Thứ tư 11/03/2026 21:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một vài cơ chế thí điểm trong quản lý nhà nước

Tóm tắt: Theo nghĩa chung nhất, thí điểm là thử thực hiện trong phạm vi hẹp để rút kinh nghiệm. Trong quản lý nhà nước, thí điểm đã và đang được áp dụng như một biện pháp điều hành làm cơ sở cho việc hình thành cơ chế, chính sách mới hoặc trong nhiều trường hợp, điều chỉnh những chính sách đang có hiệu lực. Xung quanh vấn đề này, một số nội dung cần làm rõ như thẩm quyền, cách thức thực hiện và ý nghĩa pháp lý của kết quả thí điểm.

Abstract: Pilot is in very general meaning the performance test in a narrow scope to learn from experience. Pilot has been applied in state management as an operation method which serves as the basis for forming new mechanism and policy or in serveral cases for regulating current policies. Some contents around this problem should be clarified such as competence, performance method and the legal meaning of pilot outcome.

1. Thực trạng
Thời gian qua, một số chủ trương, chính sách và văn bản đã được ban hành với mục đích triển khai thí điểm những vấn đề chưa được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành.
Về nội dung, thí điểm được áp dụng trong các lĩnh vực đa dạng, từ tổ chức bộ máy nhà nước (như không tổ chức Hội đồng nhân dân tại một số đơn vị hành chính) đến kinh tế (như xử lý nợ xấu) hay tư pháp (thừa phát lại) và các lĩnh vực khác (cơ chế tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công lập, thi tuyển công chức…).
Về hình thức, thí điểm được ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền với hiệu lực pháp lý khác nhau:
- Đối với Quốc hội, hình thức văn bản được sử dụng là nghị quyết (ví dụ như: Nghị quyết số 30/2016/QH14 ngày 22/11/2016 của Quốc hội về thực hiện thí điểm cấp thị thực điện tử cho người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam; Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về việc thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng).
- Trong hệ thống hành chính nhà nước, thí điểm được quy định bằng nghị quyết của Chính phủ hoặc quyết định của Thủ tướng Chính phủ (ví dụ như: Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 24/10/2014 của Chính phủ về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập giai đoạn 2014 - 2017; Quyết định số 08/2015/QĐ-TTg ngày 09/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ về thí điểm giao dịch điện tử trong việc thực hiện thủ tục tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và đề nghị cấp sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế).
- Chính quyền địa phương sử dụng nghị quyết của Hội đồng nhân dân để quy định chủ trương thí điểm (ví dụ như: Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐND ngày 05/4/2012 của Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội về thí điểm một số chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng hạ tầng nông thôn thành phố Hà Nội giai đoạn 2012 - 2016).
Về căn cứ thực hiện, một số lĩnh vực đã thí điểm thời gian qua được quyết định căn cứ vào chủ trương, chính sách của Đảng, của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, như:
- Việc không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, huyện, phường, xã được xây dựng thành Đề án, sau đó được triển khai thực hiện theo Nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội dựa trên chủ trương của Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 01/8/2007 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước[1].
- Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; Nghị quyết số 77/NQ-CP của Chính phủ ngày 24/10/2014 về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập giai đoạn 2014 - 2017 được ban hành căn cứ Thông báo Kết luận số 37-TB/TW ngày 26/5/2011 của Bộ Chính trị về Đề án “Đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công”.
- Kết luận số 63-KL/TW ngày 27/5/2013 của Hội nghị lần thứ VII Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “một số vấn đề về cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định hướng cải cách đến năm 2020”[2].
Trong một số trường hợp, để triển khai quyết định thí điểm, các cơ quan nhà nước ban hành các văn bản với hiệu lực pháp lý khác nhau. Thể chế hóa chủ trương của Đảng, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 24/2008/QH12 ngày 14/11/2008 về thi hành Luật Thi hành án dân sự, trong đó quy định: Để triển khai thực hiện chủ trương xã hội hóa một số công việc có liên quan đến thi hành án dân sự, giao Chính phủ quy định và tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại một số địa phương. Trên cơ sở Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại TP. Hồ Chí Minh (Nghị định số 61/2009/NĐ-CP) để quy định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ, mô hình tổ chức, trình tự, thủ tục thực hiện công việc của Thừa phát lại; đồng thời, xác định các quy định của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP cũng được áp dụng khi thực hiện thí điểm Thừa phát lại tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác. Cụ thể hóa các quy định của Nghị định, các bộ, ngành có liên quan đã ban hành các thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, Nghị định của Chính phủ, như: Thông tư số 03/2009/TT-BTP ngày 30/9/2009 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP.
Về hiệu lực, các văn bản cho phép thí điểm được áp dụng trong một khoảng thời gian nhất định (Nghị quyết về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng có hiệu lực trong 05 năm; việc thí điểm chế định Thừa phát lại tại một số địa phương được thực hiện từ 01/7/2009 đến ngày 01/7/2012), sau thời gian thí điểm sẽ được sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm.
2. Một số ý kiến về áp dụng thí điểm
Thứ nhất, về thẩm quyền quyết định thí điểm
Xuất phát từ nguyên nghĩa, thí điểm chính sách đã và đang được áp dụng như bước thử nghiệm để nhân rộng phạm vi thực hiện hoặc để rút kinh nghiệm, điều chỉnh một số nội dung trước khi mở rộng quy mô hoặc được chính thức hóa tại một số địa bàn như cơ chế đặc thù. Trong một số trường hợp, kết quả thí điểm sẽ là cơ sở để quyết định không áp dụng mô hình thử nghiệm.
Xét về góc độ chủ thể ban hành, thí điểm thể hiện sự thận trọng trong việc hoạch định chính sách mới; cho phép kiểm nghiệm tính phù hợp của cơ chế quản lý với những điểm khác so với các quy định hiện hành. Nghị quyết về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng đã cho phép áp dụng nhiều chính sách mới về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, góp phần tạo lập cơ sở pháp lý thuận lợi hơn cho việc xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán nợ xấu; bổ sung đối tượng được bán nợ. Quy định này khắc phục bất cập giới hạn chủ thể được mua nợ của Công ty TNHH một thành viên quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam tại Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014 quy định doanh nghiệp nhà nước “được quyền bán nợ phải thu quá hạn, nợ phải thu khó đòi, nợ phải thu không có khả năng thu hồi. Doanh nghiệp chỉ được bán nợ cho tổ chức kinh tế có chức năng kinh doanh mua bán nợ, không được bán trực tiếp cho đối tượng nợ...”[3] và bảo đảm quyền bình đẳng trong hoạt động xử lý nợ của Công ty TNHH một thành viên quản lý tài sản của các tổ chức tính dụng Việt Nam, như: Các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, góp phần tạo lập, phát triển thị trường mua bán nợ[4].
Như vậy, xét dưới góc độ quản lý nhà nước, thí điểm là biện pháp thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, là cơ hội tiến hành cải cách, thay đổi hiện trạng theo hướng tích cực với phương thức thận trọng, hạn chế tối đa rủi ro hay hệ quả bất lợi của chính sách nếu áp dụng ngay ở quy mô rộng dù đã qua đánh giá tác động dưới các phương diện.
Trước đây, trong quá trình thảo luận Dự án Luật Tổ chức Chính phủ (sửa đổi), đã có ý kiến đề nghị ghi nhận thẩm quyền quyết định thí điểm của chủ thể tương ứng. Tuy nhiên, nội dung này chưa được đưa vào các văn bản lập pháp, nơi quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, nguyên tắc hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Có thể hiểu rằng, quyết định thí điểm được căn cứ vào phạm vi thẩm quyền chung của mỗi cơ quan. Chẳng hạn như với Hội đồng nhân dân tỉnh, việc ra quyết định thí điểm là xuất phát từ thẩm quyền “ban hành nghị quyết về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân tỉnh” hoặc “quyết định biện pháp để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp”. Một cách chung nhất, việc quyết định các biện pháp phát triển địa phương xuất phát từ nguyên tắc “chính quyền địa phương tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền” (Điều 12 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015), bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp trong việc thực hiện.
Như vậy, quy định thẩm quyền quyết định thí điểm có thể tiếp cận theo hai cách: (i) Thí điểm được quy định trong hệ thống nhiệm vụ, quyền hạn của chủ thể tương ứng; (ii) Việc thí điểm được quy định thông qua thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước.
Cách tiếp cận thứ hai đang được sử dụng trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015: Quốc hội ban hành nghị quyết để quy định thực hiện thí điểm một số chính sách mới thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội nhưng chưa có luật điều chỉnh hoặc khác với quy định của luật hiện hành (Điều 15). Cách tiếp cận này có ưu điểm là vừa xác định thẩm quyền quản lý nhà nước, vừa ghi nhận hình thức và nội dung văn bản quy phạm pháp luật tương ứng[5]. Như vậy, thí điểm nhất thiết phải được thể hiện bằng văn bản mang tính quy phạm pháp luật của chủ thể quyết định. Tuy nhiên, hiện nay, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 mới dừng ở thẩm quyền ban hành nghị quyết thí điểm của Quốc hội; đối với cơ quan khác, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp năm 2015 không quy định, hoặc quy định khái quát (như: Hội đồng nhân dân ban hành nghị quyết để quy định biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương - Điều 27). Như vậy, thẩm quyền ban hành văn bản về thí điểm của các chủ thể khác nên được nghiên cứu để quy định đầy đủ.
Thứ hai, về nội dung, phạm vi thí điểm
Nội dung và phạm vi thí điểm là yếu tố tác động tới việc lựa chọn cách quy định về thẩm quyền thí điểm. Thực tiễn cho thấy, thí điểm được đặt ra chủ yếu trong hai trường hợp: (i) Nội dung chính sách mới chưa từng được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành và sẽ áp dụng thử nghiệm ở phạm vi hẹp; (ii) Nội dung chính sách đã được quy định tại văn bản pháp luật hiện hành nhưng cần thí điểm một số quy định mới trước khi thay đổi tổng thể.
- Đối với trường hợp thứ nhất, có thể ví dụ như: Nghị định số 03/2017/NĐ-CP ngày 16/01/2017 của Chính phủ về kinh doanh casino, trong đó có quy định việc thí điểm cho phép người Việt Nam chơi tại Điểm kinh doanh casino[6] và Nghị định số 06/2017/NĐ-CP ngày 24/01/2017 của Chính phủ về kinh doanh đặt cược đua ngựa, đua chó và bóng đá quốc tế, trong đó quy định thí điểm kinh doanh đặt cược bóng đá quốc tế[7].
Trước khi các nghị định này được ban hành, trên thực tế, hoạt động đặt cược bất hợp pháp đã tồn tại và được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau, ngày càng trở nên tinh vi thông qua việc cá độ bất hợp pháp với các nhà cái ở nước ngoài cung cấp các dịch vụ cá độ không đúng quy định qua mạng Internet. Tình trạng này gây khó khăn cho cơ quan chức năng trong việc quản lý, ảnh hưởng tiêu cực đến trật tự, an toàn xã hội, không kiểm soát được tình trạng chuyển ngoại tệ bất hợp pháp ra nước ngoài. Các nghị định này được ban hành nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí của một bộ phận dân cư có thu nhập chính đáng; thu hút nhà đầu tư tham gia vào lĩnh vực du lịch; góp phần đấu tranh chống các hoạt động cá cược bất hợp pháp và tình trạng chuyển ngoại tệ bất hợp pháp ra nước ngoài để tham gia các hoạt động cá cược trái phép.
- Đối với trường hợp thứ hai, thực tế cho thấy nhiều văn bản về thí điểm được ban hành cho phép thí điểm một số nội dung mới so với các văn bản pháp luật hiện hành trên một số địa bàn hoặc với một nhóm đối tượng trong một khoảng thời gian nhất định. Văn bản thí điểm sẽ tạo ra một cơ chế pháp lý song hành với các văn bản pháp luật hiện tại và như vậy, phải tương đồng với văn bản hiện hành về thẩm quyền ban hành, hình thức, giá trị hiệu lực pháp lý. Chẳng hạn như: Ngày 24/10/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 77/NQ-CP về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập giai đoạn 2014 - 2017, cho phép các cơ sở giáo dục đại học công lập khi cam kết tự bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động chi thường xuyên và chi đầu tư được thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm toàn diện; đồng thời, quyết định sẽ tăng mức cho vay ưu đãi đối với sinh viên của các trường được giao tự chủ. Theo đó, cơ sở được quyết định mở ngành, chuyên ngành đào tạo theo nhu cầu xã hội khi đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật; xác định chỉ tiêu tuyển sinh và tổ chức tuyển sinh, đảm bảo công khai, minh bạch; được quyết định liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo trong nước và nước ngoài trên cơ sở chương trình liên kết đã được kiểm định chất lượng; quyết định hướng nghiên cứu, khuyến khích thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học; quyết định việc sử dụng tài sản, cơ sở vật chất và giá trị thương hiệu của nhà trường để liên doanh, liên kết thực hiện các hoạt động khoa học công nghệ, tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với lĩnh vực chuyên môn. Về học phí, trường được quyết định mức học phí bình quân của chương trình đại trà, nhưng phải đảm bảo tối đa bằng mức trần học phí do Nhà nước quy định cộng với khoản chi thường xuyên ngân sách nhà nước cấp bình quân cho mỗi sinh viên công lập trong cả nước; quyết định mức học phí cụ thể (có thể cao hơn hoặc thấp hơn mức học phí bình quân) đối với từng ngành, nghề, chương trình đào tạo theo nhu cầu người học và chất lượng đào tạo, bảo đảm mức học phí bình quân trong nhà trường không vượt quá giới hạn mức học phí bình quân tối đa nêu trên; đặc biệt, các mức học phí này phải được công khai cho người học trước khi tuyển sinh.
Trong cả hai trường hợp, kể cả khi chính sách chưa từng được quy định hay đã được quy định tại văn bản pháp luật hiện hành, thì nội dung thí điểm nhất thiết phải thuộc thẩm quyền quyết định của chủ thể quản lý nhà nước tương ứng.
3. Một số đề xuất
Trong giai đoạn hiện nay, khi hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách chưa hoàn chỉnh và đồng bộ với yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, nhu cầu thí điểm các chính sách mới vẫn được đặt ra, thì việc thí điểm là bước thử nghiệm khi chưa có đủ căn cứ đánh giá về tác động xã hội cũng như tính hiệu quả của chính sách. Có thể khẳng định rằng, đây là phương pháp phù hợp để thực hiện quản lý nhà nước và hoàn thiện pháp luật. Thí điểm sẽ dẫn đến sự tồn tại của cơ chế điều chỉnh pháp luật khác với hệ thống pháp luật đang được áp dụng cho đa số đối tượng. Vì vậy, xung quanh việc thí điểm, nên giải quyết thấu đáo một số vấn đề pháp lý như sau:
Một là, ghi nhận thẩm quyền quyết định thí điểm
Nên bổ sung thẩm quyền quyết định thí điểm vào các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của một số cơ quan nhà nước. Phương án tối đa là vừa ghi nhận thẩm quyền này trong các luật như: Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015…
Đại đa số các quyết định thí điểm được thể hiện bằng văn bản quy phạm pháp luật. Nhưng cũng có quyết định cá biệt (như thí điểm thành lập tổ chức, phê duyệt Đề án thí điểm). Do đó, nếu chỉ điều chỉnh trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì chưa đầy đủ.
Đối với chính quyền địa phương, ngoài các nhiệm vụ được phân quyền trong các luật, còn nhiệm vụ theo phân cấp, ủy quyền. Thiết nghĩ, về phạm vi thí điểm, chính quyền địa phương quyết định thí điểm chỉ về những vấn đề được phân quyền, phân cấp.
Hai là, xác định nguyên tắc quyết định thí điểm
Thí điểm sẽ tạo ra một cơ chế pháp lý riêng và có quy định khác với hệ thống pháp luật đang có hiệu lực. Như vậy, chỉ cơ quan đã ban hành văn bản mới quyết định thí điểm về chính nội dung được quy định trong văn bản đó (tương tự như với nguyên tắc sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật).
Trên thực tế, có những vướng mắc khi văn bản về áp dụng thí điểm không có cùng hiệu lực pháp lý với văn bản cho phép thí điểm về nguyên tắc. Ví dụ: Nghị quyết của Quốc hội chỉ quy định về nguyên tắc việc thực điểm thí điểm chế định Thừa phát lại. Văn bản có hiệu lực cao nhất về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại là nghị định của Chính phủ. Theo một số ý kiến, điều đó sẽ dẫn đến vướng mắc về áp dụng pháp luật khi có mâu thuẫn, xung đột nội dung giữa nghị định với các luật, pháp lệnh có liên quan.
Việc ghi nhận thẩm quyền và hình thức văn bản sẽ là cơ sở để áp dụng trình tự, thủ tục trong việc quyết định cũng như xây dựng, ban hành văn bản về thí điểm, bảo đảm tính chặt chẽ, củng cố cơ sở pháp lý toàn diện, đầy đủ để các chủ thể quản lý nhà nước phát huy tính sáng tạo trong hoạt động.

TS. Hoàng Thị Ngân
Văn phòng Chính phủ

Tài liệu tham khảo:
[1]. Thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, huyện, phường, xã. Qua thí điểm sẽ tổng kết, đánh giá và xem xét để có chủ trương sửa đổi, bổ sung Hiến pháp và tổ chức chính quyền địa phương cho phù hợp.
[2]. Thực hiện đổi mới cơ chế tài chính đối với nhóm đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp các dịch vụ sự nghiệp công có khả năng xã hội hóa cao, tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động theo hướng giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đồng bộ cả về tổ chức thực hiện nhiệm vụ, nhân lực, tài chính, tài sản khi cung cấp dịch vụ gắn với nhu cầu của xã hội…
[3]. Khoản 2 Điều 26 Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014.
[4]. Đoàn Thái Sơn, Những nội dung cơ bản của Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng, https://www.sbv.gov.vn/webcenter/portal/m/links/cm100?dDocName=SBV290197.
[5]. Thời gian qua, việc xác định thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong mối liên hệ với thẩm quyền quản lý nhà nước luôn được quan tâm. Tuy nhiên, khó quy định một cách cụ thể nội dung văn bản quy phạm pháp luật của mỗi chủ thể.
[6]. Xem thêm Điều 12 về Thí điểm cho phép người Việt Nam chơi tại điểm kinh doanh casino.
[7]. Xem thêm Điều 38 về Tổ chức thí điểm kinh doanh đặt cược bóng đá quốc tế.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: