Thứ tư 11/03/2026 03:36
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một vài suy nghĩ về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội

Thứ nhất, Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp; làm và sửa đổi Hiến pháp, luật để định ra các thiết chế nhà nước với chức năng nhiệm vụ xuất phát từ Hiến pháp, hay nói một cách khác, Quốc hội bằng quyền lập hiến và lập pháp của mình, quy định cụ thể tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước.

1. Quốc hội và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội

Theo quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức Quốc hội, Quốc hội được xác định là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1). Vai trò, vị trí đặc biệt của Quốc hội trong bộ máy nhà nước ta, được thể hiện ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất, Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp; làm và sửa đổi Hiến pháp, luật để định ra các thiết chế nhà nước với chức năng nhiệm vụ xuất phát từ Hiến pháp, hay nói một cách khác, Quốc hội bằng quyền lập hiến và lập pháp của mình, quy định cụ thể tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước.

Thứ hai, Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân.

Thứ ba, Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.

Với vị trí đặc biệt của Quốc hội nêu trên, do đó, sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội, ngoài những nội dung và phương thức lãnh đạo mang tính phổ biến trong việc lãnh đạo Nhà nước nói chung, thì phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội cũng có những hình thức biểu hiện, mức độ cũng như phương thức cụ thể không thể hoàn toàn giống như đối với các thiết chế khác của Nhà nước.

Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân. Đây là một thiết chế tạo lập ra nền tảng pháp lý cho sự tồn tại và phát triển của Nhà nước và xã hội - thiết chế đó vừa là Nhà nước, vừa là nhân dân. Do đó, sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội cũng cần phải phù hợp với vị trí đặc thù này của Quốc hội - xét cả về ý nghĩa chính trị và pháp lý. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội không đặt mình đứng trên Quốc hội, không đứng ngoài Quốc hội, không áp đặt nội dung lãnh đạo của mình, mà là sự lãnh đạo đứng trong Quốc hội, tạo điều kiện để Quốc hội thực quyền trong việc thực hiện các chức năng lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.

Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản ở nước ta là tất yếu. Đảng đã lãnh đạo nhân dân làm cách mạng và lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước.

Vị trí lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước nói chung và Quốc hội nói riêng được quy định bởi Hiến pháp “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác – LêNin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật"(2). Song Đảng lãnh đạo Quốc hội như thế nào và bằng phương thức gì luôn là vấn đề hệ trọng mà Đảng luôn phải tìm tòi sáng tạo và vận dụng hợp lý trong từng thời kỳ của cách mạng Việt Nam.

Hiện nay Đảng và Nhà nước ta đang tích cực thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và chuẩn bị sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Do đó, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng với Quốc hội chính là yếu tố có ý nghĩa quan trọng tới việc nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội.

2. Một số nét về thực trạng phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội

Đảng lãnh đạo Quốc hội thông qua đường lối, quan điểm, các nghị quyết, các quyết định, chỉ thị, các nguyên tắc về vấn đề hệ trọng của đất nước. Phương thức này là phương thức quan trọng, cơ bản nhất để Đảng lãnh đạo Nhà nước nói chung và Quốc hội nói riêng. Phương thức lãnh đạo này của Đảng nhằm tác động đầu tiên đến định hướng lập pháp của Quốc hội và là cơ sở chính trị để Quốc hội xây dựng luật. Trên cơ sở đường lối và nghị quyết của Đảng, Quốc hội xây dựng kế hoạch lập pháp cụ thể.

Đảng lãnh đạo Quốc hội thông qua Đảng đoàn Quốc hội trong hoạt động lập pháp. Phương thức này hiện nay được thực hiện có hiệu quả, bảo đảm để nội dung Đảng lãnh đạo Quốc hội trong hoạt động lập pháp được giữ vững. Đảng đoàn Quốc hội là một tổ chức Đảng thực sự chịu sự lãnh đạo, quản lý của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị.

Đảng lãnh đạo bằng thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát hoạt động Quốc hội thông qua Đảng đoàn Quốc hội và đảng viên và Đảng lãnh đạo thông qua việc lãnh đạo các cuộc bầu cử Quốc hội, thống nhất quản lý, giới thiệu và quyết định cán bộ ở một số chức vụ nhất định của Quốc hội.

Vì vậy, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước nói chung và đối với Quốc hội nói riêng cần tiếp tục nghiên cứu để đổi mới. Trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác xây dựng Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đánh giá về kết quả làm được là “Đảng đã từng bước cụ thể hóa và thể chế hóa các quan điểm của Cương lĩnh về phương thức lãnh đạo của Đảng, phát huy tốt hơn vai trò của các cơ quan nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân, khắc phục dần khuynh hướng Đảng bao biện làm thay, cũng như buông lỏng, xem nhẹ vai trò lãnh đạo của Đảng” (3). Trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về công tác xây dựng Đảng tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đánh giá “Phương thức lãnh đạo của Đảng tiếp tục được đổi mới, vừa đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng vừa phát huy tốt hơn tính chủ động, sáng tạo của các tổ chức trong hệ thống chính trị”(4).

Bên cạnh đó những khuyết điểm, yếu kém, “việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng còn chậm và lúng túng. Chậm nghiên cứu và ban hành những quy định cụ thể về phương thức Đảng lãnh đạo Nhà nước; chậm xây dựng các cơ chế phối hợp giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị. Thiếu những quy định cụ thể bảo đảm thực hiện đúng đắn nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy dân chủ trong Đảng. Chưa thực sự coi trọng đổi mới phong cách, lề lối làm việc” (5). “Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội trên một số nội dung chưa rõ, chậm đổi mới. Chức năng, nhiệm vụ của đảng đoàn, ban cán sự đảng chưa được xác định rõ ràng, cụ thể nên hoạt động còn lúng túng. Phong cách, lề lối làm việc đổi mới chậm; hội họp vẫn nhiều”(6).

Đảng lãnh đạo Quốc hội thông qua định hướng hoạt động lập pháp, thông qua cơ sở chính sách pháp luật, thông qua mục đích của các đạo luật. Trên cơ sở đó Quốc hội xây dựng từng điều, kết cấu của luật, kỹ thuật lập pháp. Trước các kỳ họp Quốc hội, Đảng đoàn Quốc hội báo cáo với Bộ Chính trị về chương trình, nội dung của các kỳ họp, dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm hoặc cả khoá.

Kiểm tra, giám sát vừa là nội dung vừa là phương thức lãnh đạo của Đảng. Tuy nhiên, hiện nay cơ chế kiểm tra, giám sát chưa thực sự có hiệu quả đối với quá trình xây dựng và thi hành pháp luật. Một số đạo luật ban hành sau khi có hiệu lực phải chờ các cơ quan quản lý nhà nước ra văn bản dưới luật, như thông tư, hướng dẫn thì mới được áp dụng. Từ đó, các ngành, các cấp rơi vào tình trạng chờ hướng dẫn, hoặc có những vận dụng theo cách hiểu chủ quan.

Các đại biểu Quốc hội và cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan của Quốc hội đóng vai trò quan trọng góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội. Những năm gần đây, nhiều cán bộ, đảng viên có kinh nghiệm công tác trong lĩnh vực luật pháp đã được giới thiệu, đề cử, điều động và bổ nhiệm trong các cơ quan của Quốc hội. Thông qua việc giới thiệu nhân sự và những cán bộ, đảng viên chủ chốt này, Đảng đã thực hiện vai trò lãnh đạo của mình đối với Quốc hội một cách toàn diện. Bên cạnh đó, việc giới thiệu cán bộ cho Quốc hội có lúc vẫn chưa ngang tầm với yêu cầu về nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội.

3. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội

Để phát huy những kết quả đã đạt được và khắc phục những hạn chế nêu trên, theo chúng tôi, nên rút ra một số nhận định làm căn cứ cho việc đổi mới phương thức lãnh đạo.

Mỗi thời kỳ, Đảng phải có sự đổi mới về phương thức lãnh đạo cho phù hợp với nội dung lãnh đạo. Do mỗi giai đoạn có những đặc trưng riêng về điều kiện kinh tế - xã hội, nên chủ trương, đường lối của Đảng trong các giai đoạn là khác nhau, do đó phương thức lãnh đạo của Đảng với Quốc hội không thể bất biến, mà cũng phải có những thay đổi, tương thích với tình hình.

Phương thức lãnh đạo của Đảng có quan hệ hữu cơ với trình độ dân trí và trình độ dân chủ của xã hội. Khi dân chủ ngày càng được mở rộng, dân trí ngày càng được nâng cao, thì sự lãnh đạo của Đảng cũng phải được nâng cao cả về khoa học, tính thuyết phục và không thể lãnh đạo theo kiểu áp đặt thuần túy. Nhân dân với trình độ và ý thức chính trị cao, thì càng đòi hỏi tổ chức Đảng và đảng viên phải gương mẫu, được tham gia ngày càng sâu rộng, trực tiếp vào các công việc của Nhà nước nói chung và Quốc hội nói riêng và giám sát các hoạt động này.

Phương thức lãnh đạo của Đảng vừa tùy thuộc, vừa phải phản ánh được sự trưởng thành của tổ chức Đảng, của cán bộ, đảng viên. Khi trình độ của đội ngũ cán bộ, đảng viên được nâng cao thì các tổ chức Đảng sẽ trưởng thành cả về nhận thức và khả năng lãnh đạo. Mà mỗi bước trưởng thành của Đảng đòi hỏi phải có sự cải tiến về phương thức lãnh đạo.

Phương thức lãnh đạo phải căn cứ vào điều kiện vật chất và phương tiện phục vụ sự lãnh đạo. Sự phát triển nhanh chóng, đòi hỏi sự lãnh đạo của Đảng phải được thực hiện trên cơ sở bám sát và cập nhật thường xuyên thông tin một cách chính xác và đa chiều. Nếu không có thông tin, hoặc thông tin chậm, thông tin không đầy đủ sẽ ảnh hưởng đến việc ra quyết định, ảnh hưởng đến sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Điều đó đòi hỏi việc nâng cao và hiện đại hoá cơ sở vật chất, phương tiện, trang thiết bị làm việc, với cách thức làm việc từ xa, họp, giao ban qua mạng, lưu trình công việc…

Từ những phân tích, nhận định, suy nghĩ trên chúng tôi thấy đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội nên tập trung ở một số nội dung:

Một là, tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội thông qua cơ chế giám sát, kiểm tra việc tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, thiết lập và thực hiện cơ chế bỏ phiếu bất tín nhiệm các chức danh do Quốc hội bầu và phê chuẩn.

Hai là, tiếp tục nâng cao vai trò lãnh đạo chính trị của Đảng trong công tác xây dựng Hiến pháp và pháp luật, mở rộng dân chủ trong lãnh đạo bầu cử Quốc hội, các quan điểm về xây dựng pháp luật.

Đảng chỉ cho ý kiến về tính cần thiết khi xây dựng luật, phương hướng, mục tiêu chung mà dự thảo luật cần phải đạt được, còn Quốc hội cần thể chế hoá quan điểm của Đảng trong xây dựng luật.

Ba là, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động cơ quan giúp việc của Quốc hội.

Theo chức năng của Quốc hội nước ta, Quốc hội có quyền giám sát tối cao các hoạt động của Nhà nước. Đây là chức năng rất quan trọng của Quốc hội, nhưng trên thực tế, kết quả còn hạn chế. Một phần do năng lực của Quốc hội, phần vì các điều kiện, cơ chế chưa cho phép Quốc hội thực hiện đầy đủ và mạnh mẽ chức năng này. Gần đây Quốc hội đã làm tốt việc chất vấn các thành viên của Chính phủ (cả ở Quốc hội và họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội), song nếu đứng ở vai trò phản biện thì chưa thực hiện rõ. Những việc này rất cần có sự tham mưu, giúp việc của cơ quan chuyên trách, giúp việc của Quốc hội.

Bốn là, nghiên cứu để từng bước thể chế hoá sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội.

Vấn đề quan trọng đặt ra là việc thể chế hoá, cụ thể hoá vai trò, chức năng tổ chức và hoạt động của các tổ chức Đảng ở các cấp, các ngành cho phù hợp với tình hình mới để vừa phát huy được vai trò lãnh đạo của Đảng, đặc biệt là sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội. Hiện nay, Đảng có những quy định mà tổ chức Đảng và đảng viên được hay không được làm. Những quy định này nên sớm luật hoá, chẳng hạn: Sự tham gia của đảng viên vào các cơ quan dân cử, vào những chức vụ chủ chốt của Nhà nước, Chính phủ; quyền hạn, trách nhiệm và quy trình Đảng lãnh đạo việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội...

Năm là, nâng cao tính thuyết phục trong sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội.

Đảng muốn phát huy và sử dụng có hiệu quả quyền lực chính trị của mình thì không thể không dùng biện pháp giáo dục và thuyết phục. Muốn nâng cao tính thuyết phục trong lãnh đạo, tổ chức Đảng và đảng viên phải thực sự có trí tuệ, thực sự biết lắng nghe nhân dân, những ý kiến tâm huyết của các đại biểu Quốc hội, biết tập hợp và quy tụ ý kiến trong Quốc hội.

Sáu là, coi trọng việc tổng kết thực tiễn, từ đó đúc kết, phát triển lý luận, đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo; hiện đại hoá công cụ, phương tiện phục vụ Đảng, phục vụ Quốc hội.

Chú trọng công tác điều tra xã hội học, điều tra dư luận xã hội, làm điểm một số mô hình…, tăng cường việc tham mưu, cố vấn của các nhà khoa học, các chuyên gia, của các tầng lớp nhân dân vào chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước. Đầu tư các trang thiết bị hiện đại đi đôi với mục đích sử dụng và khả năng sử dụng trang thiết bị đó, sao cho phục vụ tốt nhất cho công việc của Quốc hội.

ThS. Đỗ Việt Hà

Tài liệu tham khảo

(1) Điều 1, Luật Tổ chức Quốc hội

(2) Điều 4, Hiến pháp năm 1992

(3) Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2006, tr. 268

(4) Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2011, tr. 164 và 165

(5) Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2006, tr. 272 và 273

(6) Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2011, tr. 175

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: