Thứ ba 14/07/2026 23:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một vài suy ngẫm về truyền thống đạo đức công vụ ở Việt Nam

Tóm tắt: Công vụ được hiểu theo nghĩa chung nhất là công việc do người của Nhà nước đảm nhận. Giá trị công vụ cốt lõi mà cán bộ, công chức, viên chức đảm nhận thể hiện ở cách công chức xử sự và đóng góp để xã hội tốt đẹp hơn.

Tóm tắt: Công vụ được hiểu theo nghĩa chung nhất là công việc do người của Nhà nước đảm nhận. Giá trị công vụ cốt lõi mà cán bộ, công chức, viên chức đảm nhận thể hiện ở cách công chức xử sự và đóng góp để xã hội tốt đẹp hơn. Điều đó được phản ánh ở đạo đức công vụ. Hoàn thiện các quy định về đạo đức công vụ là một yêu cầu mang tính tất yếu khách quan ở nước ta hiện nay. Quá trình này phải tiếp thu có chọn lọc những giá trị đạo đức công vụ của nhân loại, đặc biệt là phải bảo đảm được tính kế thừa, phát huy những giá trị đạo đức công vụ truyền thống. Việc tiến hành một cách đồng bộ các nội dung trên sẽ là động lực nâng cao phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay. Abstract: Public duties, in the broadest sense, are duties performed by public employees. The core values of the public duties performed by cadres, civil servants, public servants are reflected in their conduct and contribution for better society. That is reflected in the public ethics. Refining regulations on public ethics is an objective, necessary requirement in the current context in our country. In the refining process, it is crucial to refer to and to learn from the public ethics of other countries and its moral values while ensuring inheritance and promotion of the moral values of traditional public ethics. Promoting traditional values while learning from others is a drive to enhancement of moral and ethical qualities of cadres, civil servants, public servants to meet the requirements of the renovation in our country.

Công vụ được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, theo nghĩa rộng, công vụ là công việc do người của Nhà nước đảm nhận; theo nghĩa hẹp, công vụ là công việc do công chức đảm nhận. Trong khoa học quản lý nhà nước, các nhà nghiên cứu thường cho rằng, hoạt động công vụ có tính tổ chức, tính quyền lực - pháp lý của Nhà nước, nó được phân biệt với các hoạt động khác trong xã hội như sản xuất vật chất, sản xuất các giá trị tinh thần và hoạt động phục vụ trong các tổ chức chính trị - xã hội. Một mặt, hoạt động công vụ nhà nước là hoạt động quyền lực, tác động đến ý chí của con người, đưa đến cho họ những hành vi có ý thức hoặc đáp ứng những nhu cầu chung của mọi người trong xã hội. Mặt khác, hoạt động công vụ do các cán bộ, công chức đảm nhiệm nhằm thực hiện nhiệm vụ và chức năng của Nhà nước. Đạo đức công vụ là những giá trị đạo đức và chuẩn mực pháp lý được áp dụng cho cán bộ, công chức và những người có chức vụ, quyền hạn khác khi thi hành nhiệm vụ, công vụ.

Giá trị cốt lõi mà công chức đảm nhận thể hiện ở cách công chức xử sự và đóng góp để xã hội tốt đẹp hơn, bao gồm dịch vụ công tốt và từng cá nhân công chức cũng phải thường xuyên trau dồi, bồi dưỡng về mọi mặt để tiến bộ hơn. Hơn thế, đạo đức của công chức còn là những chuẩn mực giá trị đạo đức và hành vi ứng xử thể hiện vai trò công bộc của công chức trong quan hệ với người dân. Nói cách khác, đó là sự điều chỉnh và xem xét về mặt đạo đức các quyết định và hành động của công chức trong quá trình thực thi công vụ. Trên thực tế, giá trị cốt lõi của công vụ mà công chức đảm nhận thường là những nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp trong việc quản lý nhà nước trên từng lĩnh vực cụ thể của đời sống. Những giá trị ấy góp phần tăng cường đạo đức công chức, làm tăng thêm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của mỗi công chức trong việc thực thi công vụ qua những hoạt động, hành vi cụ thể trong quá trình thực thi công vụ. Mỗi công chức trong nền công vụ đều phải tự giác, tự nguyện xác định cho mình sự tôn trọng các quy tắc ứng xử mang tính nghề nghiệp. Theo mong đợi từ xã hội, công chức phải tham gia vào đời sống chính trị - xã hội ở cấp độ cao nhất của sự liêm chính. Bởi vì, mục đích cuối cùng của nền công vụ là phục vụ nhân dân, có trách nhiệm với nhân dân.

Ở Việt Nam, đạo đức công vụ là nội dung được các chính quyền từ phong kiến đến hiện đại quan tâm. Thời Hậu Lê, chính quyền đã tiếp thu và chuyển hóa các quan điểm Nho giáo vào việc trị nước. Từ Vua Lê Thái Tông với quan điểm “bên trong ức chế quyền thần, bên ngoài đánh dẹp di địch, trọng đạo sùng Nho, mở khoa thi chọn kẻ sĩ” đến Vua Lê Thánh Tông hết sức đề cao Nho học và đã chuyển hóa các phạm trù Nho giáo vào bộ Quốc triều hình luật nổi tiếng, Nho giáo đã có vị trí vững chắc trong đời sống xã hội nói chung, đời sống công vụ nói riêng. Đường lối trị nước thời Lê cũng như các triều đại phong kiến khác đặt trọng tâm vào việc xây dựng đội ngũ quan lại “có năng lực, tận tâm, công tâm thực thi các nhiệm vụ hoàng đế và triều đình giao, đưa nền hành chính vào nền nếp, để các cơ quan nhà nước hoạt động có hiệu quả”. Vì vậy, trong lịch sử Việt Nam, việc triều đình ban hành các luật hay chiếu lệnh quy định hay uốn nắn quan lại về đạo đức trong thực thi công vụ là điều thường thấy.

“Đại Việt sử ký toàn thư” có đoạn chép, năm 1427, Vua Lê Thái Tổ trong lúc cuộc kháng chiến chống quân Minh ở vào giai đoạn quyết liệt nhất, ông đã ban hành 10 điều quân luật răn dạy tướng sĩ, trong đó những hành vi sau sẽ bị xử chém, đó là: (i) Đắm đuối nữ sắc, lén lút thả riêng cho người họ nhà vợ không làm quân dịch; (ii) Thả quân lính để lấy tiền, che giấu không biên vào sổ quân; (iii) Theo thói ưu ghét của mình mà đảo lộn công tội của người; (iv) Bất hòa với mọi người, gian ác, trộm cắp...

Năm 1428, khi cuộc kháng chiến kết thúc thắng lợi, Nhà Vua hạ lệnh cho các tướng sĩ và quan lại rằng: “Từ xưa tới nay, trị nước phải có pháp luật, không có pháp luật thì sẽ loạn. Cho nên học tập đời xưa đặt ra pháp luật là để dạy các tướng hiệu, quan lại, dưới đến dân chúng trăm họ biết thế nào là thiện, là ác, điều thiện thì làm, điều chẳng lành thì tránh...”. Trước đó, Nhà Vua cũng đã từng ban hành 03 điều răn các quan văn, võ: (i) Chớ thờ ơ; (ii) Chớ lừa dối; (iii) Chớ tham lam.

Theo PGS.TS. Bùi Xuân Đính trong “Nhà nước và pháp luật thời phong kiến Việt Nam - Những suy ngẫm”, thì những nguyên tắc cơ bản trong việc bố trí, quản lý, sử dụng quan lại thời phong kiến ở nước ta là:

- Đặt vị trí quan lại theo đúng tài và đức;

- Tùy đặc điểm, tính chất công việc mà bố trí số lượng, vị trí quan lại cho phù hợp;

- Đảm bảo sự hài hòa, nghiêm minh giữa chức vụ và trách nhiệm;

- Luân chuyển quan lại;

- Thực hiện chế độ “hồi tỵ”;

- Đảm bảo chế độ lương bổng cho quan lại;

- Giám sát quan lại;

- Thực hiện chế độ khảo công đối với quan lại;

- Xử lý nghiêm quan lại vi phạm.

Đơn cử như phép khảo công (khảo sát năng lực quan lại) nhằm giúp triều đình nhận rõ thành tích cùng những ưu, khuyết điểm, những mặt mạnh, mặt yếu của quan lại các cấp để chấn chỉnh họ, bố trí họ vào những chức trách, nhiệm vụ theo tài năng, đức độ, tinh thần trách nhiệm của họ đối với công việc, khích lệ từng người cố gắng phấn đấu trở thành những viên quan tốt, đồng thời răn đe và cả trừng phạt những quan lại có hành vi xấu. Qua đó, xây dựng một nền công vụ có đạo đức, có trách nhiệm với xã hội. Các chế độ “hồi tỵ” (người thân thuộc không được cùng làm trong một cơ quan hay địa phương), chế độ giám sát, chế độ luân chuyển… cũng nhằm đến mục tiêu đó.

Đến đầu thế kỷ XX, công cuộc xâm lược và bình định của người Pháp về cơ bản đã hoàn thành. Lúc này, trong bộ máy quan lại của nhà Nguyễn có sự phân hóa thành bộ phận bất hợp tác và bộ phận hợp tác với thực dân Pháp. Bộ phận bất hợp tác đi theo các phong trào kháng chiến hoặc lui về ở ẩn. Điều này làm cho số lượng quan lại hợp tác với người Pháp trở nên ít ỏi. Họ cũng bị xã hội lên án và cô lập. Để khắc phục điều này, người Pháp đã chỉ đạo cải cách chế độ khoa cử, chuyển dần sang thi bằng chữ quốc ngữ và tuyển chọn một số lượng lớn quan lại bổ sung cho bộ máy mới.

Nhìn vào bộ máy quan lại thời Pháp thuộc, có thể thấy, người Pháp mong muốn xây dựng được một nền công vụ phục vụ lợi ích của chính quốc, đồng thời có hiệu năng và được xã hội tín nhiệm. Theo Emmanuel Poisson trong cuốn “Quan và lại ở miền Bắc Việt Nam”, năm 1904, Thống sứ Bắc Kỳ đã ban hành quy định về đánh giá quan lại. Văn bản yêu cầu phải nói rõ về các điểm: “Đạo đức và hạnh kiểm; sức khỏe, tác phong; quan hệ với người trên, đồng cấp, kẻ dưới, năng lực, cung cách làm việc; năng lực đặc biệt (hành chính hay học chính), trình độ quốc ngữ hay tiếng Pháp”. Ba năm sau, quy định này còn được chi tiết hóa hơn. Ba loại hiểu biết truyền thống là thu thuế, công chính và tư pháp được chia nhỏ thành 12 tiểu mục để làm tiêu chí đánh giá, bao gồm: (i) Lập các sổ thuế; (ii) Phát hiện diện tích ruộng đất ẩn lậu và những đinh (nam giới trong độ tuổi) bị bỏ sót chưa đăng ký; (iii) Thu thuế; (iv) Tu bổ đê điều và làm đường; (v) Chỉ ra những công trình công cộng phải tiến hành; (vi) Quản lý đường giao thông; (vii) Kênh mương dâng nước và tháo nước; (viii) Cảnh sát và tư pháp; (ix) Nhanh chóng xem xét và giải quyết các vụ việc dân sự; (x) Nhanh nhẹn và chính xác trong các vụ việc hình sự; (xi) Các công việc đặc thù và kiến thức cá biệt; (xii) Trình độ phát huy sáng kiến trong công việc... Quan lại nếu không giữ gìn đạo đức và trau giồi năng lực để hoàn thành nhiệm vụ thì phải chịu kỷ luật nghiêm khắc. Năm 1906, một Nghị định được ban hành quy định 4 loại hình phạt với quan lại. Năm 1907, bổ sung hình phạt thải hồi....

Nhìn lại lịch sử để soi sáng hiện tại, có thể thấy, việc chú trọng hoàn thiện các quy định về đạo đức công vụ trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh cải cách hành chính ở nước ta hiện nay là một yêu cầu mang tính tất yếu khách quan. Quá trình hoàn thiện đạo đức công vụ phải đảm bảo quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng nhằm góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thực sự là công bộc của dân, bảo đảm phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế trong quá trình xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, tiếp thu có chọn lọc những giá trị đạo đức công vụ của nhân loại, đặc biệt là phải bảo đảm tính kế thừa và phát triển đối với các quy định của pháp luật hiện hành về đạo đức công vụ, bảo đảm được tính kế thừa, phát huy những giá trị đạo đức công vụ truyền thống. Việc tiến hành một cách chủ động, nhanh chóng, đồng bộ và triệt để các nội dung trên sẽ là động lực nâng cao phẩm chất đạo đức đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay

ThS. Nguyễn Tiến Hiệp

Học viện Hành chính Quốc gia



In bài viết Gửi phản hồi

Các tin khác

Kính tặng Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Ba mươi lăm năm ấy Những kỷ niệm của một thời đáng nhớ Những cuộc đồng hành gian nan mà thú vị Nơi thắp lửa cho cán bộ tư pháp trẻ Một mối lương duyên Ký ức mười năm là cộng tác viên của Tạp chí Đôi điều cảm nhận về ngành và nghề qua lớp tập huấn tiền công vụ năm 2013

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.

Theo dõi chúng tôi trên: