Thứ năm 14/05/2026 02:23
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một vài suy nghĩ về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội

Thứ nhất, Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp; làm và sửa đổi Hiến pháp, luật để định ra các thiết chế nhà nước với chức năng nhiệm vụ xuất phát từ Hiến pháp, hay nói một cách khác, Quốc hội bằng quyền lập hiến và lập pháp của mình, quy định cụ thể tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước.

1. Quốc hội và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội

Theo quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức Quốc hội, Quốc hội được xác định là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1). Vai trò, vị trí đặc biệt của Quốc hội trong bộ máy nhà nước ta, được thể hiện ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất, Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp; làm và sửa đổi Hiến pháp, luật để định ra các thiết chế nhà nước với chức năng nhiệm vụ xuất phát từ Hiến pháp, hay nói một cách khác, Quốc hội bằng quyền lập hiến và lập pháp của mình, quy định cụ thể tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước.

Thứ hai, Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân.

Thứ ba, Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.

Với vị trí đặc biệt của Quốc hội nêu trên, do đó, sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội, ngoài những nội dung và phương thức lãnh đạo mang tính phổ biến trong việc lãnh đạo Nhà nước nói chung, thì phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội cũng có những hình thức biểu hiện, mức độ cũng như phương thức cụ thể không thể hoàn toàn giống như đối với các thiết chế khác của Nhà nước.

Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân. Đây là một thiết chế tạo lập ra nền tảng pháp lý cho sự tồn tại và phát triển của Nhà nước và xã hội - thiết chế đó vừa là Nhà nước, vừa là nhân dân. Do đó, sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội cũng cần phải phù hợp với vị trí đặc thù này của Quốc hội - xét cả về ý nghĩa chính trị và pháp lý. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội không đặt mình đứng trên Quốc hội, không đứng ngoài Quốc hội, không áp đặt nội dung lãnh đạo của mình, mà là sự lãnh đạo đứng trong Quốc hội, tạo điều kiện để Quốc hội thực quyền trong việc thực hiện các chức năng lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.

Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản ở nước ta là tất yếu. Đảng đã lãnh đạo nhân dân làm cách mạng và lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước.

Vị trí lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước nói chung và Quốc hội nói riêng được quy định bởi Hiến pháp “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác – LêNin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật"(2). Song Đảng lãnh đạo Quốc hội như thế nào và bằng phương thức gì luôn là vấn đề hệ trọng mà Đảng luôn phải tìm tòi sáng tạo và vận dụng hợp lý trong từng thời kỳ của cách mạng Việt Nam.

Hiện nay Đảng và Nhà nước ta đang tích cực thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và chuẩn bị sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Do đó, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng với Quốc hội chính là yếu tố có ý nghĩa quan trọng tới việc nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội.

2. Một số nét về thực trạng phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội

Đảng lãnh đạo Quốc hội thông qua đường lối, quan điểm, các nghị quyết, các quyết định, chỉ thị, các nguyên tắc về vấn đề hệ trọng của đất nước. Phương thức này là phương thức quan trọng, cơ bản nhất để Đảng lãnh đạo Nhà nước nói chung và Quốc hội nói riêng. Phương thức lãnh đạo này của Đảng nhằm tác động đầu tiên đến định hướng lập pháp của Quốc hội và là cơ sở chính trị để Quốc hội xây dựng luật. Trên cơ sở đường lối và nghị quyết của Đảng, Quốc hội xây dựng kế hoạch lập pháp cụ thể.

Đảng lãnh đạo Quốc hội thông qua Đảng đoàn Quốc hội trong hoạt động lập pháp. Phương thức này hiện nay được thực hiện có hiệu quả, bảo đảm để nội dung Đảng lãnh đạo Quốc hội trong hoạt động lập pháp được giữ vững. Đảng đoàn Quốc hội là một tổ chức Đảng thực sự chịu sự lãnh đạo, quản lý của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị.

Đảng lãnh đạo bằng thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát hoạt động Quốc hội thông qua Đảng đoàn Quốc hội và đảng viên và Đảng lãnh đạo thông qua việc lãnh đạo các cuộc bầu cử Quốc hội, thống nhất quản lý, giới thiệu và quyết định cán bộ ở một số chức vụ nhất định của Quốc hội.

Vì vậy, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước nói chung và đối với Quốc hội nói riêng cần tiếp tục nghiên cứu để đổi mới. Trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác xây dựng Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đánh giá về kết quả làm được là “Đảng đã từng bước cụ thể hóa và thể chế hóa các quan điểm của Cương lĩnh về phương thức lãnh đạo của Đảng, phát huy tốt hơn vai trò của các cơ quan nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân, khắc phục dần khuynh hướng Đảng bao biện làm thay, cũng như buông lỏng, xem nhẹ vai trò lãnh đạo của Đảng” (3). Trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về công tác xây dựng Đảng tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đánh giá “Phương thức lãnh đạo của Đảng tiếp tục được đổi mới, vừa đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng vừa phát huy tốt hơn tính chủ động, sáng tạo của các tổ chức trong hệ thống chính trị”(4).

Bên cạnh đó những khuyết điểm, yếu kém, “việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng còn chậm và lúng túng. Chậm nghiên cứu và ban hành những quy định cụ thể về phương thức Đảng lãnh đạo Nhà nước; chậm xây dựng các cơ chế phối hợp giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị. Thiếu những quy định cụ thể bảo đảm thực hiện đúng đắn nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy dân chủ trong Đảng. Chưa thực sự coi trọng đổi mới phong cách, lề lối làm việc” (5). “Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội trên một số nội dung chưa rõ, chậm đổi mới. Chức năng, nhiệm vụ của đảng đoàn, ban cán sự đảng chưa được xác định rõ ràng, cụ thể nên hoạt động còn lúng túng. Phong cách, lề lối làm việc đổi mới chậm; hội họp vẫn nhiều”(6).

Đảng lãnh đạo Quốc hội thông qua định hướng hoạt động lập pháp, thông qua cơ sở chính sách pháp luật, thông qua mục đích của các đạo luật. Trên cơ sở đó Quốc hội xây dựng từng điều, kết cấu của luật, kỹ thuật lập pháp. Trước các kỳ họp Quốc hội, Đảng đoàn Quốc hội báo cáo với Bộ Chính trị về chương trình, nội dung của các kỳ họp, dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm hoặc cả khoá.

Kiểm tra, giám sát vừa là nội dung vừa là phương thức lãnh đạo của Đảng. Tuy nhiên, hiện nay cơ chế kiểm tra, giám sát chưa thực sự có hiệu quả đối với quá trình xây dựng và thi hành pháp luật. Một số đạo luật ban hành sau khi có hiệu lực phải chờ các cơ quan quản lý nhà nước ra văn bản dưới luật, như thông tư, hướng dẫn thì mới được áp dụng. Từ đó, các ngành, các cấp rơi vào tình trạng chờ hướng dẫn, hoặc có những vận dụng theo cách hiểu chủ quan.

Các đại biểu Quốc hội và cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan của Quốc hội đóng vai trò quan trọng góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội. Những năm gần đây, nhiều cán bộ, đảng viên có kinh nghiệm công tác trong lĩnh vực luật pháp đã được giới thiệu, đề cử, điều động và bổ nhiệm trong các cơ quan của Quốc hội. Thông qua việc giới thiệu nhân sự và những cán bộ, đảng viên chủ chốt này, Đảng đã thực hiện vai trò lãnh đạo của mình đối với Quốc hội một cách toàn diện. Bên cạnh đó, việc giới thiệu cán bộ cho Quốc hội có lúc vẫn chưa ngang tầm với yêu cầu về nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội.

3. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội

Để phát huy những kết quả đã đạt được và khắc phục những hạn chế nêu trên, theo chúng tôi, nên rút ra một số nhận định làm căn cứ cho việc đổi mới phương thức lãnh đạo.

Mỗi thời kỳ, Đảng phải có sự đổi mới về phương thức lãnh đạo cho phù hợp với nội dung lãnh đạo. Do mỗi giai đoạn có những đặc trưng riêng về điều kiện kinh tế - xã hội, nên chủ trương, đường lối của Đảng trong các giai đoạn là khác nhau, do đó phương thức lãnh đạo của Đảng với Quốc hội không thể bất biến, mà cũng phải có những thay đổi, tương thích với tình hình.

Phương thức lãnh đạo của Đảng có quan hệ hữu cơ với trình độ dân trí và trình độ dân chủ của xã hội. Khi dân chủ ngày càng được mở rộng, dân trí ngày càng được nâng cao, thì sự lãnh đạo của Đảng cũng phải được nâng cao cả về khoa học, tính thuyết phục và không thể lãnh đạo theo kiểu áp đặt thuần túy. Nhân dân với trình độ và ý thức chính trị cao, thì càng đòi hỏi tổ chức Đảng và đảng viên phải gương mẫu, được tham gia ngày càng sâu rộng, trực tiếp vào các công việc của Nhà nước nói chung và Quốc hội nói riêng và giám sát các hoạt động này.

Phương thức lãnh đạo của Đảng vừa tùy thuộc, vừa phải phản ánh được sự trưởng thành của tổ chức Đảng, của cán bộ, đảng viên. Khi trình độ của đội ngũ cán bộ, đảng viên được nâng cao thì các tổ chức Đảng sẽ trưởng thành cả về nhận thức và khả năng lãnh đạo. Mà mỗi bước trưởng thành của Đảng đòi hỏi phải có sự cải tiến về phương thức lãnh đạo.

Phương thức lãnh đạo phải căn cứ vào điều kiện vật chất và phương tiện phục vụ sự lãnh đạo. Sự phát triển nhanh chóng, đòi hỏi sự lãnh đạo của Đảng phải được thực hiện trên cơ sở bám sát và cập nhật thường xuyên thông tin một cách chính xác và đa chiều. Nếu không có thông tin, hoặc thông tin chậm, thông tin không đầy đủ sẽ ảnh hưởng đến việc ra quyết định, ảnh hưởng đến sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Điều đó đòi hỏi việc nâng cao và hiện đại hoá cơ sở vật chất, phương tiện, trang thiết bị làm việc, với cách thức làm việc từ xa, họp, giao ban qua mạng, lưu trình công việc…

Từ những phân tích, nhận định, suy nghĩ trên chúng tôi thấy đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội nên tập trung ở một số nội dung:

Một là, tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội thông qua cơ chế giám sát, kiểm tra việc tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, thiết lập và thực hiện cơ chế bỏ phiếu bất tín nhiệm các chức danh do Quốc hội bầu và phê chuẩn.

Hai là, tiếp tục nâng cao vai trò lãnh đạo chính trị của Đảng trong công tác xây dựng Hiến pháp và pháp luật, mở rộng dân chủ trong lãnh đạo bầu cử Quốc hội, các quan điểm về xây dựng pháp luật.

Đảng chỉ cho ý kiến về tính cần thiết khi xây dựng luật, phương hướng, mục tiêu chung mà dự thảo luật cần phải đạt được, còn Quốc hội cần thể chế hoá quan điểm của Đảng trong xây dựng luật.

Ba là, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động cơ quan giúp việc của Quốc hội.

Theo chức năng của Quốc hội nước ta, Quốc hội có quyền giám sát tối cao các hoạt động của Nhà nước. Đây là chức năng rất quan trọng của Quốc hội, nhưng trên thực tế, kết quả còn hạn chế. Một phần do năng lực của Quốc hội, phần vì các điều kiện, cơ chế chưa cho phép Quốc hội thực hiện đầy đủ và mạnh mẽ chức năng này. Gần đây Quốc hội đã làm tốt việc chất vấn các thành viên của Chính phủ (cả ở Quốc hội và họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội), song nếu đứng ở vai trò phản biện thì chưa thực hiện rõ. Những việc này rất cần có sự tham mưu, giúp việc của cơ quan chuyên trách, giúp việc của Quốc hội.

Bốn là, nghiên cứu để từng bước thể chế hoá sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội.

Vấn đề quan trọng đặt ra là việc thể chế hoá, cụ thể hoá vai trò, chức năng tổ chức và hoạt động của các tổ chức Đảng ở các cấp, các ngành cho phù hợp với tình hình mới để vừa phát huy được vai trò lãnh đạo của Đảng, đặc biệt là sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội. Hiện nay, Đảng có những quy định mà tổ chức Đảng và đảng viên được hay không được làm. Những quy định này nên sớm luật hoá, chẳng hạn: Sự tham gia của đảng viên vào các cơ quan dân cử, vào những chức vụ chủ chốt của Nhà nước, Chính phủ; quyền hạn, trách nhiệm và quy trình Đảng lãnh đạo việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội...

Năm là, nâng cao tính thuyết phục trong sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội.

Đảng muốn phát huy và sử dụng có hiệu quả quyền lực chính trị của mình thì không thể không dùng biện pháp giáo dục và thuyết phục. Muốn nâng cao tính thuyết phục trong lãnh đạo, tổ chức Đảng và đảng viên phải thực sự có trí tuệ, thực sự biết lắng nghe nhân dân, những ý kiến tâm huyết của các đại biểu Quốc hội, biết tập hợp và quy tụ ý kiến trong Quốc hội.

Sáu là, coi trọng việc tổng kết thực tiễn, từ đó đúc kết, phát triển lý luận, đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo; hiện đại hoá công cụ, phương tiện phục vụ Đảng, phục vụ Quốc hội.

Chú trọng công tác điều tra xã hội học, điều tra dư luận xã hội, làm điểm một số mô hình…, tăng cường việc tham mưu, cố vấn của các nhà khoa học, các chuyên gia, của các tầng lớp nhân dân vào chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước. Đầu tư các trang thiết bị hiện đại đi đôi với mục đích sử dụng và khả năng sử dụng trang thiết bị đó, sao cho phục vụ tốt nhất cho công việc của Quốc hội.

ThS. Đỗ Việt Hà

Tài liệu tham khảo

(1) Điều 1, Luật Tổ chức Quốc hội

(2) Điều 4, Hiến pháp năm 1992

(3) Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2006, tr. 268

(4) Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2011, tr. 164 và 165

(5) Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2006, tr. 272 và 273

(6) Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2011, tr. 175

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.

Theo dõi chúng tôi trên: