Chủ nhật 16/08/2026 05:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số ý kiến về quy chế pháp lý của quản tài viên theo Luật Phá sản năm 2014

Trong bài viết này, tác giả tập trung phân tích một số bất cập, hạn chế trong quy định của Luật Phá sản năm 2014 về quản tài viên và doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, đồng thời đề xuất một số phương án nhằm hoàn thiện pháp luật, đảm bảo để các chủ thể này hoạt động có hiệu quả hơn trên thực tế.


1. Về khái niệm quản tài viên

Luật Phá sản năm 2014 của Việt Nam chia tách rõ ràng giữa “quản tài viên” và “doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản” với các quy định như sau: “Quản tài viên là cá nhân hành nghề quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán trong quá trình giải quyết phá sản” (khoản 7 Điều 4); “Doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản là doanh nghiệp hành nghề quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán trong quá trình giải quyết phá sản” (khoản 8 Điều 4).

Ở Việt Nam, trong ngôn ngữ đời thường, “cảnh sát viên”, “giáo viên”, “ứng viên”, “mậu dịch viên”, “kiểm sát viên”, “đoàn viên”, “đảng viên”… chỉ những cá nhân làm một nghề hay tham gia một hoạt động nhất định. Trong khi đó, thuật ngữ pháp lý “quản tài viên” dùng để chỉ người là chủ thể của quan hệ pháp luật phá sản. “Người” với tính cách là chủ thể của quan hệ pháp luật có nghĩa rộng hơn so với nghĩa thông thường của từ “người” vẫn được sử dụng trong đời sống hàng ngày. Thuật ngữ “người” trong pháp luật dùng để chỉ các thực thể là chủ thể của các quyền, bao gồm thể nhân và pháp nhân[1]. Ngay trong Luật Phá sản năm 2014 đã thể hiện rõ điều đó như sau: “Người tiến hành thủ tục phá sản là Chánh án Tòa án nhân dân, Thẩm phán; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, kiểm sát viên; quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản; thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên trong quá trình giải quyết phá sản” (khoản 9 Điều 4). Theo điều luật này, “quản tài viên” hay “doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản” đều là người tiến hành tố tụng đặc biệt khác với những người tiến hành tố tụng theo tố tụng dân sự thông thường, đều có bản chất pháp lý là người thụ ủy tư pháp. Nhóm nghiên cứu và dự hoạch xây dựng Bộ luật Thương mại Việt Nam Cộng hòa năm 1973 của Lê Tài Triển, Nguyễn Vang Thọ và Nguyễn Tân giải thích cho bản chất thụ ủy tư pháp của quản tài viên là con nợ bị phá sản phải được đại diện vì đã bị tước quyền quản trị tài sản và ở vào tình trạng không còn tiến hành được các hành vi pháp lý đối kháng với chủ nợ; còn các chủ nợ được liên kết thành một khối cá biệt về pháp lý, nên cần phải có một người đại diện hành động nhân danh tổng thể chủ nợ[2]. Xét từ phương diện khoa học pháp lý và từ các quy định của Luật Phá sản năm 2014, việc chia tách giữa “quản tài viên” và “doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản” có những điểm chưa hợp lý như sau:

Thứ nhất, doanh nghiệp không phải là một thuật ngữ chuyên môn của khoa học pháp lý mà là một thuật ngữ, nếu được dùng trong khoa học pháp lý thì chỉ một tổ hợp tài sản được thương nhân sung dụng vào hoạt động kinh doanh[3], có nghĩa là doanh nghiệp là đối tượng của các quyền[4]. Tuy nhiên, theo quan niệm của Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Doanh nghiệp năm 2014, doanh nghiệp lại là chủ thể của pháp luật[5] chỉ một tổ hợp các thực thể kinh doanh mà trong đó có cả thể nhân và pháp nhân. Do đó, thuật ngữ “doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản” được sử dụng trong Luật Phá sản năm 2014 là chưa chính xác về khoa học pháp lý.

Thứ hai, khoản 9 Điều 4 Luật Phá sản năm 2014 quy định “quản tài viên” và “doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản” đều là người, đều là chủ thể của quan hệ pháp luật phá sản và đều có bản chất là người tiến hành tố tụng, trong khi đó đạo luật này không khái quát đủ để xây dựng một thuật ngữ chung cho hai loại người này. Hơn nữa, thuật ngữ doanh nghiệp được sử dụng trong pháp luật Việt Nam hiện nay bao gồm cả thể nhân (chẳng hạn như doanh nghiệp tư nhân). Dù có quan niệm cho rằng, doanh nghiệp tư nhân dường như khác hơn một cá nhân kinh doanh vì có cái gọi là một “sản nghiệp thương mại riêng” tách khỏi chủ doanh nghiệp tư nhân[6], nhưng ở đây cần lưu ý rằng, “doanh nghiệp tư nhân” là một thuật ngữ cần phải xem xét lại về mặt khoa học pháp lý mà lẽ ra phải được gọi là thương nhân thể nhân vì bản chất của “doanh nghiệp tư nhân” là cá nhân kinh doanh[7], vì tất cả các khoản nợ trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân đều do chủ doanh nghiệp tư nhân phải gánh chịu, kể cả khi doanh nghiệp tư nhân đã được bán cho người khác, trừ khi các khoản nợ đó đã được chuyển giao cho người khác với sự chấp nhận của các chủ nợ.

Quản tài viên theo pháp luật phá sản của Cộng hòa Pháp là một cá nhân hoặc pháp nhân được chỉ định bởi quyết định của Tòa án về việc quản lý tài sản của người khác hoặc thực hiện vai trò giám sát việc quản lý tài sản[8]. Theo pháp luật Vương quốc Anh, quản tài viên là người nắm giữ các tài sản của con nợ bị phá sản theo quy định của pháp luật để phân bổ cho các chủ nợ[9]. Học tập kinh nghiệm của các nước Phương Tây (như Đức), Luật Phá sản năm 2006 của Trung Quốc quy định quản tài viên là người được chỉ định bởi Tòa án có thẩm quyền[10]. Tuy nhiên, Luật Phá sản năm 2006 của Trung Quốc khác Luật Phá sản của Đức ở chỗ, không chỉ các tự nhiên nhân mới có đủ điều kiện là quản tài viên, mà các pháp nhân như tổ thanh lý tài sản hoặc các công ty luật và công ty kế toán cũng có thể được chỉ định làm quản tài viên[11].

Với những hạn chế như đã phân tích ở trên, dẫn đến nhận thức thiếu chuẩn xác về quản tài viên và gặp phải những khó khăn trong việc xây dựng quy chế pháp lý cho nó (chẳng hạn như cần phải trả lời một câu hỏi trước tiên rằng, liệu có một quy chế chung áp dụng cho một loại người tiến hành thủ tục phá sản mà người đó là người thụ ủy tư pháp của cả con nợ và các chủ nợ hay không?...). Theo đó, tác giả xin được nêu ra hai phương án cần được lựa chọn:

Phương án thứ nhất: Về lâu dài, cần sửa đổi, bổ sung Luật Phá sản năm 2014 theo hướng hợp nhất “doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản” với “quản tài viên” với nhau để xây dựng khái niệm quản tài viên. Lúc này, quản tài viên có thể là một thể nhân hoặc một pháp nhân. Đồng thời, xây dựng một quy chế chung cho quản tài viên đặt nền tảng trên quản tài viên là thể nhân, nhưng có một vài đặc thù liên quan tới quản tài viên là pháp nhân.

Phương án thứ hai: Xây dựng một văn bản hướng dẫn thi hành Luật Phá sản năm 2014 với ý tưởng như phương án thứ nhất, nhưng vẫn chưa hợp nhất “doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản” với “quản tài viên”, trong khi vẫn duy trì Luật Phá sản năm 2014 cho tới khi có điều kiện sửa đổi, bổ sung. Khi thực hiện phương án này cần lưu ý là xây dựng các quy định chung về người tiến hành thủ tục phá sản là người thụ ủy tư pháp của cả con nợ và các chủ nợ và được cụ thể hóa bằng các quy định liên quan tới quản tài viên và liên quan tới doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản một cách tách biệt tương đối về hình thức.

Ưu điểm của phương án thứ nhất là đảm bảo sự rõ ràng, minh bạch trong các quy định pháp luật phá sản về lâu dài, hạn chế những tác động xấu đã nói ở trên tới môi trường pháp lý kinh doanh, cũng như văn hóa kinh doanh. Ngược lại, phương án thứ hai thể hiện sự linh hoạt, đảm bảo có được một quy chế chung cho cả “quản tài viên” và “doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản” mà vẫn đảm bảo được sự ổn định tương đối của pháp luật trong điều kiện Luật Phá sản mới được ban hành và thời gian có hiệu lực chưa dài.

2. Về quy chế pháp lý quản tài viên

Nhằm đáp ứng các đòi hỏi của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Luật Phá sản năm 2004 của nước ta đã được ban hành để thay thế Luật Pháp sản năm 1993. Tuy nhiên, quá trình thực thi Luật này cho thấy, còn nhiều hạn chế gây cản trở cho sự phát triển kinh tế, xã hội. Một trong những hạn chế lớn nhất ở đạo luật này chính là chế định tổ quản lý, thanh lý tài sản phá sản.

Vì vậy, Luật Phá sản năm 2014 được thông qua ngày 19/6/2014 tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XIII nhằm khắc phục các hạn chế của 02 đạo luật phá sản đã nói. Một trong những cải cách quan trọng là đưa ra khái niệm quản tài viên và xây dựng quy chế pháp lý cho nó. Cụ thể hóa các quy định của Luật Phá sản năm 2014, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 22/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phá sản về quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản. Các văn bản pháp lý nêu trên đã xác lập địa vị pháp lý của quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản.

Về nguyên lý, theo mô hình của Cộng hòa Pháp, quản tài viên trong quan niệm của pháp luật Việt Nam dưới các chế độ cũ là một thụ ủy tư pháp do Tòa án chỉ định và được thù lao bằng tiền phụ cấp do thẩm phán thừa nhiệm thanh quyết toán bằng án lệnh[12]. Quản tài viên được tiến hành chức năng của mình trong một vụ phá sản theo các cách thức khác nhau như: (i) Do các chủ nợ lựa chọn trong số các quản tài viên trong một danh sách dựng sẵn và được Tòa án phê duyệt; (ii) Do Tòa án lựa chọn quản tài viên trong danh sách này; (iii) Do Tòa án chỉ định trong số chủ nợ tại những nơi không có quản tài viên chuyên nghiệp; (iv) Do Tòa án chỉ định trong số các định chế hoặc các cơ quan công quyền bởi tính chất đặc biệt của con nợ (ví dụ trong trường hợp phá sản ngân hàng hoặc các định chế tài chính khác).

Số lượng quản tài viên tham gia một vụ phá sản có thể là một hay nhiều quản tài viên tùy theo tính chất hay quy mô của vụ việc. Tuy nhiên, số lượng quản tài viên tham gia một vụ phá sản thường được giới hạn bởi pháp luật để tránh tình trạng phức tạp trong việc thực hiện chức năng, bảo đảm về phụ cấp và bảo đảm hiệu quả của vụ án. Số lượng quản tài viên trong một vụ phá sản có thể thay đổi trong diễn biến của vụ án với một thủ tục đơn giản theo yêu cầu của một chủ nợ hay của con nợ. Yêu cầu này là sự phát triển logic của bản chất pháp lý của quản tài viên là người đại diện. Thẩm phán phụ trách vụ án phá sản cũng có thể đưa ra yêu cầu thay đổi quản tài viên. Yêu cầu này là sự phát triển logic từ bản chất pháp lý của quản tài viên là đại diện bởi tư pháp.

Luật Phá sản năm 2014 đã không xác định rõ bản chất pháp lý của quản tài viên là người thụ ủy tư pháp mặc dù có quy định thẩm phán tiến hành thủ tục phá sản quyết định, thay đổi và giám sát hoạt động của quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản tại khoản 3 và 4 Điều 9. Việc thiếu xác định này cũng có thể được bổ khuyết bằng suy luận từ lý thuyết. Thế nhưng các quy định tiếp theo của Luật Phá sản năm 2014 dường như chỉ quy định xuất phát từ nhận thức đơn thuần rằng, quản tài viên và doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản là những người “được hành nghề quản lý, thanh lý tài sản trong quá trình giải quyết phá sản” (Điều 11). Các quyền và nghĩa vụ của quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản được quy định trong đạo luật này chủ yếu xoay quanh nhiệm vụ quản lý tài sản và giám sát hoạt động kinh doanh của con nợ như: Xác minh, thu thập, quản lý tài liệu, chứng cứ liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã; lập bảng kê tài sản, danh sách chủ nợ, danh sách người mắc nợ; bảo quản tài sản; ngăn chặn việc bán, chuyển giao tài sản mà không được phép của thẩm phán; ngăn chặn việc tẩu tán tài sản; tối đa hóa giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã khi bán, thanh lý tài sản; giám sát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định của pháp luật; được thuê cá nhân, tổ chức thực hiện công việc theo quy định của pháp luật; đề xuất với thẩm phán về việc bán tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã để bảo đảm chi phí phá sản; bán tài sản theo quyết định của thẩm phán để bảo đảm chi phí phá sản; tổ chức việc định giá, thanh lý tài sản theo quy định của Luật này; báo cáo cơ quan thi hành án dân sự, thông báo đến người tham gia thủ tục phá sản có liên quan về việc giao cho cá nhân, tổ chức thực hiện thanh lý tài sản; và gửi các khoản tiền thu được vào tài khoản do Tòa án nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền mở tại ngân hàng (khoản 1 Điều 16). Các quyền và nghĩa vụ chủ yếu này của quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản theo Luật Phá sản năm 2014 cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa quan niệm quản tài viên và doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản là những người giữ vai trò quan trọng liên quan tới chủ nợ và hoạt động của con nợ. Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản chỉ được đại diện cho con nợ (doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản), trong trường hợp con nợ không có người đại diện theo pháp luật (khoản 2 Điều 16 Luật Phá sản năm 2014). Mọi hoạt động liên quan tới quy trình phá sản đều do thẩm phán tiến hành được thể hiện rất rõ trong Điều 16 Luật Phá sản năm 2014. Vấn đề cần đặt ra là vai trò của các chủ nợ có bị giảm sút hay không khi có các quy định như vậy, trong khi phá sản ở Việt Nam hiện nay vẫn được xem là thủ tục lấy nợ tập thể của các thương nhân.

Về nguyên lý, các chủ nợ có quyền kiểm soát tình trạng tài chính, kiểm tra sổ sách của con nợ và giám sát hoạt động của quản tài viên, bởi vì quản tài viên là đại diện của họ. Những bất đồng giữa thẩm phán tiến hành thủ tục phá sản và quản tài viên phải được giải quyết tại Tòa án với một thủ tục rất nhanh gọn.

Nếu xem Tòa án là bên hỗ trợ cho các chủ nợ lấy nợ tập thể trên khối tài sản còn lại của con nợ thì chắc hẳn Luật Phá sản năm 2014 cần phải có sửa đổi, bổ sung căn bản quy chế pháp lý của quản tài viên (bao gồm cả thể nhân lẫn pháp nhân). Hơn nữa, phá sản là một vấn đề pháp lý phức tạp không chỉ là một thủ tục lấy nợ đơn thuần. Trong chế định phá sản có rất nhiều kỹ thuật pháp lý của luật nội dung. Ví dụ, khi tuyên mở thủ tục phá sản có nghĩa là tuyên việc xác lập quyền thế chấp của toàn thể chủ nợ đối với bất động sản hiện có hoặc sẽ có trong tương lai của con nợ bị phá sản, do đó nhiệm vụ của quản tài viên phải đăng ký thế chấp một cách kịp thời. Nếu quản tài viên có lỗi trong việc đăng ký này thì có thể dẫn đến trách nhiệm bồi thường của quản tài viên. Vậy việc đăng ký này nên chăng giao cho thẩm phán tiến hành thủ tục phá sản? Từ đây có thể thấy rằng, Luật Phá sản năm 2014 mới chỉ quy định phá sản như một thủ tục lấy nợ đơn thuần mà chưa tính đến sự phức tạp về kỹ thuật pháp lý của quan hệ lấy nợ và chưa dự liệu các trách nhiệm pháp lý phải gánh chịu khi gây thiệt hại cho các bên được sự.

Sự gia tăng nhu cầu về việc giải quyết nợ của các chủ thể trong nền kinh tế những năm qua, cùng với nhiều quy định mới, phù hợp với thực tiễn của Luật Phá sản năm 2014 thì số lượng vụ việc yêu cầu phá sản được các Tòa án thụ lý, giải quyết có chiều hướng gia tăng. Riêng năm 2017, số lượng vụ việc yêu cầu phá sản được các Tòa án thụ lý, giải quyết là 439 vụ việc, trong đó có 45 quyết định tuyên bố phá sản[13]. Để quản tài viên hoạt động có hiệu quả trên thực tế, qua đó làm gia tăng hơn nữa hiệu lực của Luật Phá sản, trong thời gian tới cần nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện và có hệ thống về chủ thể này cả về lý luận và thực tiễn.

ThS. Đặng Văn Huy

Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng



[1]. Xem Ngô Huy Cương (2015), “Bình luận các quy định về pháp nhân trong Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi)”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật - Số chuyên đề sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 38 - 39.

[2]. Lê Tài Triển, Nguyễn Vạng Thọ và Nguyễn Tân (1973), Luật Thương mại Việt Nam dẫn giải, Quyển II, Nhóm nghiên cứu và Dự hoạch, Sài Gòn, tr. 135 - 136.

[3]. Ngô Huy Cương (2012), Luật kinh tế, Bài giảng điện tử.

[4]. Ngô Huy Cương (2014), “Dự án sửa đổi Luật Doanh nghiệp 2005: Bình luận những vấn đề pháp lý chủ yếu”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Số 13 (269), Kỳ 1 - Tháng 07/2014, tr. 22 - 23.

[5]. Ngô Huy Cương (2014), “Dự án sửa đổi Luật Doanh nghiệp 2005: Bình luận những vấn đề pháp lý chủ yếu”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Số 13 (269), Kỳ 1 - Tháng 07/2014, tr. 22.

[6]. Phạm Duy Nghĩa (2006), Giáo trình luật kinh tế - Tập 1: Doanh nghiệp - Tình huống - Phân tích - Bình luận, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 43 - 46.

[7]. Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình luật thương mại - Phần chung và thương nhân, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 142.

[8]. Administrateur judiciaire, http://www.developpementdurable.gouv.fr/IMG/pdf/2012_06_Guide_mandataire_liquidateur_v2.pdf.

[9]. Lord Hailsham of St. Marylebone – Lord High Chancallor of Great Britain (1973), Halsbury’s Laws of England, Fourth Edition, Butterworths, London, tr. 286.

[10]. Konstantin Hoppe (2009), Bankruptcy Law in China, Eiger, www.eigerlaw.com, p. 28.

[11]. Konstantin Hoppe (2009), Bankruptcy Law in China, Eiger, www.eigerlaw.com, p. 28.

[12]. Lê Tài Triển, Nguyễn Vạng Thọ và Nguyễn Tân (1973), Luật thương mại Việt Nam dẫn giải, Quyển II, Nhóm nghiên cứu và Dự hoạch, Sài Gòn, tr. 135.

[13]. Https://baomoi.com/hoi-thao-thuc-tien-thi-hanh-luat-pha-san-nam-2014-va-cac-van-ban-huong-dan/c/27808035.epi.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.

Theo dõi chúng tôi trên: