Thứ tư 29/07/2026 01:11
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề về chuyển đơn khởi kiện trong tố tụng dân sự Việt Nam[1]

Theo Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam năm 2015 thì các đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự và Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó. Trong bài viết này, tác giả trình bày một số vấn đề về thông báo, hồ sơ chuyển đơn khởi kiện; phân tích những hạn chế của pháp luật và đề xuất kiến nghị hoàn thiện.

1. Chuyển đơn khởi kiện trong tố tụng dân sự

Theo Từ điển tiếng Việt: “Chuyển đơn khởi kiện là việc di chuyển đơn kiện từ nơi này đến một nơi khác bằng cách thức nào đó, nhằm mục đích nào đó”[2]. Theo khái niệm này, chuyển đơn khởi kiện là một trong các hoạt động tố tụng dân sự mà Tòa án phải thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án dân sự. Sau khi nhận đơn khởi kiện, Tòa án cần xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo luật định. Trường hợp, nếu vụ án dân sự đó không thuộc thẩm quyền của Tòa án mà thuộc thẩm quyền của cơ quan, tổ chức khác hoặc không thuộc thẩm quyền của Tòa án đã nhận đơn mà thuộc thẩm quyền của Tòa án khác hoặc của Tòa án cấp khác thì tùy từng trường hợp, Tòa án tiến hành các hoạt động tố tụng phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chẳng hạn, theo Điều 41 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nếu vụ việc dân sự đã được thụ lý mà sau đó Tòa án nhận thấy không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án đã thụ lý thì Tòa án đó ra quyết định chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho Tòa án có thẩm quyền và xóa tên vụ án đó trong sổ thụ lý.

Về cơ sở pháp lý, chuyển đơn khởi kiện quy định tại điểm c khoản 3 Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, cụ thể: “Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác”.

Về căn cứ chuyển đơn khởi kiện, khi Tòa án nhận và xử lý đơn khởi kiện nếu thấy vụ việc mà người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết không thuộc thẩm quyền theo cấp Tòa án và thẩm quyền theo lãnh thổ thì Tòa án nhận đơn sẽ chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền (theo cấp Tòa án và theo lãnh thổ) để giải quyết.

Như vậy, việc nhận và xử lý đơn khởi kiện trong tố tụng dân sự là việc Tòa án tiếp nhận đơn khởi kiện về dân sự của các cá nhân, tổ chức (tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp) gửi đến Tòa án bằng những cách thức khác nhau theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự để tiến hành hoạt động xử lý đơn và hướng dẫn người gửi đơn cách thức bảo vệ quyền của mình tại cơ quan, tổ chức thẩm quyền. Căn cứ vào thẩm quyền, Tòa án xác định phạm vi quyền hạn của mình trong thụ lý những vụ việc dân sự do các chủ thể có thẩm quyền yêu cầu. Chuyển đơn khởi kiện là một trong các kết quả của việc xác định thẩm quyền và được thực hiện khi Tòa án chưa thụ lý vụ việc dân sự.

2. Trình tự, thủ tục chuyển đơn khởi kiện và một số vướng mắc, bất cập

Hiện nay, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chưa có quy định cụ thể về thủ tục chuyển đơn khởi kiện, mà chỉ quy định ngắn gọn: “Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây: Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác”[3]. Quy định này dẫn đến cách hiểu về việc chuyển đơn khởi kiện do thẩm phán ban hành dưới hình thức bằng một quyết định. Đến nay, vẫn chưa có văn bản hướng dẫn về việc chuyển đơn khởi kiện được ban hành dưới hình thức tên loại văn bản là quyết định hay thông báo dẫn đến tình trạng áp dụng không thống nhất giữa các Tòa án.

Như vậy, sau khi tiếp nhận đơn khởi kiện, thẩm phán được phân công phải xem xét đơn khởi kiện, tùy từng trường hợp, thẩm phán sẽ tiến hành thủ tục như sau: (i) Thụ lý vụ án dân sự, nếu vụ án dân sự có đủ điều kiện để giải quyết theo quy định của luật; (ii) Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác. Đây là hoạt động tố tụng mà Tòa án nhận đơn khởi kiện phải thực hiện trước khi thụ lý vụ án dân sự. Khi kiểm tra đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo do đương sự cung cấp, Tòa án phải xác định vụ án dân sự nào thuộc thẩm quyền của Tòa án nhận đơn và vụ án nào không thuộc thẩm quyền.

Về thủ tục tiếp nhận và xử lý đơn khởi kiện: Khi người khởi kiện nộp đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo đến Tòa án bằng một trong những phương thức được pháp luật quy định thì bộ phận tiếp nhận đơn tại Tòa án có trách nhiệm tiếp nhận và ghi ngày, tháng, năm người khởi kiện nộp đơn vào sổ nhận đơn. Sau khi nhận được đơn khởi kiện, Tòa án có trách nhiệm cấp giấy xác nhận đã nhận đơn cho người khởi kiện. Bộ phận tiếp nhận đơn khởi kiện phải tham mưu cho Chánh án Tòa án đã nhận đơn để phân công một thẩm phán xem xét đơn khởi kiện trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn. Việc xem xét đơn khởi kiện là hoạt động nghiệp vụ quan trọng trong việc thụ lý vụ án dân sự, hoạt động này nhằm mục đích tiến hành kiểm tra các điều kiện thụ lý để quyết định có thụ lý hay không thụ lý vụ án. Sau khi được Chánh án phân công xem xét đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, thẩm phán được phân công phải xem xét đơn khởi kiện[4].

Hiện nay, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chưa quy định cụ thể về hồ sơ chuyển đơn khởi kiện. Tuy nhiên, theo Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự (đã hết hiệu lực) quy định: Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo bằng văn bản cho người khởi kiện biết. Thủ tục chuyển đơn khởi kiện được thực hiện theo quy định tại Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và hướng dẫn tại Điều 10 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định tại Phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật Tố tụng dân sự[5] đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự (đã hết hiệu lực). Theo đó, thủ tục và hồ sơ chuyển đơn khởi kiện được thực hiện tương tự như thủ tục chuyển vụ án dân sự cho Tòa án khác giải quyết, cụ thể: “Khi xét thấy vụ việc dân sự đã được thụ lý không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình mà thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân địa phương khác cùng cấp hoặc khác cấp, thì Tòa án đã thụ lý vụ việc dân sự ra quyết định chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho Tòa án có thẩm quyền và xóa sổ thụ lý. Quyết định này phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp, đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan. Tòa án có thẩm quyền sau khi nhận được quyết định chuyển vụ việc dân sự và hồ sơ vụ việc dân sự phải vào sổ thụ lý và tiếp tục giải quyết vụ việc đó theo quy định chung”[6].

Hồ sơ khởi kiện của người khởi kiện khi nộp tại Tòa án bao gồm đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo. Sau khi Tòa án nhận và xử lý đơn khởi kiện sẽ phát sinh thêm một số các văn bản liên quan đến thủ tục nhận và xử lý đơn. Vì vậy, hồ sơ nhận và xử lý đơn khởi kiện cũng có tầm quan trọng như hồ sơ của một vụ án. Tuy nhiên, do thiếu các quy định hướng dẫn đối với thủ tục chuyển đơn khởi kiện nên thực tế hiện nay, việc chuyển đơn khởi kiện đều phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của các Tòa án. Hầu hết, các Tòa án nhận đơn khi nhận thấy đơn khởi kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác, thì chỉ tiến hành một thủ tục đơn giản là ra thông báo chuyển đơn khởi kiện và gửi kèm theo đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ do người khởi kiện giao nộp cho Tòa án có thẩm quyền mà không nêu rõ hồ sơ gửi kèm theo đơn khởi kiện bao gồm những tài liệu, chứng cứ gì. Những tài liệu, chứng cứ này thông thường cũng không được liệt kê và đánh số bút lục như hồ sơ vụ án. Trong trường hợp nếu có thất lạc thì cũng không xác định được tài liệu, chứng cứ gửi kèm theo đơn có đầy đủ hay chưa.

Như vậy, từ những phân tích ở trên, có thể tổng hợp một số vướng mắc, bất cập về chuyển đơn khởi kiện như sau:

Thứ nhất, do Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chưa quy định cụ thể về hình thức chuyển đơn khởi kiện bằng quyết định hay thông báo cho nên việc áp dụng pháp luật về chuyển đơn khởi kiện không thống nhất giữa các Tòa án. Có Tòa án ban hành thông báo chuyển đơn khởi kiện, có Tòa án ban hành quyết định chuyển đơn khởi kiện, trong khi nội dung của quyết định và thông báo hoàn toàn giống nhau.

Thứ hai, qua thực tiễn nghiên cứu cho thấy, các hồ sơ chuyển đơn khởi kiện trong một số trường hợp còn sơ sài, hầu hết đều không có các văn bản cần thiết như: Giấy xác nhận đã nhận đơn khởi kiện hoặc thông báo nhận đơn; biên bản giao nhận tài liệu, chứng cứ kèm theo do nguyên đơn giao nộp; thông báo chuyển đơn khởi kiện; biên bản giao thông báo chuyển đơn khởi kiện cho người khởi kiện và Viện kiểm sát; phiếu chuyển kèm theo bảng kê tài liệu, văn bản của hồ sơ chuyển đơn khởi kiện… Vì vậy, Tòa án nơi nhận được hồ sơ chuyển đơn khởi kiện không thể thực hiện việc hoàn trả lại phiếu chuyển cho Tòa án nơi chuyển nhằm phục vụ công tác lưu trữ và thông báo, xác nhận đã nhận được hồ sơ khởi kiện.

Thứ ba, nội dung quyết định chuyển đơn khởi kiện hay thông báo chuyển đơn khởi kiện mới chỉ dừng lại ở việc Tòa án thông báo cho người khởi kiện được biết về việc Tòa án đã chuyển đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo cho một Tòa án khác có thẩm quyền giải quyết, mà không có nội dung thông báo cho Viện kiểm sát được biết về việc chuyển đơn khởi kiện. Ngoài ra, quyết định hoặc thông báo chưa có nội dung giải thích về lý do, căn cứ của việc chuyển đơn, cũng như chưa có các nội dung thông báo về quyền khiếu nại của đương sự, quyền kiến nghị của Viện kiểm sát và thời hạn khiếu nại, kiến nghị.

3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về chuyển đơn khởi kiện

Một là, cần phải có văn bản hướng dẫn cụ thể về thủ tục chuyển đơn khởi kiện để các Tòa án áp dụng dưới một hình thức văn bản thống nhất. Theo đó, văn bản phải bảo đảm bao gồm các nội dung về quyền khiếu nại của đương sự và kiến nghị của Viện kiểm sát; thẩm quyền giải quyết khiếu nại, kiến nghị đối với việc chuyển đơn khởi kiện. Có như vậy mới bảo đảm được ác nguyên tắc tố tụng, bảo đảm việc kiểm sát hoạt động tố tụng và quyền lợi chính đáng của đương sự.

Hai là, Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn riêng đối với thủ tục chuyển đơn khởi kiện cần ban hành kèm theo biểu mẫu về thông báo chuyển đơn khởi kiện thay thế cho Biểu mẫu số 25-DS (ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao). Cụ thể trong hồ sơ chuyển đơn khởi kiện cần bao gồm:

- Đơn khởi kiện;

- Toàn bộ các tài liệu, chứng cứ kèm theo do nguyên đơn giao nộp và biên bản giao nhận tài liệu, chứng cứ;

- Giấy xác nhận đã nhận đơn khởi kiện hoặc thông báo nhận đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (để Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án có căn cứ xác định thời hiệu khởi kiện);

- Thông báo chuyển đơn khởi kiện và thủ tục giao nhận, tống đạt thông báo chuyển đơn khởi kiện cho Viện kiểm sát và người khởi kiện;

- Phiếu chuyển kèm theo bảng kê tài liệu, văn bản của toàn bộ hồ sơ chuyển đơn khởi kiện.

Tóm lại, chuyển đơn khởi kiện trong tố tụng dân sự dựa trên các quy định về thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Xuất phát từ yêu cầu phải bảo đảm nguyên tắc xét xử kịp thời trong tố tụng dân sự, từ thực tế đa dạng, phức tạp của các vụ án dân sự và từ nhu cầu cần được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, đòi hỏi Tòa án phải kết hợp sử dụng nhiều biện pháp tố tụng khác nhau để giải quyết vụ án dân sự. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có các quy định đầy đủ cũng như chưa có các văn bản hướng dẫn cụ thể nên thủ tục chuyển đơn khởi kiện vẫn chưa thực sự được quan tâm, chú trọng và chủ yếu phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của cơ quan tiến hành tố tụng. Điều này chưa bảo đảm các quyền khiếu nại của đương sự, cũng như kiến nghị của Viện kiểm sát… Vì vậy, trong thời gian tới, cần có những giải pháp sửa đổi, bổ sung kịp thời để hoàn thiện pháp luật về chuyển đơn khởi kiện./.

Phan Thị Chánh Lý

Trường Đại học Trà Vinh

[1]. Bài viết là kết quả nghiên cứu được tài trợ bởi Trường Đại học Trà Vinh thông qua Hợp đồng số: 381/2023/HĐ.HĐKH&ĐT-ĐHTV.

[2]. Từ điển tiếng Việt (2007), Nxb. Từ điển Bách khoa, tr. 274.

[3]. Điểm c khoản 3 Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[4]. Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[5]. Điểm b khoản 4 Điều 7 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

[6]. Điều 10 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định tại Phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi; bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 402), tháng 4/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.
Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trên cơ sở kế thừa, bổ sung nhiều quy định mới về nguyên tắc định hướng, chủ thể giám sát, nội dung và quy trình để hoạt động giám sát đạt hiệu quả, chất lượng. Việc gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương có tính chất tương hỗ để hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.
Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: