Thứ ba 28/07/2026 09:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề về giải quyết việc nuôi con nuôi đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Ngoài quy định của Nghị định số 138/2006/NĐ-CP và Luật Quốc tịch về khái niệm người Việt Nam định cư ở nước ngoài nêu trên, các văn bản quy phạm pháp luật khác có điều chỉnh riêng đối với người Việt Nam định

Hiện nay, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có hơn 4 triệu người, phân bố không đồng đều tại 103 nước và vùng lãnh thổ trên khắp thế giới. Nhà nước ta luôn có chính sách khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước. Đối với lĩnh vực nuôi con nuôi, trong thời gian qua, công tác giải quyết việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam thường trú ở trong nước làm con nuôi đã đem lại những kết quả tích cực, giúp nhiều trẻ em có hoàn cảnh khó khăn được nuôi dưỡng trong môi trường gia đình và xã hội mới, đảm bảo trẻ em phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần. Tuy nhiên, công tác này cũng bộc lộ những hạn chế nhất định, làm ảnh hưởng đến lợi ích của trẻ em, do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài không công nhận giá trị pháp lý của Giấy chứng nhận việc nuôi con nuôi do Ủy ban nhân cấp xã cấp trong trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam thường trú ở trong nước làm con nuôi. Bài viết này sẽ đánh giá thực trạng, phân tích nguyên nhân và đề xuất giải pháp khắc phục tình trạng này.

1. Khái niệm người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Về khái niệm người Việt Nam định cư ở nước ngoài, pháp luật Việt Nam quy định như sau:
Theo khoản 3 Điều 3 Nghị định số 138/2006/NĐ-CP ngày 15/11/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật Dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (Nghị định số 138/2006/NĐ-CP), người Việt Nam định cư ở nước ngoài là người có quốc tịch Việt Nam và người gốc Việt Nam đang cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài.

Theo khoản 3 Điều 3 Luật Quốc tịch năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài. Theo khoản 4 Điều 3 Luật Quốc tịch năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài.

Ngoài quy định của Nghị định số 138/2006/NĐ-CP và Luật Quốc tịch về khái niệm người Việt Nam định cư ở nước ngoài nêu trên, các văn bản quy phạm pháp luật khác có điều chỉnh riêng đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhưng không có khái niệm, chẳng hạn, Thông tư liên tịch số 05/2009/TTLT-BCA-BNG ngày 12/5/2009 của Bộ Công an và Bộ Ngoại giao hướng dẫn thủ tục giải quyết cho công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài đăng ký thường trú tại Việt Nam (đã hết hiệu lực thi hành), Nghị định số 82/2015/NĐ-CP ngày 24/9/2015 của Chính phủ quy định về việc miễn thị thực cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài là vợ, chồng, con của người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc của công dân Việt Nam…

Như vậy, có thể khẳng định rằng, về phương diện pháp lý, khái niệm người Việt Nam định cư ở nước ngoài được hiểu thống nhất theo quy định của Nghị định số 138/2006/NĐ-CP, Luật Quốc tịch và dựa trên 02 tiêu chí là quốc tịch Việt Nam (công dân Việt Nam hoặc có quốc tịch Việt Nam theo huyết thống) và có thời gian cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài. Trong các văn bản quy phạm pháp luật khác, thuật ngữ người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sử dụng phổ biến nhưng không có định nghĩa cụ thể nên có thể hiểu rằng, nội hàm của thuật ngữ này cũng dựa trên khái niệm được nêu trên đây. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài trong nhiều trường hợp rất khó khăn, do không có hướng dẫn cụ thể thế nào được coi là “có thời gian cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”. Có quan điểm cho rằng, có thể căn cứ vào việc công dân Việt Nam đã nhập quốc tịch nước ngoài hoặc đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước ngoài cho phép thường trú (được cấp thẻ thường trú) tại nước ngoài. Theo quan điểm khác thì có thể căn cứ vào khoảng thời gian nhất định mà công dân Việt Nam đã sinh sống ở nước ngoài (5 năm, 7 năm…), không tính đến mục đích của việc cư trú đó (chẳng hạn công dân Việt Nam đi du học).

Để có cách hiểu và áp dụng đúng pháp luật đối với đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cần có quy định pháp luật hướng dẫn cụ thể về khái niệm này, đặc biệt là các tiêu chí để xác định “cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”.

2. Quy định của pháp luật về nuôi con nuôi đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Văn bản pháp luật đầu tiên điều chỉnh vấn đề nuôi con nuôi nước ngoài là Quyết định số 145-HĐBT ngày 29/4/1992 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành quy định tạm thời về việc cho người nước ngoài nhận con nuôi là trẻ em Việt Nam bị mồ côi, bị bỏ rơi, bị tàn tật ở các cơ sở nuôi dưỡng do ngành Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý (Quyết định số 145-HĐBT). Đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài không được điều chỉnh trong văn bản này. Do vậy, có thể hiểu rằng, ở thời điểm đó chưa có quy định pháp luật về nuôi con nuôi áp dụng đối với trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam thường trú trong nước làm con nuôi.

Ngày 30/11/1994, Chính phủ ban hành Nghị định số 184-CP quy định về thủ tục kết hôn, nhận con ngoài giá thú, nuôi con nuôi, nhận đỡ đầu giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài (Nghị định số 184-CP). Nghị định này bãi bỏ Quyết định số 145-HĐBT. Về nuôi con nuôi, các quy định của Nghị định số 184-CP được áp dụng đối với trường hợp người nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam thường trú tại Việt Nam hoặc trẻ em Việt Nam cư trú ở nước ngoài làm con nuôi. Như vậy, quy định của Nghị định số 184-CP cũng không được áp dụng đối với trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi.

Ngày 10/7/2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 68/2002/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài (Nghị định số 68/2002/NĐ-CP). Nghị định này thay thế Nghị định số 184-CP. Đây là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên điều chỉnh vấn đề nuôi con nuôi của công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài. Về vấn đề nuôi con nuôi, các quy định của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP được áp dụng đối với trường hợp nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài thường trú tại Việt Nam với nhau và giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài. Trong trường hợp công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi thì không bị giới hạn về đối tượng trẻ em được nhận làm con nuôi theo quy định tại khoản 2 Điều 36 Nghị định số 68/2002/NĐ-CP.

Luật Nuôi con nuôi kế thừa những quy định tiến bộ của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP, trong đó có quy định điều chỉnh vấn đề nuôi con nuôi của công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài. Khoản 5 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi quy định rõ rằng, việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài là nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Do đó, các quy định của Luật Nuôi con nuôi về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được áp dụng đối với việc công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam thường trú ở trong nước làm con nuôi.

Quy định của Luật Nuôi con nuôi về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài dựa trên quy định tại Điều 758 Bộ luật Dân sự năm 2005 về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Theo đó, quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài. Quy định của Luật Nuôi con nuôi về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài hiện nay vẫn phù hợp với quy định tại khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, khái niệm quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong Bộ luật Dân sự năm 2015 có phạm vi hẹp hơn so với Bộ luật Dân sự năm 2005. Khoản 2 Điều 663 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây: Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài; các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài; các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài. Như vậy, theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài xác lập quan hệ nuôi con nuôi tại Việt Nam không phải là quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, nghĩa là không phải việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Quy định này của Bộ luật Dân sự năm 2015 không phù hợp trong lĩnh vực nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Nếu coi việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam thường trú trong nước làm con nuôi là nuôi con nuôi trong nước thì phải áp dụng quy định pháp luật về nuôi con nuôi trong nước. Như vậy sẽ không đáp ứng yêu cầu của Công ước La Hay năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi quốc tế (Công ước La Hay). Vì theo quy định tại Điều 2 Công ước La Hay, Công ước phải được áp dụng khi một trẻ em thường trú ở quốc gia ký kết này đã, đang hoặc sẽ được chuyển đến một quốc gia khác sau khi được một người hoặc một cặp vợ chồng thường trú ở quốc gia khác nhận làm con nuôi. Do đó, việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài (thường xuyên sinh sống, làm việc ở nước ngoài) nhận trẻ em Việt Nam thường trú ở trong nước làm con nuôi phải áp dụng Công ước La Hay, vì trẻ em sau khi được nhận làm con nuôi sẽ được chuyển đến nước nơi người nhận con nuôi thường trú.

3. Thực tiễn công tác giải quyết việc nuôi con nuôi đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Trong thời gian qua, đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam thường trú ở trong nước làm con nuôi chủ yếu là những người đi lao động, học tập sau đó ở lại định cư tại các nước như Séc, Hungari, Úc… Đối tượng trẻ em được nhận làm con nuôi chủ yếu là trẻ em thuộc diện có quan hệ họ hàng, đang ở độ tuổi đi học. Người xin nhận con nuôi trong các trường hợp là người Việt Nam vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú ở trong nước nhưng thực tế đã sinh sống, làm ăn lâu dài ở nước ngoài, thậm chí có người đã được cấp thẻ thường trú hoặc đã có quốc tịch nước ngoài, hàng năm chỉ về Việt Nam một đến hai lần để thăm người thân.

Theo quy định của Công ước La Hay, pháp luật của các nước và tại khoản 1 Điều 28 Luật Nuôi con nuôi thì đây là trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, thẩm quyền quyết định thuộc về Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Tuy nhiên, trong thời gian qua, nhiều Ủy ban nhân dân cấp xã đã tiến hành đăng ký việc nuôi con nuôi trong các trường hợp trên theo thủ tục nuôi con nuôi trong nước. Việc Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi là không đúng thẩm quyền, dẫn đến hậu quả Giấy chứng nhận nuôi con nuôi không được cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài công nhận, trẻ em không được nhập cảnh và thường trú ở nước ngoài và phía nước ngoài nghi ngờ sự trung thực của cơ quan có thẩm quyền Việt Nam. Trước thực trạng trên, Cục Con nuôi đã có Công văn số 277/CCN-CSVB ngày 07/6/2017 gửi Sở Tư pháp các tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương đề nghị quán triệt Ủy ban nhân dân cấp xã nếu có thông tin xác định được người nhận con nuôi là công dân Việt Nam đang cư trú, sinh sống ở nước ngoài thì không tiến hành đăng ký việc nuôi con nuôi.

Nguyên nhân của tình trạng đăng ký nuôi con nuôi không đúng thẩm quyền nêu trên là do không có hướng dẫn cụ thể về các tiêu chí để xác định thế nào là người Việt Nam định cư ở nước ngoài (thời gian cư trú, sinh sống 3 năm, 5 năm hay 7 năm...). Do đó, các địa phương chỉ căn cứ vào giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền Việt Nam cấp (đa số là sổ hộ khẩu và chứng minh thư nhân dân) để xác định người nhận con nuôi vẫn thường trú tại Việt Nam. Ngoài ra, cũng có tình trạng do nể nang nên mặc dù biết là người dân đã ra nước ngoài sinh sống nhiều năm nhưng vẫn tiến hành đăng ký việc nuôi con nuôi theo diện nuôi con nuôi trong nước.

Để hạn chế tình trạng đăng ký không đúng thẩm quyền đối với trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam thường trú trong nước làm con nuôi, cần có hướng dẫn cụ thể các tiêu chí để xác định thế nào là người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Theo hướng dẫn của Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế, các cơ quan có thẩm quyền có thể căn cứ vào những yếu tố sau đây:

- Khoảng thời gian người nhận con nuôi đã sống ở nước ngoài;

- Ý định của họ về việc cư trú tại nước đó (họ dự kiến sẽ ở đó trong bao lâu nữa, họ có hợp đồng lao động chắc chắn không, họ nhìn nhận việc cư trú ở đó như thế nào, họ có ý định trở về nước nơi họ có quốc tịch khi hợp đồng lao động hết hạn không?);

- Mục đích, lý do của việc họ cư trú ở đó, bao gồm cả những điều kiện liên quan đến việc cư trú này;

- Sự gắn bó của họ với nước này, bao gồm sự gắn bó về đời sống cá nhân, xã hội và kinh tế (chẳng hạn như có nhà cửa, có công việc và thu nhập chính, con cái học hành ở đó…);

- Sự tiếp tục gắn bó với nước nơi họ có quốc tịch (chẳng hạn họ có còn sở hữu bất động sản ở đó không?).

Ngoài ra, điều quan trọng là cán bộ làm công tác đăng ký nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, không nể nang, không vì áp lực của người dân và khi đăng ký việc nuôi con nuôi cần xác minh đầy đủ thông tin. Trường hợp có thông tin về việc người nhận con nuôi thuộc diện làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài thì không đăng ký việc nuôi con nuôi để tránh tình trạng cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài không tin tưởng vào quyết định của cơ quan có thẩm quyền Việt Nam, từ đó ảnh hưởng đến uy tín của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế.

Đào Thị Hà

Cục Con nuôi

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.
Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trên cơ sở kế thừa, bổ sung nhiều quy định mới về nguyên tắc định hướng, chủ thể giám sát, nội dung và quy trình để hoạt động giám sát đạt hiệu quả, chất lượng. Việc gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương có tính chất tương hỗ để hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.
Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: