Chủ nhật 15/03/2026 00:27
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một vài suy ngẫm về truyền thống đạo đức công vụ ở Việt Nam

Tóm tắt: Công vụ được hiểu theo nghĩa chung nhất là công việc do người của Nhà nước đảm nhận. Giá trị công vụ cốt lõi mà cán bộ, công chức, viên chức đảm nhận thể hiện ở cách công chức xử sự và đóng góp để xã hội tốt đẹp hơn.

Tóm tắt: Công vụ được hiểu theo nghĩa chung nhất là công việc do người của Nhà nước đảm nhận. Giá trị công vụ cốt lõi mà cán bộ, công chức, viên chức đảm nhận thể hiện ở cách công chức xử sự và đóng góp để xã hội tốt đẹp hơn. Điều đó được phản ánh ở đạo đức công vụ. Hoàn thiện các quy định về đạo đức công vụ là một yêu cầu mang tính tất yếu khách quan ở nước ta hiện nay. Quá trình này phải tiếp thu có chọn lọc những giá trị đạo đức công vụ của nhân loại, đặc biệt là phải bảo đảm được tính kế thừa, phát huy những giá trị đạo đức công vụ truyền thống. Việc tiến hành một cách đồng bộ các nội dung trên sẽ là động lực nâng cao phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay. Abstract: Public duties, in the broadest sense, are duties performed by public employees. The core values of the public duties performed by cadres, civil servants, public servants are reflected in their conduct and contribution for better society. That is reflected in the public ethics. Refining regulations on public ethics is an objective, necessary requirement in the current context in our country. In the refining process, it is crucial to refer to and to learn from the public ethics of other countries and its moral values while ensuring inheritance and promotion of the moral values of traditional public ethics. Promoting traditional values while learning from others is a drive to enhancement of moral and ethical qualities of cadres, civil servants, public servants to meet the requirements of the renovation in our country.

Công vụ được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, theo nghĩa rộng, công vụ là công việc do người của Nhà nước đảm nhận; theo nghĩa hẹp, công vụ là công việc do công chức đảm nhận. Trong khoa học quản lý nhà nước, các nhà nghiên cứu thường cho rằng, hoạt động công vụ có tính tổ chức, tính quyền lực - pháp lý của Nhà nước, nó được phân biệt với các hoạt động khác trong xã hội như sản xuất vật chất, sản xuất các giá trị tinh thần và hoạt động phục vụ trong các tổ chức chính trị - xã hội. Một mặt, hoạt động công vụ nhà nước là hoạt động quyền lực, tác động đến ý chí của con người, đưa đến cho họ những hành vi có ý thức hoặc đáp ứng những nhu cầu chung của mọi người trong xã hội. Mặt khác, hoạt động công vụ do các cán bộ, công chức đảm nhiệm nhằm thực hiện nhiệm vụ và chức năng của Nhà nước. Đạo đức công vụ là những giá trị đạo đức và chuẩn mực pháp lý được áp dụng cho cán bộ, công chức và những người có chức vụ, quyền hạn khác khi thi hành nhiệm vụ, công vụ.

Giá trị cốt lõi mà công chức đảm nhận thể hiện ở cách công chức xử sự và đóng góp để xã hội tốt đẹp hơn, bao gồm dịch vụ công tốt và từng cá nhân công chức cũng phải thường xuyên trau dồi, bồi dưỡng về mọi mặt để tiến bộ hơn. Hơn thế, đạo đức của công chức còn là những chuẩn mực giá trị đạo đức và hành vi ứng xử thể hiện vai trò công bộc của công chức trong quan hệ với người dân. Nói cách khác, đó là sự điều chỉnh và xem xét về mặt đạo đức các quyết định và hành động của công chức trong quá trình thực thi công vụ. Trên thực tế, giá trị cốt lõi của công vụ mà công chức đảm nhận thường là những nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp trong việc quản lý nhà nước trên từng lĩnh vực cụ thể của đời sống. Những giá trị ấy góp phần tăng cường đạo đức công chức, làm tăng thêm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của mỗi công chức trong việc thực thi công vụ qua những hoạt động, hành vi cụ thể trong quá trình thực thi công vụ. Mỗi công chức trong nền công vụ đều phải tự giác, tự nguyện xác định cho mình sự tôn trọng các quy tắc ứng xử mang tính nghề nghiệp. Theo mong đợi từ xã hội, công chức phải tham gia vào đời sống chính trị - xã hội ở cấp độ cao nhất của sự liêm chính. Bởi vì, mục đích cuối cùng của nền công vụ là phục vụ nhân dân, có trách nhiệm với nhân dân.

Ở Việt Nam, đạo đức công vụ là nội dung được các chính quyền từ phong kiến đến hiện đại quan tâm. Thời Hậu Lê, chính quyền đã tiếp thu và chuyển hóa các quan điểm Nho giáo vào việc trị nước. Từ Vua Lê Thái Tông với quan điểm “bên trong ức chế quyền thần, bên ngoài đánh dẹp di địch, trọng đạo sùng Nho, mở khoa thi chọn kẻ sĩ” đến Vua Lê Thánh Tông hết sức đề cao Nho học và đã chuyển hóa các phạm trù Nho giáo vào bộ Quốc triều hình luật nổi tiếng, Nho giáo đã có vị trí vững chắc trong đời sống xã hội nói chung, đời sống công vụ nói riêng. Đường lối trị nước thời Lê cũng như các triều đại phong kiến khác đặt trọng tâm vào việc xây dựng đội ngũ quan lại “có năng lực, tận tâm, công tâm thực thi các nhiệm vụ hoàng đế và triều đình giao, đưa nền hành chính vào nền nếp, để các cơ quan nhà nước hoạt động có hiệu quả”. Vì vậy, trong lịch sử Việt Nam, việc triều đình ban hành các luật hay chiếu lệnh quy định hay uốn nắn quan lại về đạo đức trong thực thi công vụ là điều thường thấy.

“Đại Việt sử ký toàn thư” có đoạn chép, năm 1427, Vua Lê Thái Tổ trong lúc cuộc kháng chiến chống quân Minh ở vào giai đoạn quyết liệt nhất, ông đã ban hành 10 điều quân luật răn dạy tướng sĩ, trong đó những hành vi sau sẽ bị xử chém, đó là: (i) Đắm đuối nữ sắc, lén lút thả riêng cho người họ nhà vợ không làm quân dịch; (ii) Thả quân lính để lấy tiền, che giấu không biên vào sổ quân; (iii) Theo thói ưu ghét của mình mà đảo lộn công tội của người; (iv) Bất hòa với mọi người, gian ác, trộm cắp...

Năm 1428, khi cuộc kháng chiến kết thúc thắng lợi, Nhà Vua hạ lệnh cho các tướng sĩ và quan lại rằng: “Từ xưa tới nay, trị nước phải có pháp luật, không có pháp luật thì sẽ loạn. Cho nên học tập đời xưa đặt ra pháp luật là để dạy các tướng hiệu, quan lại, dưới đến dân chúng trăm họ biết thế nào là thiện, là ác, điều thiện thì làm, điều chẳng lành thì tránh...”. Trước đó, Nhà Vua cũng đã từng ban hành 03 điều răn các quan văn, võ: (i) Chớ thờ ơ; (ii) Chớ lừa dối; (iii) Chớ tham lam.

Theo PGS.TS. Bùi Xuân Đính trong “Nhà nước và pháp luật thời phong kiến Việt Nam - Những suy ngẫm”, thì những nguyên tắc cơ bản trong việc bố trí, quản lý, sử dụng quan lại thời phong kiến ở nước ta là:

- Đặt vị trí quan lại theo đúng tài và đức;

- Tùy đặc điểm, tính chất công việc mà bố trí số lượng, vị trí quan lại cho phù hợp;

- Đảm bảo sự hài hòa, nghiêm minh giữa chức vụ và trách nhiệm;

- Luân chuyển quan lại;

- Thực hiện chế độ “hồi tỵ”;

- Đảm bảo chế độ lương bổng cho quan lại;

- Giám sát quan lại;

- Thực hiện chế độ khảo công đối với quan lại;

- Xử lý nghiêm quan lại vi phạm.

Đơn cử như phép khảo công (khảo sát năng lực quan lại) nhằm giúp triều đình nhận rõ thành tích cùng những ưu, khuyết điểm, những mặt mạnh, mặt yếu của quan lại các cấp để chấn chỉnh họ, bố trí họ vào những chức trách, nhiệm vụ theo tài năng, đức độ, tinh thần trách nhiệm của họ đối với công việc, khích lệ từng người cố gắng phấn đấu trở thành những viên quan tốt, đồng thời răn đe và cả trừng phạt những quan lại có hành vi xấu. Qua đó, xây dựng một nền công vụ có đạo đức, có trách nhiệm với xã hội. Các chế độ “hồi tỵ” (người thân thuộc không được cùng làm trong một cơ quan hay địa phương), chế độ giám sát, chế độ luân chuyển… cũng nhằm đến mục tiêu đó.

Đến đầu thế kỷ XX, công cuộc xâm lược và bình định của người Pháp về cơ bản đã hoàn thành. Lúc này, trong bộ máy quan lại của nhà Nguyễn có sự phân hóa thành bộ phận bất hợp tác và bộ phận hợp tác với thực dân Pháp. Bộ phận bất hợp tác đi theo các phong trào kháng chiến hoặc lui về ở ẩn. Điều này làm cho số lượng quan lại hợp tác với người Pháp trở nên ít ỏi. Họ cũng bị xã hội lên án và cô lập. Để khắc phục điều này, người Pháp đã chỉ đạo cải cách chế độ khoa cử, chuyển dần sang thi bằng chữ quốc ngữ và tuyển chọn một số lượng lớn quan lại bổ sung cho bộ máy mới.

Nhìn vào bộ máy quan lại thời Pháp thuộc, có thể thấy, người Pháp mong muốn xây dựng được một nền công vụ phục vụ lợi ích của chính quốc, đồng thời có hiệu năng và được xã hội tín nhiệm. Theo Emmanuel Poisson trong cuốn “Quan và lại ở miền Bắc Việt Nam”, năm 1904, Thống sứ Bắc Kỳ đã ban hành quy định về đánh giá quan lại. Văn bản yêu cầu phải nói rõ về các điểm: “Đạo đức và hạnh kiểm; sức khỏe, tác phong; quan hệ với người trên, đồng cấp, kẻ dưới, năng lực, cung cách làm việc; năng lực đặc biệt (hành chính hay học chính), trình độ quốc ngữ hay tiếng Pháp”. Ba năm sau, quy định này còn được chi tiết hóa hơn. Ba loại hiểu biết truyền thống là thu thuế, công chính và tư pháp được chia nhỏ thành 12 tiểu mục để làm tiêu chí đánh giá, bao gồm: (i) Lập các sổ thuế; (ii) Phát hiện diện tích ruộng đất ẩn lậu và những đinh (nam giới trong độ tuổi) bị bỏ sót chưa đăng ký; (iii) Thu thuế; (iv) Tu bổ đê điều và làm đường; (v) Chỉ ra những công trình công cộng phải tiến hành; (vi) Quản lý đường giao thông; (vii) Kênh mương dâng nước và tháo nước; (viii) Cảnh sát và tư pháp; (ix) Nhanh chóng xem xét và giải quyết các vụ việc dân sự; (x) Nhanh nhẹn và chính xác trong các vụ việc hình sự; (xi) Các công việc đặc thù và kiến thức cá biệt; (xii) Trình độ phát huy sáng kiến trong công việc... Quan lại nếu không giữ gìn đạo đức và trau giồi năng lực để hoàn thành nhiệm vụ thì phải chịu kỷ luật nghiêm khắc. Năm 1906, một Nghị định được ban hành quy định 4 loại hình phạt với quan lại. Năm 1907, bổ sung hình phạt thải hồi....

Nhìn lại lịch sử để soi sáng hiện tại, có thể thấy, việc chú trọng hoàn thiện các quy định về đạo đức công vụ trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh cải cách hành chính ở nước ta hiện nay là một yêu cầu mang tính tất yếu khách quan. Quá trình hoàn thiện đạo đức công vụ phải đảm bảo quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng nhằm góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thực sự là công bộc của dân, bảo đảm phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế trong quá trình xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, tiếp thu có chọn lọc những giá trị đạo đức công vụ của nhân loại, đặc biệt là phải bảo đảm tính kế thừa và phát triển đối với các quy định của pháp luật hiện hành về đạo đức công vụ, bảo đảm được tính kế thừa, phát huy những giá trị đạo đức công vụ truyền thống. Việc tiến hành một cách chủ động, nhanh chóng, đồng bộ và triệt để các nội dung trên sẽ là động lực nâng cao phẩm chất đạo đức đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay

ThS. Nguyễn Tiến Hiệp

Học viện Hành chính Quốc gia



In bài viết Gửi phản hồi

Các tin khác

Kính tặng Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Ba mươi lăm năm ấy Những kỷ niệm của một thời đáng nhớ Những cuộc đồng hành gian nan mà thú vị Nơi thắp lửa cho cán bộ tư pháp trẻ Một mối lương duyên Ký ức mười năm là cộng tác viên của Tạp chí Đôi điều cảm nhận về ngành và nghề qua lớp tập huấn tiền công vụ năm 2013

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: