Thứ ba 13/10/2026 10:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số yếu tố tác động đến công tác hòa giải ở vùng đồng bằng sông Hồng

Tóm tắt: Có thể thấy rất rõ truyền thống hòa giải nói chung, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Hồng chủ yếu bắt nguồn từ tư tưởng cố kết cộng đồng làng xã của người Việt, có sự ảnh hưởng rất mạnh mẽ của tư tưởng Nho giáo, Phật giáo, được hình thành và duy trì, phát triển suốt chiều dài lịch sử. Bài viết này đề cập đến một số yếu tố lịch sử và hiện tại tác động đến nội dung, phương thức và kết quả hòa giải ở các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng.

Abstract: It can be clearly seen that conciliation in general and in the Red River Delta in particular, mainly rised from the thoughts of village community unity of Vietnamese under the influence of confucian thoughts, buddhistic thoughts, was established and maintained, developed in the entire history. This article disscusses some historical factors which have impact on the content, methods and outcome of conciliation in the provinces of the Red River Delta.


Đồng bằng sông Hồng là một vùng đất rộng lớn nằm quanh khu vực hạ lưu sông Hồng thuộc miền Bắc Việt Nam, được bồi đắp bởi phù sa của hai con sông lớn là sông Hồng và sông Thái Bình, hình thành nên một trong hai vựa lúa lớn nhất cả nước, gồm 11 tỉnh và thành phố: Vĩnh Phúc, Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình. Đây được coi là cái nôi sinh trưởng, phát triển của người Việt, có diện tích tự nhiên là 23.336 km2, dân số trên 21 triệu, chiếm gần ¼ dân số và 7,1% diện tích đất của cả nước. Đại đa số dân là người Kinh và có một bộ phận nhỏ dân tộc thiểu số ở Ninh Bình, Quảng Ninh, ngoại thành Hà Nội. Trong vùng có thủ đô Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của cả nước; có vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ gồm các tỉnh, thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh. Đây cũng là khu vực có nguồn nhân lực lớn, trình độ dân trí cao, từ xa xưa đã tập trung đội ngũ trí thức giỏi, nhân dân có truyền thống lao động cần cù và sáng tạo. Hệ thống di tích lịch sử, văn hóa với hàng nghìn đình, đền, chùa, miếu mạo cùng kho tàng kiến trúc, mỹ thuật cũng rất phong phú, là khu vực có nhiều lễ hội truyền thống cùng nhiều loại hình nghệ thuật dân tộc đặc sắc, từ lâu đã có truyền thống hòa giải và hiện nay truyền thống đó vẫn tiếp tục được kế thừa và phát huy.

1. Đặc điểm truyền thống làng xã

Có thể thấy rất rõ truyền thống hòa giải nói chung, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Hồng chủ yếu bắt nguồn từ tư tưởng cố kết cộng đồng làng xã của người Việt, có sự ảnh hưởng rất mạnh mẽ của tư tưởng Nho giáo, Phật giáo, được hình thành và duy trì, phát triển suốt chiều dài lịch sử. Các nhà nghiên cứu cho rằng, 1000 năm Bắc thuộc, tuy nước mất nhưng làng, xã không bị mất đi bản sắc của mình. Một trong những công cụ bảo vệ bản sắc đó chính là thiết chế làng xã. Ở vùng đồng bằng sông Hồng, có những làng có nguồn gốc từ thời cổ (Bắc Ninh, Hà Nội, Vĩnh Phúc). Một số làng có nguồn gốc khác, đó là những làng do Nhà nước chủ trì việc khai hoang, lấn biển lập ấp (Nam Định, Ninh Bình). Về tổ chức quản lý, xã có thể cùng là làng hoặc một xã có thể gồm vài làng, xóm cũng có thể cùng là thôn hoặc một thôn cũng có thể có vài xóm. Xuất phát từ nền văn hóa nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào khí hậu, phải cùng nhau chống thiên tai, sử dụng nguồn nước để trồng trọt, người nông dân thường chú trọng tới các mối quan hệ hòa đồng, hình thành lối tư duy cộng đồng. Họ sống trong một không gian làng xã khép kín sau lũy tre và sau cổng làng với một nhịp sống đều đặn, không vội vã. Thêm vào đó là nguy cơ giặc ngoại xâm luôn đe dọa đã khiến cho họ sớm củng cố lối sống cộng đồng, giúp đỡ nhau khi hoạn nạn, khó khăn. Làng là đơn vị cơ sở cấu thành nên quốc gia, nó mang tính khép kín, tự quản rất cao do đặc thù của nền kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp. Ở đây là nơi cộng đồng dân cư sinh sống, là nơi thực hiện dân chủ một cách trực tiếp và rộng rãi nhằm giải quyết các công việc nội bộ, bảo đảm đoàn kết, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và vệ sinh môi trường, xây dựng cuộc sống mới…

Trong các làng xã vùng đồng bằng sông Hồng, cả cuộc đời và truyền đời người nông dân quen sống với các mối quan hệ xóm giềng, huyết thống ràng buộc chồng chéo nhau một cách bền chặt, do đó họ rất coi trọng tình làng nghĩa xóm. Nếu có mâu thuẫn, tranh chấp về quyền lợi, nghĩa vụ giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ, hay với hàng xóm, láng giềng, họ chủ trương “đóng cửa bảo nhau”, “chín bỏ làm mười” vì “một điều nhịn là chín sự lành” với phương châm “dĩ hòa vi quý” được coi trọng và đề cao hàng đầu. Trong xã hội người Việt trước đây, điểm tương đối phổ biến ở đồng bằng Bắc Bộ là kết cấu kinh tế làng xã thường có ba thành phần: Nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp. Đồng thời các làng đều có sự hiện diện của các phường, hội như là tổ chức định chế xã hội. Chúng tồn tại bên cạnh các thiết chế nhà nước (bộ máy quản lý làng). Sự tồn tại song hành của các định chế xã hội và thiết chế quản lý đã luôn giữ được vai trò điều hòa các quan hệ xã hội thông qua hương ước và luật pháp. Hòa giải ở cơ sở là một định chế xã hội thể hiện rõ đặc điểm đó. Tuy nhiên, các tổ chức định chế xã hội không nằm trong hệ thống của bộ máy hành chính, đôi khi nó ẩn trong các làng Việt và vận hành theo cách riêng của mình. Hoạt động của nó tạo nên sự gắn kết giữa các thành viên trong cộng đồng dân cư. Đến nay, ở làng xã vùng đồng bằng sông Hồng, các định chế xã hội vẫn thể hiện rõ vai trò của mình thông qua hương ước trong đời sống thường nhật của người nông dân. Các công trình nghiên cứu dân tộc học, sử học và luật học đã khẳng định, trong thời kỳ phong kiến, xã hội Việt nam có hai dạng hương ước theo hai giai đoạn tồn tại và phát triển, đó là Hương ước cổ (từ giữa thế kỷ XV đến tháng 8 năm 1921) và Hương ước cải lương (từ tháng 8 năm 1921 đến tháng 8 năm 1945). Hương ước đề cập khá chi tiết mối quan hệ ứng xử giữa các hạng người, giữa mọi người trong làng. Đề cao yêu thương đùm bọc lẫn nhau giữa bà con làng xóm. Khuyến khích mọi người ăn ở hòa thuận, có trước có sau, có trên có dưới. Hương ước các làng đều có quy định quan hệ ứng xử trong gia đình, giữa cha con, vợ chồng, anh em. Còn hương ước mới được gọi bằng các tên khác như: Quy ước làng, Quy ước làng văn hóa, Quy ước văn hóa gồm các quy định chung về xây dựng nếp sống văn hóa, về gia đình văn hóa, xây dựng kỷ cương trật tự xã hội thôn xóm, bảo vệ tài sản nhà nước, tài sản cá nhân, giữ gìn vệ sinh và bảo vệ cảnh quan môi trường, hòa giải tranh chấp trong nội bộ nhân dân…

2. Ảnh hưởng của quan hệ họ hàng, thân tộc

Làng ở Việt Nam, trong đó có vùng đồng bằng sông Hồng còn có một đặc điểm nữa, đó là tính chất dòng họ. Các mối liên kết trong làng có nghề nghiệp, tín ngưỡng tôn giáo, địa vực láng giềng, xóm, giáp, đơn vị hành chính làng xã nhưng mối liên kết họ hàng vẫn là bền vững nhất. Có thể coi cộng đồng làng trước tiên là tập hợp của những dòng họ và sự liên kết đầu tiên của những gia đình tiểu nông trong làng là dòng họ. Mỗi làng ở Bắc Bộ không có nhiều dòng họ, lại cộng cư trong một không gian xác định, nên các thành viên trong làng hiểu rõ những mối quan hệ thân tộc. Một số làng lấy tên dòng họ đặt cho tên làng. Lịch sử cho thấy, quan hệ dòng họ len lỏi đan xen vào các quan hệ giai cấp và quan hệ pháp luật, đã tác động làm mềm yếu các quan hệ pháp luật và nếu khống chế không nổi thì thậm chí có nơi, có lúc nó vượt lên đứng trên các quan hệ pháp luật. Đó cũng là điều đáng lưu ý trong xã hội hiện đại. Hiện nay, cùng với chính quyền, mặt trận, đoàn thể, các dòng tộc có vai trò quan trọng hòa giải những xích mích trong họ. Các thành viên trong dòng họ có cùng huyết thống, quan hệ giữa các thành viên được coi là anh em và trong một gia đình thì quan hệ là ruột thịt. Các xích mích trong gia đình, dòng họ thường được anh em trong họ hòa giải nhằm giữ gìn hòa thuận trong họ, uy tín với ngoài họ, trong làng, xây dựng dòng họ có “truyền thống đoàn kết”, thương yêu, giúp nhau, bảo ban nhau trong tình anh em cùng dòng tộc. Những năm gần đây, hoạt động trong dòng họ có nhiều khởi sắc như giúp nhau phát triển kinh tế, xóa đói nghèo, xây dựng dòng họ khá giả, đưa khuyến học vào họ tộc, xây dựng “dòng họ hiếu học”, xây dựng “họ truyền thống hòa giải, đoàn kết”, xây dựng dòng họ “trong sạch”, không có người nghiện ma tuý, không vi phạm pháp luật...

Trong dòng họ, nếu có vụ việc mâu thuẫn nội bộ thì thường được trong họ hòa giải thành với tỷ lệ cao và bền vững, đó là yếu tố rất được coi trọng trong sinh hoạt của dòng họ. Hòa giải là một nội dung của cuộc vận động “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động. Hòa giải được đưa vào chỉ tiêu thi đua xây dựng “khu dân cư tiên tiến”. Ở thôn, làng, ấp, bản có Ban công tác Mặt trận. Ban công tác Mặt trận cùng với Trưởng thôn, tổ trưởng dân phố vận động nhân dân xây dựng hương ước làng, quy ước khu dân cư, trong đó có nội dung công tác hòa giải. Mỗi khu dân cư lập ra một tổ hòa giải mà các thành viên của tổ hoà giải là hội viên, đoàn viên của Hội Phụ nữ, Hội Người cao tuổi, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân, cá nhân tiêu biểu trong dân tộc, tôn giáo, họ tộc…

Vai trò trưởng họ, trưởng tộc quyết định hòa giải thành, bền vững đối với các vụ việc xích mích, mâu thuẫn trong dòng họ. Về huyết thống, trưởng họ, trưởng tộc là người đứng đầu trong họ, chỉ huy, điều hành và quyết định các công việc của họ, có tiếng nói quyết định đối với nhiều vấn đề về lễ giáo, văn hóa, tinh thần đối với các gia đình và thành viên trong họ, tộc khi các vấn đề đó đã là quy ước của họ, đã trở thành nếp sống văn hóa truyền thống của dòng họ. Trưởng họ, trưởng tộc là người tiêu biểu của mỗi dòng tộc trong quan hệ đối với thôn, làng, ấp, bản; là thành viên của Ban công tác Mặt trận ở khu dân cư. Với vị trí như vậy, trưởng họ, trưởng tộc là người chỉ đạo, cũng đồng thời trực tiếp làm công tác hòa giải trong dòng tộc. Khi hoà giải, vừa dựa vào hương ước, quy ước, pháp luật, vừa lấy uy tín người trưởng họ để phân tích thấu tình, đạt lý, làm cho mỗi bên hiểu rõ đúng, sai, không xuê xoa “dĩ hoà vi quý” cho xong việc. Với ý thức công tâm, khách quan, trách nhiệm và tình huyết thống của trưởng họ, trưởng tộc tác động đến đương sự dễ đi đến những nhận thức mới của mỗi bên, tiến dần đến sự thành công của hòa giải.

3. Tác động của Nho giáo, Phật giáo

Nho giáo với cốt lõi là tư tưởng đức trị cũng có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành ý thức hòa giải ở Việt Nam nói chung, vùng đồng bằng sông Hồng nói riêng. Trong các bậc thang giá trị tinh thần, người Việt đề cao chữ Nhân, kết hợp chặt chẽ Nhân với Nghĩa, Nhân với Đức. Sự kết hợp giữa truyền thống nhân nghĩa của dân tộc với đạo đức Nho giáo đã hình thành nên tư tưởng đức trị (tư tưởng nhân trị) trong đường lối trị quốc, an dân của các triều đại phong kiến Việt Nam hưng thịnh. Đạo đức Nho giáo được thể hiện đậm nét trong các bản hương ước - lệ làng. Hương ước là bản lệ làng thành văn của các làng xã cổ truyền Việt Nam được các nhà Nho soạn thảo, dân làng thông qua, chính quyền phê duyệt và đưa ra thi hành để mọi người trong làng đều tuân theo lễ nghi Nho gia, phân biệt trên dưới và tôn ty trật tự từ trong gia đình đến làng xóm. Các tư tưởng tiến bộ của nho giáo tác động đến đời sống cộng đồng làng xã và tinh thần đoàn kết, hòa giải trong làng xã. Đặc điểm quan trọng của tư tưởng hòa giải được thể hiện trong các hương ước từ thế kỷ XV trở đi không hoàn toàn là sản phẩm của tư tưởng nho giáo, mà từ truyền thống làng xã, nảy sinh từ thực tiễn đời sống thể hiện sâu sắc bản sắc văn hóa dân tộc, đến nay vẫn còn ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống cộng đồng.

Phật giáo du nhập vào các quốc gia ở Đông Nam Á từ rất sớm và nhanh chóng trở thành bộ phận văn hóa các dân tộc. Phật giáo là tôn giáo luôn đồng hành cùng dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử. Truyền thống hòa giải Việt Nam thấm nhuần triết lý Phật giáo. Trong khoảng từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV, Phật giáo còn có chức năng là hệ tư tưởng chính thống tiêu biểu cho ý thức quốc gia, tinh thần độc lập, tự chủ của dân tộc, là nền tảng tinh thần của xã hội, chỗ dựa cho việc tổ chức một xã hội đoàn kết, hòa hợp. Những tín điều của Phật giáo mang tính hòa giải rất cao. Phật giáo không chủ trương bạo lực hoặc tạo ra những điều kiện để bạo lực phát sinh, mà luôn đề cao tinh thần và ý thức hòa giải. Vì thế, Phật giáo là nhân tố quan trọng, là chất xúc tác làm khởi động và thúc đẩy tiến trình hòa giải giữa con người với con người. Để đối trị với nền văn hóa bạo lực, Phật giáo quan niệm không có con đường nào khác hơn là xây dựng và phát triển nền văn hóa hòa giải ở các cấp độ và bình diện khác nhau, không chỉ ở bề rộng mà còn ở chiều sâu với nhận thức “tâm bình, thế giới bình”. Hiểu theo nghĩa rộng, triết lý hòa giải theo quan niệm của Phật giáo là cấu trúc gồm ba thành tố cơ bản: Hòa giải giữa cá nhân với bản thân, hòa giải giữa con người với con người và hòa giải giữa con người với thiên nhiên (tâm bình thế giới bình). Hòa giải giữa cá nhân với bản thân chính là trụ cột cơ bản nhất bởi xung đột, mâu thuẫn trước tiên xuất hiện từ bên trong tâm thức của con người.

4. Quá trình phân tầng xã hội và đô thị hóa

Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quá trình đô thị hóa và phân tầng xã hội diễn ra rất nhanh chóng, kéo theo nhiều hệ lụy, trong đó có gia tăng số lượng các tranh chấp, xung đột lợi ích (tranh chấp đất đai, tranh chấp thủy lợi phí, tranh chấp hợp đồng dịch vụ…). Quá trình đô thị hóa/phân tầng xã hội đã và đang phá vỡ nhiều kết cấu văn hóa làng xã. Trong nền kinh tế thị trường, con người dường như trở nên thực dụng hơn. Một số giá trị văn hóa làng xã bị mai một, tình làng, nghĩa xóm phai nhạt; tính cộng đồng giảm; kết cấu gia đình thiếu bền vững hơn trước... đã làm cho mâu thuẫn trong nội bộ dân cư phát sinh ngày càng nhiều. Cũng chính vì quá trình đô thị hóa/phân tầng xã hội đã và đang phá vỡ nhiều kết cấu văn hóa làng xã mà trong thời gian qua nhiều địa phương đã có nhiều giải pháp nhằm khôi phục, duy trì, mở rộng các thiết chế và giá trị truyền thống tốt đẹp trong đời sống nhân dân. Hòa giải với tư cách là một thiết chế vừa mang tính truyền thống được chú trọng hơn. Việc hòa giải trong nội bộ dân cư được khuyến khích, điều này cũng đã làm tăng số lượng các vụ việc hòa giải trên thực tế, trong khi giảm sự quá tải cho các cơ quan nhà nước và chính quyền địa phương. Quá trình đô thị hóa trên thực tế cũng góp phần mở rộng dân chủ trong đời sống nhân dân. Dân chủ đồng nghĩa với việc tôn trọng và chấp nhận các ý kiến đa chiều trong cộng đồng dân cư và trong mỗi hộ gia đình khi tiến hành hòa giải các vụ việc.

Quá trình đô thị hóa sẽ làm tăng mật độ dân cư đô thị một cách nhanh chóng, chính sự gia tăng mật độ dân cư đô thị thông qua quá trình dịch chuyển dân số đã làm cho các mối quan hệ tại những vùng đô thị hóa ngày càng đa dạng và phức tạp hơn. Nếu trước đây mọi mối quan hệ dường như “khép kín” sau lũy tre làng, thì nay người ở làng thì đi nơi khác làm ăn, người nơi khác lại đến “làng” để sinh sống. Kiểu quan hệ “trong nhà đóng cửa bảo nhau” trước kia nay đã thay đổi. Người trong “làng” có khi không biết hết nhau. Quan hệ xã hội đa dạng dẫn đến những va chạm, xích mích chắc chắn cũng nảy sinh nhiều hơn nhất là khi mối quan hệ truyền thống không còn bền chặt như trước. Bên cạnh đó, chính sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã đẩy nhanh quá trình phân hóa giàu nghèo và phân tầng xã hội. Sự phân tầng xã hội dẫn đến trên cùng một địa bàn dân cư trước đây, cơ bản là nông dân có điều kiện sống tương đối giống nhau, nay do đô thị hóa, một bộ phận người nhờ nắm bắt được cơ hội mà trở nên giàu có hoặc khá giả hơn. Do điều kiện kinh tế khác nhau mà lối sống, lối sinh hoạt, mức độ cũng như trình độ hưởng thụ văn hóa, khả năng tiếp cận với thông tin, lối sống văn hóa mới... có sự thay đổi lớn không chỉ trong phạm vi làng xã, mà ngay trong bộ phận dân cư, thậm trí ngay trong một dòng tộc, gia đình. Những khác biệt này trên thực tế đã và đang là nguyên nhân của nhiều mâu thuẫn nảy sinh trong đời sống đô thị. Một ví dụ đơn giản đó là nhờ đô thị hóa, đời sống kinh tế phát triển giới trẻ có điều kiện tiếp xúc với những sinh hoạt văn hoá mới, trong khi đó những người lớn tuổi hoặc không có điều kiện tiếp xúc với những tiến bộ mà đô thị hóa mang lại thì vẫn duy trì cách sống, cách suy nghĩ cũ, và mâu thuẫn phát sinh ngay giữa các thế hệ trong một gia đình.

Ngoài các yếu tố trên đây, còn nhiều yếu tố tác động khác đến hòa giải ở cơ sở với những mức độ khác nhau. Tuy nhiên, những yếu tố chúng tôi phân tích trên đây vẫn là các yếu tố có ảnh tác động mạnh mẽ nhất, đa chiều nhất đến hoạt động hòa giải ở cơ sở trong tình hình mới mà mỗi cấp chính quyền, tổ chức, đoàn thể ở vùng đồng bằng sông Hồng cần quan tâm khi chỉ đạo, hướng dẫn và thực hiện công tác hòa giải.

ThS. Nguyễn Phi Long

Học viện Phụ nữ Việt Nam

Tài liệu tham khảo:

[1]. Phan Ðại Doãn, Quản lý xã hội nông thôn nước ta hiện nay - Một số vấn đề và giải pháp, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà nội, 1996.

[2]. Giải quyết xích mích trong nội bộ nhân dân - Phác thảo từ những kết quả nghiên cứu định tính, PGS.TS. Bùi Quang Dũng, Tạp chí Xã hội học, 2002.

[3]. Hương ước - Di sản pháp lý của người Việt, PGS.TS. Bùi Xuân Đính, Chuyên đề thuộc đề tài cấp Nhà nước “Văn hóa pháp luật Việt Nam, từ lý luận đến thực tiễn”, Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, 2009.

[4]. Nghiên cứu văn hóa và con người Việt Nam hiện nay, Chủ biên: GS.TS. Dương Phú Hiệp, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010.

[5]. Thể chế hòa giải ở Việt Nam, một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Chủ biên: PGS.TS. Nguyễn Tất Viễn, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2015.



Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.

Theo dõi chúng tôi trên: