Thứ hai 09/03/2026 07:36
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề về giải quyết việc nuôi con nuôi đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Ngoài quy định của Nghị định số 138/2006/NĐ-CP và Luật Quốc tịch về khái niệm người Việt Nam định cư ở nước ngoài nêu trên, các văn bản quy phạm pháp luật khác có điều chỉnh riêng đối với người Việt Nam định

Hiện nay, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có hơn 4 triệu người, phân bố không đồng đều tại 103 nước và vùng lãnh thổ trên khắp thế giới. Nhà nước ta luôn có chính sách khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước. Đối với lĩnh vực nuôi con nuôi, trong thời gian qua, công tác giải quyết việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam thường trú ở trong nước làm con nuôi đã đem lại những kết quả tích cực, giúp nhiều trẻ em có hoàn cảnh khó khăn được nuôi dưỡng trong môi trường gia đình và xã hội mới, đảm bảo trẻ em phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần. Tuy nhiên, công tác này cũng bộc lộ những hạn chế nhất định, làm ảnh hưởng đến lợi ích của trẻ em, do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài không công nhận giá trị pháp lý của Giấy chứng nhận việc nuôi con nuôi do Ủy ban nhân cấp xã cấp trong trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam thường trú ở trong nước làm con nuôi. Bài viết này sẽ đánh giá thực trạng, phân tích nguyên nhân và đề xuất giải pháp khắc phục tình trạng này.

1. Khái niệm người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Về khái niệm người Việt Nam định cư ở nước ngoài, pháp luật Việt Nam quy định như sau:
Theo khoản 3 Điều 3 Nghị định số 138/2006/NĐ-CP ngày 15/11/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật Dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (Nghị định số 138/2006/NĐ-CP), người Việt Nam định cư ở nước ngoài là người có quốc tịch Việt Nam và người gốc Việt Nam đang cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài.

Theo khoản 3 Điều 3 Luật Quốc tịch năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài. Theo khoản 4 Điều 3 Luật Quốc tịch năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài.

Ngoài quy định của Nghị định số 138/2006/NĐ-CP và Luật Quốc tịch về khái niệm người Việt Nam định cư ở nước ngoài nêu trên, các văn bản quy phạm pháp luật khác có điều chỉnh riêng đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhưng không có khái niệm, chẳng hạn, Thông tư liên tịch số 05/2009/TTLT-BCA-BNG ngày 12/5/2009 của Bộ Công an và Bộ Ngoại giao hướng dẫn thủ tục giải quyết cho công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài đăng ký thường trú tại Việt Nam (đã hết hiệu lực thi hành), Nghị định số 82/2015/NĐ-CP ngày 24/9/2015 của Chính phủ quy định về việc miễn thị thực cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài là vợ, chồng, con của người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc của công dân Việt Nam…

Như vậy, có thể khẳng định rằng, về phương diện pháp lý, khái niệm người Việt Nam định cư ở nước ngoài được hiểu thống nhất theo quy định của Nghị định số 138/2006/NĐ-CP, Luật Quốc tịch và dựa trên 02 tiêu chí là quốc tịch Việt Nam (công dân Việt Nam hoặc có quốc tịch Việt Nam theo huyết thống) và có thời gian cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài. Trong các văn bản quy phạm pháp luật khác, thuật ngữ người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sử dụng phổ biến nhưng không có định nghĩa cụ thể nên có thể hiểu rằng, nội hàm của thuật ngữ này cũng dựa trên khái niệm được nêu trên đây. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài trong nhiều trường hợp rất khó khăn, do không có hướng dẫn cụ thể thế nào được coi là “có thời gian cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”. Có quan điểm cho rằng, có thể căn cứ vào việc công dân Việt Nam đã nhập quốc tịch nước ngoài hoặc đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước ngoài cho phép thường trú (được cấp thẻ thường trú) tại nước ngoài. Theo quan điểm khác thì có thể căn cứ vào khoảng thời gian nhất định mà công dân Việt Nam đã sinh sống ở nước ngoài (5 năm, 7 năm…), không tính đến mục đích của việc cư trú đó (chẳng hạn công dân Việt Nam đi du học).

Để có cách hiểu và áp dụng đúng pháp luật đối với đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cần có quy định pháp luật hướng dẫn cụ thể về khái niệm này, đặc biệt là các tiêu chí để xác định “cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”.

2. Quy định của pháp luật về nuôi con nuôi đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Văn bản pháp luật đầu tiên điều chỉnh vấn đề nuôi con nuôi nước ngoài là Quyết định số 145-HĐBT ngày 29/4/1992 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành quy định tạm thời về việc cho người nước ngoài nhận con nuôi là trẻ em Việt Nam bị mồ côi, bị bỏ rơi, bị tàn tật ở các cơ sở nuôi dưỡng do ngành Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý (Quyết định số 145-HĐBT). Đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài không được điều chỉnh trong văn bản này. Do vậy, có thể hiểu rằng, ở thời điểm đó chưa có quy định pháp luật về nuôi con nuôi áp dụng đối với trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam thường trú trong nước làm con nuôi.

Ngày 30/11/1994, Chính phủ ban hành Nghị định số 184-CP quy định về thủ tục kết hôn, nhận con ngoài giá thú, nuôi con nuôi, nhận đỡ đầu giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài (Nghị định số 184-CP). Nghị định này bãi bỏ Quyết định số 145-HĐBT. Về nuôi con nuôi, các quy định của Nghị định số 184-CP được áp dụng đối với trường hợp người nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam thường trú tại Việt Nam hoặc trẻ em Việt Nam cư trú ở nước ngoài làm con nuôi. Như vậy, quy định của Nghị định số 184-CP cũng không được áp dụng đối với trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi.

Ngày 10/7/2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 68/2002/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài (Nghị định số 68/2002/NĐ-CP). Nghị định này thay thế Nghị định số 184-CP. Đây là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên điều chỉnh vấn đề nuôi con nuôi của công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài. Về vấn đề nuôi con nuôi, các quy định của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP được áp dụng đối với trường hợp nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài thường trú tại Việt Nam với nhau và giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài. Trong trường hợp công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi thì không bị giới hạn về đối tượng trẻ em được nhận làm con nuôi theo quy định tại khoản 2 Điều 36 Nghị định số 68/2002/NĐ-CP.

Luật Nuôi con nuôi kế thừa những quy định tiến bộ của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP, trong đó có quy định điều chỉnh vấn đề nuôi con nuôi của công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài. Khoản 5 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi quy định rõ rằng, việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài là nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Do đó, các quy định của Luật Nuôi con nuôi về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được áp dụng đối với việc công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam thường trú ở trong nước làm con nuôi.

Quy định của Luật Nuôi con nuôi về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài dựa trên quy định tại Điều 758 Bộ luật Dân sự năm 2005 về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Theo đó, quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài. Quy định của Luật Nuôi con nuôi về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài hiện nay vẫn phù hợp với quy định tại khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, khái niệm quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong Bộ luật Dân sự năm 2015 có phạm vi hẹp hơn so với Bộ luật Dân sự năm 2005. Khoản 2 Điều 663 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây: Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài; các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài; các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài. Như vậy, theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài xác lập quan hệ nuôi con nuôi tại Việt Nam không phải là quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, nghĩa là không phải việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Quy định này của Bộ luật Dân sự năm 2015 không phù hợp trong lĩnh vực nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Nếu coi việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam thường trú trong nước làm con nuôi là nuôi con nuôi trong nước thì phải áp dụng quy định pháp luật về nuôi con nuôi trong nước. Như vậy sẽ không đáp ứng yêu cầu của Công ước La Hay năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi quốc tế (Công ước La Hay). Vì theo quy định tại Điều 2 Công ước La Hay, Công ước phải được áp dụng khi một trẻ em thường trú ở quốc gia ký kết này đã, đang hoặc sẽ được chuyển đến một quốc gia khác sau khi được một người hoặc một cặp vợ chồng thường trú ở quốc gia khác nhận làm con nuôi. Do đó, việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài (thường xuyên sinh sống, làm việc ở nước ngoài) nhận trẻ em Việt Nam thường trú ở trong nước làm con nuôi phải áp dụng Công ước La Hay, vì trẻ em sau khi được nhận làm con nuôi sẽ được chuyển đến nước nơi người nhận con nuôi thường trú.

3. Thực tiễn công tác giải quyết việc nuôi con nuôi đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Trong thời gian qua, đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam thường trú ở trong nước làm con nuôi chủ yếu là những người đi lao động, học tập sau đó ở lại định cư tại các nước như Séc, Hungari, Úc… Đối tượng trẻ em được nhận làm con nuôi chủ yếu là trẻ em thuộc diện có quan hệ họ hàng, đang ở độ tuổi đi học. Người xin nhận con nuôi trong các trường hợp là người Việt Nam vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú ở trong nước nhưng thực tế đã sinh sống, làm ăn lâu dài ở nước ngoài, thậm chí có người đã được cấp thẻ thường trú hoặc đã có quốc tịch nước ngoài, hàng năm chỉ về Việt Nam một đến hai lần để thăm người thân.

Theo quy định của Công ước La Hay, pháp luật của các nước và tại khoản 1 Điều 28 Luật Nuôi con nuôi thì đây là trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, thẩm quyền quyết định thuộc về Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Tuy nhiên, trong thời gian qua, nhiều Ủy ban nhân dân cấp xã đã tiến hành đăng ký việc nuôi con nuôi trong các trường hợp trên theo thủ tục nuôi con nuôi trong nước. Việc Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi là không đúng thẩm quyền, dẫn đến hậu quả Giấy chứng nhận nuôi con nuôi không được cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài công nhận, trẻ em không được nhập cảnh và thường trú ở nước ngoài và phía nước ngoài nghi ngờ sự trung thực của cơ quan có thẩm quyền Việt Nam. Trước thực trạng trên, Cục Con nuôi đã có Công văn số 277/CCN-CSVB ngày 07/6/2017 gửi Sở Tư pháp các tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương đề nghị quán triệt Ủy ban nhân dân cấp xã nếu có thông tin xác định được người nhận con nuôi là công dân Việt Nam đang cư trú, sinh sống ở nước ngoài thì không tiến hành đăng ký việc nuôi con nuôi.

Nguyên nhân của tình trạng đăng ký nuôi con nuôi không đúng thẩm quyền nêu trên là do không có hướng dẫn cụ thể về các tiêu chí để xác định thế nào là người Việt Nam định cư ở nước ngoài (thời gian cư trú, sinh sống 3 năm, 5 năm hay 7 năm...). Do đó, các địa phương chỉ căn cứ vào giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền Việt Nam cấp (đa số là sổ hộ khẩu và chứng minh thư nhân dân) để xác định người nhận con nuôi vẫn thường trú tại Việt Nam. Ngoài ra, cũng có tình trạng do nể nang nên mặc dù biết là người dân đã ra nước ngoài sinh sống nhiều năm nhưng vẫn tiến hành đăng ký việc nuôi con nuôi theo diện nuôi con nuôi trong nước.

Để hạn chế tình trạng đăng ký không đúng thẩm quyền đối với trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam thường trú trong nước làm con nuôi, cần có hướng dẫn cụ thể các tiêu chí để xác định thế nào là người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Theo hướng dẫn của Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế, các cơ quan có thẩm quyền có thể căn cứ vào những yếu tố sau đây:

- Khoảng thời gian người nhận con nuôi đã sống ở nước ngoài;

- Ý định của họ về việc cư trú tại nước đó (họ dự kiến sẽ ở đó trong bao lâu nữa, họ có hợp đồng lao động chắc chắn không, họ nhìn nhận việc cư trú ở đó như thế nào, họ có ý định trở về nước nơi họ có quốc tịch khi hợp đồng lao động hết hạn không?);

- Mục đích, lý do của việc họ cư trú ở đó, bao gồm cả những điều kiện liên quan đến việc cư trú này;

- Sự gắn bó của họ với nước này, bao gồm sự gắn bó về đời sống cá nhân, xã hội và kinh tế (chẳng hạn như có nhà cửa, có công việc và thu nhập chính, con cái học hành ở đó…);

- Sự tiếp tục gắn bó với nước nơi họ có quốc tịch (chẳng hạn họ có còn sở hữu bất động sản ở đó không?).

Ngoài ra, điều quan trọng là cán bộ làm công tác đăng ký nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, không nể nang, không vì áp lực của người dân và khi đăng ký việc nuôi con nuôi cần xác minh đầy đủ thông tin. Trường hợp có thông tin về việc người nhận con nuôi thuộc diện làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài thì không đăng ký việc nuôi con nuôi để tránh tình trạng cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài không tin tưởng vào quyết định của cơ quan có thẩm quyền Việt Nam, từ đó ảnh hưởng đến uy tín của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế.

Đào Thị Hà

Cục Con nuôi

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: