Thứ tư 15/04/2026 07:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề về giải quyết việc nuôi con nuôi đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Ngoài quy định của Nghị định số 138/2006/NĐ-CP và Luật Quốc tịch về khái niệm người Việt Nam định cư ở nước ngoài nêu trên, các văn bản quy phạm pháp luật khác có điều chỉnh riêng đối với người Việt Nam định

Hiện nay, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có hơn 4 triệu người, phân bố không đồng đều tại 103 nước và vùng lãnh thổ trên khắp thế giới. Nhà nước ta luôn có chính sách khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước. Đối với lĩnh vực nuôi con nuôi, trong thời gian qua, công tác giải quyết việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam thường trú ở trong nước làm con nuôi đã đem lại những kết quả tích cực, giúp nhiều trẻ em có hoàn cảnh khó khăn được nuôi dưỡng trong môi trường gia đình và xã hội mới, đảm bảo trẻ em phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần. Tuy nhiên, công tác này cũng bộc lộ những hạn chế nhất định, làm ảnh hưởng đến lợi ích của trẻ em, do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài không công nhận giá trị pháp lý của Giấy chứng nhận việc nuôi con nuôi do Ủy ban nhân cấp xã cấp trong trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam thường trú ở trong nước làm con nuôi. Bài viết này sẽ đánh giá thực trạng, phân tích nguyên nhân và đề xuất giải pháp khắc phục tình trạng này.

1. Khái niệm người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Về khái niệm người Việt Nam định cư ở nước ngoài, pháp luật Việt Nam quy định như sau:
Theo khoản 3 Điều 3 Nghị định số 138/2006/NĐ-CP ngày 15/11/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật Dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (Nghị định số 138/2006/NĐ-CP), người Việt Nam định cư ở nước ngoài là người có quốc tịch Việt Nam và người gốc Việt Nam đang cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài.

Theo khoản 3 Điều 3 Luật Quốc tịch năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài. Theo khoản 4 Điều 3 Luật Quốc tịch năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài.

Ngoài quy định của Nghị định số 138/2006/NĐ-CP và Luật Quốc tịch về khái niệm người Việt Nam định cư ở nước ngoài nêu trên, các văn bản quy phạm pháp luật khác có điều chỉnh riêng đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhưng không có khái niệm, chẳng hạn, Thông tư liên tịch số 05/2009/TTLT-BCA-BNG ngày 12/5/2009 của Bộ Công an và Bộ Ngoại giao hướng dẫn thủ tục giải quyết cho công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài đăng ký thường trú tại Việt Nam (đã hết hiệu lực thi hành), Nghị định số 82/2015/NĐ-CP ngày 24/9/2015 của Chính phủ quy định về việc miễn thị thực cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài là vợ, chồng, con của người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc của công dân Việt Nam…

Như vậy, có thể khẳng định rằng, về phương diện pháp lý, khái niệm người Việt Nam định cư ở nước ngoài được hiểu thống nhất theo quy định của Nghị định số 138/2006/NĐ-CP, Luật Quốc tịch và dựa trên 02 tiêu chí là quốc tịch Việt Nam (công dân Việt Nam hoặc có quốc tịch Việt Nam theo huyết thống) và có thời gian cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài. Trong các văn bản quy phạm pháp luật khác, thuật ngữ người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sử dụng phổ biến nhưng không có định nghĩa cụ thể nên có thể hiểu rằng, nội hàm của thuật ngữ này cũng dựa trên khái niệm được nêu trên đây. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài trong nhiều trường hợp rất khó khăn, do không có hướng dẫn cụ thể thế nào được coi là “có thời gian cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”. Có quan điểm cho rằng, có thể căn cứ vào việc công dân Việt Nam đã nhập quốc tịch nước ngoài hoặc đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước ngoài cho phép thường trú (được cấp thẻ thường trú) tại nước ngoài. Theo quan điểm khác thì có thể căn cứ vào khoảng thời gian nhất định mà công dân Việt Nam đã sinh sống ở nước ngoài (5 năm, 7 năm…), không tính đến mục đích của việc cư trú đó (chẳng hạn công dân Việt Nam đi du học).

Để có cách hiểu và áp dụng đúng pháp luật đối với đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cần có quy định pháp luật hướng dẫn cụ thể về khái niệm này, đặc biệt là các tiêu chí để xác định “cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”.

2. Quy định của pháp luật về nuôi con nuôi đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Văn bản pháp luật đầu tiên điều chỉnh vấn đề nuôi con nuôi nước ngoài là Quyết định số 145-HĐBT ngày 29/4/1992 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành quy định tạm thời về việc cho người nước ngoài nhận con nuôi là trẻ em Việt Nam bị mồ côi, bị bỏ rơi, bị tàn tật ở các cơ sở nuôi dưỡng do ngành Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý (Quyết định số 145-HĐBT). Đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài không được điều chỉnh trong văn bản này. Do vậy, có thể hiểu rằng, ở thời điểm đó chưa có quy định pháp luật về nuôi con nuôi áp dụng đối với trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam thường trú trong nước làm con nuôi.

Ngày 30/11/1994, Chính phủ ban hành Nghị định số 184-CP quy định về thủ tục kết hôn, nhận con ngoài giá thú, nuôi con nuôi, nhận đỡ đầu giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài (Nghị định số 184-CP). Nghị định này bãi bỏ Quyết định số 145-HĐBT. Về nuôi con nuôi, các quy định của Nghị định số 184-CP được áp dụng đối với trường hợp người nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam thường trú tại Việt Nam hoặc trẻ em Việt Nam cư trú ở nước ngoài làm con nuôi. Như vậy, quy định của Nghị định số 184-CP cũng không được áp dụng đối với trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi.

Ngày 10/7/2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 68/2002/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài (Nghị định số 68/2002/NĐ-CP). Nghị định này thay thế Nghị định số 184-CP. Đây là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên điều chỉnh vấn đề nuôi con nuôi của công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài. Về vấn đề nuôi con nuôi, các quy định của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP được áp dụng đối với trường hợp nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài thường trú tại Việt Nam với nhau và giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài. Trong trường hợp công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi thì không bị giới hạn về đối tượng trẻ em được nhận làm con nuôi theo quy định tại khoản 2 Điều 36 Nghị định số 68/2002/NĐ-CP.

Luật Nuôi con nuôi kế thừa những quy định tiến bộ của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP, trong đó có quy định điều chỉnh vấn đề nuôi con nuôi của công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài. Khoản 5 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi quy định rõ rằng, việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài là nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Do đó, các quy định của Luật Nuôi con nuôi về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được áp dụng đối với việc công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam thường trú ở trong nước làm con nuôi.

Quy định của Luật Nuôi con nuôi về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài dựa trên quy định tại Điều 758 Bộ luật Dân sự năm 2005 về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Theo đó, quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài. Quy định của Luật Nuôi con nuôi về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài hiện nay vẫn phù hợp với quy định tại khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, khái niệm quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong Bộ luật Dân sự năm 2015 có phạm vi hẹp hơn so với Bộ luật Dân sự năm 2005. Khoản 2 Điều 663 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây: Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài; các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài; các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài. Như vậy, theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài xác lập quan hệ nuôi con nuôi tại Việt Nam không phải là quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, nghĩa là không phải việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Quy định này của Bộ luật Dân sự năm 2015 không phù hợp trong lĩnh vực nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Nếu coi việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam thường trú trong nước làm con nuôi là nuôi con nuôi trong nước thì phải áp dụng quy định pháp luật về nuôi con nuôi trong nước. Như vậy sẽ không đáp ứng yêu cầu của Công ước La Hay năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi quốc tế (Công ước La Hay). Vì theo quy định tại Điều 2 Công ước La Hay, Công ước phải được áp dụng khi một trẻ em thường trú ở quốc gia ký kết này đã, đang hoặc sẽ được chuyển đến một quốc gia khác sau khi được một người hoặc một cặp vợ chồng thường trú ở quốc gia khác nhận làm con nuôi. Do đó, việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài (thường xuyên sinh sống, làm việc ở nước ngoài) nhận trẻ em Việt Nam thường trú ở trong nước làm con nuôi phải áp dụng Công ước La Hay, vì trẻ em sau khi được nhận làm con nuôi sẽ được chuyển đến nước nơi người nhận con nuôi thường trú.

3. Thực tiễn công tác giải quyết việc nuôi con nuôi đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Trong thời gian qua, đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam thường trú ở trong nước làm con nuôi chủ yếu là những người đi lao động, học tập sau đó ở lại định cư tại các nước như Séc, Hungari, Úc… Đối tượng trẻ em được nhận làm con nuôi chủ yếu là trẻ em thuộc diện có quan hệ họ hàng, đang ở độ tuổi đi học. Người xin nhận con nuôi trong các trường hợp là người Việt Nam vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú ở trong nước nhưng thực tế đã sinh sống, làm ăn lâu dài ở nước ngoài, thậm chí có người đã được cấp thẻ thường trú hoặc đã có quốc tịch nước ngoài, hàng năm chỉ về Việt Nam một đến hai lần để thăm người thân.

Theo quy định của Công ước La Hay, pháp luật của các nước và tại khoản 1 Điều 28 Luật Nuôi con nuôi thì đây là trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, thẩm quyền quyết định thuộc về Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Tuy nhiên, trong thời gian qua, nhiều Ủy ban nhân dân cấp xã đã tiến hành đăng ký việc nuôi con nuôi trong các trường hợp trên theo thủ tục nuôi con nuôi trong nước. Việc Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi là không đúng thẩm quyền, dẫn đến hậu quả Giấy chứng nhận nuôi con nuôi không được cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài công nhận, trẻ em không được nhập cảnh và thường trú ở nước ngoài và phía nước ngoài nghi ngờ sự trung thực của cơ quan có thẩm quyền Việt Nam. Trước thực trạng trên, Cục Con nuôi đã có Công văn số 277/CCN-CSVB ngày 07/6/2017 gửi Sở Tư pháp các tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương đề nghị quán triệt Ủy ban nhân dân cấp xã nếu có thông tin xác định được người nhận con nuôi là công dân Việt Nam đang cư trú, sinh sống ở nước ngoài thì không tiến hành đăng ký việc nuôi con nuôi.

Nguyên nhân của tình trạng đăng ký nuôi con nuôi không đúng thẩm quyền nêu trên là do không có hướng dẫn cụ thể về các tiêu chí để xác định thế nào là người Việt Nam định cư ở nước ngoài (thời gian cư trú, sinh sống 3 năm, 5 năm hay 7 năm...). Do đó, các địa phương chỉ căn cứ vào giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền Việt Nam cấp (đa số là sổ hộ khẩu và chứng minh thư nhân dân) để xác định người nhận con nuôi vẫn thường trú tại Việt Nam. Ngoài ra, cũng có tình trạng do nể nang nên mặc dù biết là người dân đã ra nước ngoài sinh sống nhiều năm nhưng vẫn tiến hành đăng ký việc nuôi con nuôi theo diện nuôi con nuôi trong nước.

Để hạn chế tình trạng đăng ký không đúng thẩm quyền đối với trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam thường trú trong nước làm con nuôi, cần có hướng dẫn cụ thể các tiêu chí để xác định thế nào là người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Theo hướng dẫn của Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế, các cơ quan có thẩm quyền có thể căn cứ vào những yếu tố sau đây:

- Khoảng thời gian người nhận con nuôi đã sống ở nước ngoài;

- Ý định của họ về việc cư trú tại nước đó (họ dự kiến sẽ ở đó trong bao lâu nữa, họ có hợp đồng lao động chắc chắn không, họ nhìn nhận việc cư trú ở đó như thế nào, họ có ý định trở về nước nơi họ có quốc tịch khi hợp đồng lao động hết hạn không?);

- Mục đích, lý do của việc họ cư trú ở đó, bao gồm cả những điều kiện liên quan đến việc cư trú này;

- Sự gắn bó của họ với nước này, bao gồm sự gắn bó về đời sống cá nhân, xã hội và kinh tế (chẳng hạn như có nhà cửa, có công việc và thu nhập chính, con cái học hành ở đó…);

- Sự tiếp tục gắn bó với nước nơi họ có quốc tịch (chẳng hạn họ có còn sở hữu bất động sản ở đó không?).

Ngoài ra, điều quan trọng là cán bộ làm công tác đăng ký nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, không nể nang, không vì áp lực của người dân và khi đăng ký việc nuôi con nuôi cần xác minh đầy đủ thông tin. Trường hợp có thông tin về việc người nhận con nuôi thuộc diện làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài thì không đăng ký việc nuôi con nuôi để tránh tình trạng cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài không tin tưởng vào quyết định của cơ quan có thẩm quyền Việt Nam, từ đó ảnh hưởng đến uy tín của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế.

Đào Thị Hà

Cục Con nuôi

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.

Theo dõi chúng tôi trên: