việc đó theo quy định chung”[6].

Hồ sơ khởi kiện của người khởi kiện khi nộp tại Tòa án bao gồm đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo. Sau khi Tòa án nhận và xử lý đơn khởi kiện sẽ phát sinh thêm một số các văn bản liên quan đến thủ tục nhận và xử lý đơn. Vì vậy, hồ sơ nhận và xử lý đơn khởi kiện cũng có tầm quan trọng như hồ sơ của một vụ án. Tuy nhiên, do thiếu các quy định hướng dẫn đối với thủ tục chuyển đơn khởi kiện nên thực tế hiện nay, việc chuyển đơn khởi kiện đều phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của các Tòa án. Hầu hết, các Tòa án nhận đơn khi nhận thấy đơn khởi kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác, thì chỉ tiến hành một thủ tục đơn giản là ra thông báo chuyển đơn khởi kiện và gửi kèm theo đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ do người khởi kiện giao nộp cho Tòa án có thẩm quyền mà không nêu rõ hồ sơ gửi kèm theo đơn khởi kiện bao gồm những tài liệu, chứng cứ gì. Những tài liệu, chứng cứ này thông thường cũng không được liệt kê và đánh số bút lục như hồ sơ vụ án. Trong trường hợp nếu có thất lạc thì cũng không xác định được tài liệu, chứng cứ gửi kèm theo đơn có đầy đủ hay chưa.

Như vậy, từ những phân tích ở trên, có thể tổng hợp một số vướng mắc, bất cập về chuyển đơn khởi kiện như sau:

Thứ nhất, do Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chưa quy định cụ thể về hình thức chuyển đơn khởi kiện bằng quyết định hay thông báo cho nên việc áp dụng pháp luật về chuyển đơn khởi kiện không thống nhất giữa các Tòa án. Có Tòa án ban hành thông báo chuyển đơn khởi kiện, có Tòa án ban hành quyết định chuyển đơn khởi kiện, trong khi nội dung của quyết định và thông báo hoàn toàn giống nhau.

Thứ hai, qua thực tiễn nghiên cứu cho thấy, các hồ sơ chuyển đơn khởi kiện trong một số trường hợp còn sơ sài, hầu hết đều không có các văn bản cần thiết như: Giấy xác nhận đã nhận đơn khởi kiện hoặc thông báo nhận đơn; biên bản giao nhận tài liệu, chứng cứ kèm theo do nguyên đơn giao nộp; thông báo chuyển đơn khởi kiện; biên bản giao thông báo chuyển đơn khởi kiện cho người khởi kiện và Viện kiểm sát; phiếu chuyển kèm theo bảng kê tài liệu, văn bản của hồ sơ chuyển đơn khởi kiện… Vì vậy, Tòa án nơi nhận được hồ sơ chuyển đơn khởi kiện không thể thực hiện việc hoàn trả lại phiếu chuyển cho Tòa án nơi chuyển nhằm phục vụ công tác lưu trữ và thông báo, xác nhận đã nhận được hồ sơ khởi kiện.

Thứ ba, nội dung quyết định chuyển đơn khởi kiện hay thông báo chuyển đơn khởi kiện mới chỉ dừng lại ở việc Tòa án thông báo cho người khởi kiện được biết về việc Tòa án đã chuyển đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo cho một Tòa án khác có thẩm quyền giải quyết, mà không có nội dung thông báo cho Viện kiểm sát được biết về việc chuyển đơn khởi kiện. Ngoài ra, quyết định hoặc thông báo chưa có nội dung giải thích về lý do, căn cứ của việc chuyển đơn, cũng như chưa có các nội dung thông báo về quyền khiếu nại của đương sự, quyền kiến nghị của Viện kiểm sát và thời hạn khiếu nại, kiến nghị.

3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về chuyển đơn khởi kiện

Một là, cần phải có văn bản hướng dẫn cụ thể về thủ tục chuyển đơn khởi kiện để các Tòa án áp dụng dưới một hình thức văn bản thống nhất. Theo đó, văn bản phải bảo đảm bao gồm các nội dung về quyền khiếu nại của đương sự và kiến nghị của Viện kiểm sát; thẩm quyền giải quyết khiếu nại, kiến nghị đối với việc chuyển đơn khởi kiện. Có như vậy mới bảo đảm được ác nguyên tắc tố tụng, bảo đảm việc kiểm sát hoạt động tố tụng và quyền lợi chính đáng của đương sự.

Hai là, Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn riêng đối với thủ tục chuyển đơn khởi kiện cần ban hành kèm theo biểu mẫu về thông báo chuyển đơn khởi kiện thay thế cho Biểu mẫu số 25-DS (ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao). Cụ thể trong hồ sơ chuyển đơn khởi kiện cần bao gồm:

- Đơn khởi kiện;

- Toàn bộ các tài liệu, chứng cứ kèm theo do nguyên đơn giao nộp và biên bản giao nhận tài liệu, chứng cứ;

- Giấy xác nhận đã nhận đơn khởi kiện hoặc thông báo nhận đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (để Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án có căn cứ xác định thời hiệu khởi kiện);

- Thông báo chuyển đơn khởi kiện và thủ tục giao nhận, tống đạt thông báo chuyển đơn khởi kiện cho Viện kiểm sát và người khởi kiện;

- Phiếu chuyển kèm theo bảng kê tài liệu, văn bản của toàn bộ hồ sơ chuyển đơn khởi kiện.

Tóm lại, chuyển đơn khởi kiện trong tố tụng dân sự dựa trên các quy định về thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Xuất phát từ yêu cầu phải bảo đảm nguyên tắc xét xử kịp thời trong tố tụng dân sự, từ thực tế đa dạng, phức tạp của các vụ án dân sự và từ nhu cầu cần được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, đòi hỏi Tòa án phải kết hợp sử dụng nhiều biện pháp tố tụng khác nhau để giải quyết vụ án dân sự. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có các quy định đầy đủ cũng như chưa có các văn bản hướng dẫn cụ thể nên thủ tục chuyển đơn khởi kiện vẫn chưa thực sự được quan tâm, chú trọng và chủ yếu phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của cơ quan tiến hành tố tụng. Điều này chưa bảo đảm các quyền khiếu nại của đương sự, cũng như kiến nghị của Viện kiểm sát… Vì vậy, trong thời gian tới, cần có những giải pháp sửa đổi, bổ sung kịp thời để hoàn thiện pháp luật về chuyển đơn khởi kiện./.

Phan Thị Chánh Lý

Trường Đại học Trà Vinh

[1]. Bài viết là kết quả nghiên cứu được tài trợ bởi Trường Đại học Trà Vinh thông qua Hợp đồng số: 381/2023/HĐ.HĐKH&ĐT-ĐHTV.

[2]. Từ điển tiếng Việt (2007), Nxb. Từ điển Bách khoa, tr. 274.

[3]. Điểm c khoản 3 Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[4]. Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[5]. Điểm b khoản 4 Điều 7 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

[6]. Điều 10 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định tại Phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi; bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 402), tháng 4/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.

Theo dõi chúng tôi trên: