Thứ bảy 14/03/2026 19:30
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao chất lượng văn bản quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

Cũng như nhiều địa phương của cả nước, trong giai đoạn 2005 - 2015 các cấp, các ngành của tỉnh Lạng Sơn đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các văn bản ban hành đa số phù hợp với đặc điểm của địa phương, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và có nhiều tác động tích cực trong hoạt động quản lý nhà nước

1. Thực trạng ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2005 - 2015

Cũng như nhiều địa phương của cả nước, trong giai đoạn 2005 - 2015 các cấp, các ngành của tỉnh Lạng Sơn đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các văn bản ban hành đa số phù hợp với đặc điểm của địa phương, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và có nhiều tác động tích cực trong hoạt động quản lý nhà nước của tỉnh[1], cụ thể:

Từ tháng 5/2005 đến tháng 5/2015, Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp của tỉnh đã ban hành một khối lượng lớn các văn bản quản lý nhà nước trên các lĩnh vực để thực hiện công tác quản lý nhà nước ở địa phương, cụ thể:

- UBND tỉnh đã ban hành 298 quyết định; 16 chỉ thị; trình HĐND tỉnh ban hành 176 nghị quyết;

- UBND cấp huyện đã ban hành 157 quyết định; 24 chỉ thị thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của huyện, thành phố và tham mưu cho HĐND cấp huyện ban hành 710 nghị quyết;

- UBND cấp xã đã ban hành 951 quyết định; 28 chỉ thị thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của cấp xã và tham mưu cho HĐND cấp xã ban hành 6.783 nghị quyết.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong thời gian qua, công tác xây dựng, ban hành và thi hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn vẫn còn một số tồn tại, hạn chế nhất định. UBND các cấp đã chỉ đạo cơ quan tư pháp phối hợp với các cơ quan chuyên môn thực hiện tốt việc giúp UBND tự kiểm tra các VBQPPL do UBND cùng cấp ban hành, chỉ đạo cơ quan tư pháp giúp Chủ tịch UBND cùng cấp kiểm tra theo thẩm quyền đối với các VBQPPL do HĐND, UBND cấp dưới trực tiếp thành lập các đoàn kiểm tra về tình hình soạn thảo, ban hành VBQPPL để kiểm tra và xử lý những tồn tại, hạn chế, nhằm nâng cao hiệu quả công tác này tại địa phương. Kết quả kiểm tra như sau:

Tại cấp tỉnh: Sở Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tham mưu, giúp UBND tỉnh kiểm tra 297 VBQPPL do UBND tỉnh ban hành từ tháng 5/2005 đến hết tháng 5/2015. Qua kiểm tra, đã phát hiện 11 văn bản có dấu hiệu không phù hợp với quy định của pháp luật và UBND tỉnh đã tiến hành xử lý theo quy định. Đồng thời, trong quá trình thực hiện nghiệp vụ, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh đã phát hiện và trình UBND tỉnh ban hành văn bản để sửa đổi, bổ sung, thay thế 62 VBQPPL do không phù hợp với các văn bản pháp luật do trung ương mới ban hành hoặc tình hình thực tiễn địa phương. Qua công tác kiểm tra theo thẩm quyền đối với 1.030 VBQPPL do HĐND, UBND cấp huyện ban hành (từ năm 2005 - 2015), Sở Tư pháp đã phát hiện 281 văn bản có dấu hiệu không phù hợp với quy định của pháp luật và có thông báo đến cơ quan đã ban hành văn bản có dấu hiệu không phù hợp để tổ chức tự kiểm tra, xử lý theo quy định. Đến nay, HĐND, UBND các huyện, thành phố thuộc tỉnh đã kiểm tra, tiến hành xử lý và có thông báo kết quả xử lý về Sở Tư pháp theo quy định.

Tại cấp huyện: Qua kiểm tra 172 VBQPPL do HĐND, UBND cấp huyện ban hành đã phát hiện 28 văn bản có dấu hiệu không phù hợp.

Phòng Tư pháp cấp huyện đã kiểm tra theo thẩm quyền trên 5.445 VBQPPL do HĐND, UBND cấp xã ban hành. Qua kiểm tra, đã phát hiện 2.087 văn bản có dấu hiệu không phù hợp với quy định của pháp luật (phần lớn sai sót về thể thức, kỹ thuật trình bày). Phòng Tư pháp đã có văn bản yêu cầu HĐND, UBND cấp xã tự kiểm tra và xử lý đối với các văn bản có dấu hiệu không phù hợp về thẩm quyền, nội dung; đối với những văn bản có sai sót về thể thức, kỹ thuật trình bày thì yêu cầu cấp xã rút kinh nghiệm chung. Cấp xã đã tiến hành tự kiểm tra, xử lý và rút kinh nghiệm đối với các văn bản bị kiến nghị theo quy định.

Tại cấp xã: Qua kiểm tra 2.081 VBQPPL đã phát hiện 873 VBQPPL có dấu hiệu không phù hợp với quy định của pháp luật và đã tiến hành tự xử lý theo quy định.

2. Một số tồn tại, hạn chế

2.1. Về xây dựng văn bản pháp luật

- Công tác xây dựng, ban hành VBQPPL: Một số ban, ngành chưa chủ động đề xuất hoặc điều chỉnh chương trình xây dựng VBQPPL của tỉnh, còn đưa vào chương trình những văn bản chưa thực sự cần thiết. Trong việc thực hiện quy trình xây dựng, ban hành VBQPPL còn có đơn vị chưa tổ chức được việc khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội, tổ chức lấy ý kiến nhưng đối tượng lấy ý kiến hẹp, chất lượng lấy ý kiến không cao. Việc thực hiện thẩm định ở cấp huyện, ý kiến đóng góp của công chức tư pháp - hộ tịch ở cấp xã còn hạn chế. Chất lượng ban hành VBQPPL của cấp xã chưa cao, chưa đảm bảo yêu cầu về thể thức, nội dung, kỹ thuật trình bày văn bản.

- Trong công tác rà soát, kiểm tra và xử lý VBQPPL: Một số sở, ban, ngành chưa chủ động tham mưu cho UBND tỉnh tự kiểm tra các VBQPPL do UBND tỉnh ban hành và rà soát các VBQPPL do HĐND, UBND tỉnh ban hành liên quan đến lĩnh vực quản lý mà chỉ thực hiện khi Sở Tư pháp đề nghị phối hợp nên chất lượng rà soát chưa cao. Cấp huyện chưa chủ động thường xuyên rà soát các VBQPPL do HĐND, UBND cấp huyện ban hành. Công tác kiểm tra theo thẩm quyền của cấp huyện đối với VBQPPL của cấp xã còn chưa có chiều sâu (chủ yếu kiểm tra về thể thức và kỹ thuật trình bày).

- Công tác giám sát, kiểm tra tình hình thực hiện văn bản pháp luật còn một số hạn chế nhất định như việc theo dõi, đôn đốc các cơ quan, đơn vị thực hiện các kết luận sau giám sát, kiểm tra chưa thực hiện quyết liệt.

2.2. Về tổ chức thi hành văn bản pháp luật

- Một số cấp ủy, chính quyền địa phương chưa chủ động, quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thi hành văn bản pháp luật.

- Công tác chỉ đạo thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến các văn bản tại một số cơ quan, đơn vị chưa được thường xuyên; việc triển khai phổ biến các văn bản pháp luật mới tới cán bộ, nhân dân tại một số nơi chưa được kịp thời, một số sở, ban, ngành chưa thực hiện được vai trò của mình trong tổ chức phổ biến VBQPPL thuộc ngành, lĩnh vực quản lý của mình tới cán bộ, công chức và nhân dân trên địa bàn tỉnh. Công tác triển khai “Ngày pháp luật” còn mang tính hình thức, chất lượng chưa cao.

- Công tác phổ biến, tuyên truyền các văn bản quản lý nhà nước liên quan đến pháp luật tại các xã vùng sâu, vùng cao, vùng biên giới thực hiện chưa có hiệu quả, chưa tập trung vào đúng đối tượng cần phổ biến, chưa đi sâu vào các nội dung, lĩnh vực có nhiều sự quan tâm của xã hội, của các tầng lớp nhân dân để đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy và chính quyền. Hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật còn nặng về tổ chức hội nghị.

- Mặc dù hiểu biết pháp luật của nhân dân đã được nâng lên, nhưng một bộ phận nhân dân vẫn chưa có ý thức tuân thủ pháp luật, thậm chí còn cố tình vi phạm pháp luật (ví dụ: Các hành vi vi phạm pháp luật về an toàn giao thông, buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả…). Hầu hết, nhân dân vẫn chưa có thói quen chủ động tìm hiểu văn bản quản lý liên quan đến pháp luật mà chỉ khi có vướng mắc liên quan tới pháp luật mới tìm hiểu.

2.3. Về năng lực cán bộ, công chức

Năng lực của một số cán bộ, công chức từ tỉnh đến cơ sở nhìn chung còn hạn chế, một số cán bộ làm công tác pháp chế ở các sở, ngành vẫn chưa phát huy được vai trò, hiệu quả. Công chức làm công tác tham mưu soạn thảo văn bản ở cấp huyện, cấp xã vừa thiếu, vừa yếu, trong khi khối lượng công việc tham mưu xây dựng văn bản, tổ chức thực hiện tại cấp huyện, cấp xã rất lớn dẫn đến quá tải.

2.4. Về mặt nội dung, hình thức văn bản quy phạm pháp luật

Qua nghiên cứu, còn tồn tại đáng kể những văn bản chứa đựng những quy định không phù hợp với các hướng dẫn hoặc quy định có tính nguyên tắc của cấp trên. Thể thức văn bản thường không thống nhất. Các văn bản ít giá trị chỉ đạo thực hiện còn nhiều. Thậm chí, có những văn bản hình thức là quy phạm pháp luật, nhưng nội dung lại là văn bản hành chính thông thường và ngược lại.

Từ những tồn tại nêu trên cho thấy, hiệu quả của việc ban hành và sử dụng VBQPPL, văn bản quản lý nhà nước của các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn là chưa cao.

3. Nguyên nhân

3.1. Nguyên nhân khách quan

Tỉnh Lạng Sơn là một tỉnh miền núi, biên giới, nhiều dân tộc, xuất phát điểm nền kinh tế tỉnh thấp so với bình quân chung của cả nước, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí không đồng đều giữa các khu vực, nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Địa bàn rộng, địa hình chia cắt, đòi hỏi nguồn vốn đầu tư rất lớn cho xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển sản xuất, kinh doanh, tình hình thiên tai, dịch bệnh luôn diễn biến bất thường. Một số văn bản quản lý nhà nước quy định về chế độ, chính sách quản lý mang tầm vĩ mô chưa hoàn chỉnh và đồng bộ...

3.2. Nguyên nhân chủ quan

Thứ nhất, công tác chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện ở một số cơ quan, đơn vị, các cấp, các ngành còn thiếu tập trung, quyết liệt, chưa có sự hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, báo cáo để kịp thời xử lý những phát sinh mới. Sự phối kết hợp của các cấp, các ngành trong việc thực hiện các nhiệm vụ chung của tỉnh cũng như trong giải quyết các nhiệm vụ khó khăn, phức tạp còn nhiều bất cập; còn xảy ra tình trạng giải quyết không dứt điểm; một số đơn vị chưa chủ động tham mưu đề xuất, chưa tích cực trong tổ chức thực hiện.

Thứ hai, trình độ, năng lực của một số cán bộ, công chức còn hạn chế so với yêu cầu nhiệm vụ; công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ còn bất cập, chưa thực sự đáp ứng nhu cầu đòi hỏi về công tác đào tạo, đào tạo lại đội ngũ cán bộ trong tình hình mới. Cải cách thủ tục hành chính còn chậm, hiệu quả chưa cao.

Thứ ba, khả năng dự báo diễn biến tình hình thị trường còn hạn chế, không lường hết được những khó khăn, những yếu tố phát sinh, do đó khi xây dựng một số mục tiêu còn chủ quan, tính khả thi thấp.

Thứ tư, nhận thức chưa đầy đủ của không ít cán bộ, công chức quản lý lãnh đạo các cấp, các ngành về vai trò của văn bản quản lý nhà nước, chất lượng các văn bản ban hành. Chính vì nhận thức chưa đầy đủ mà việc đầu tư cải tiến loại công cụ này có nơi, có lúc chưa được quan tâm hoặc vẫn còn là hình thức.

Thứ năm, do các quy định và hướng dẫn về nghiệp vụ xây dựng, sử dụng văn bản quản lý của ta hiện còn ít, thiếu cụ thể và đặc biệt không được phổ biến, tập huấn, hướng dẫn đến nơi, đến chốn cho các cán bộ, công chức có nhiệm vụ xây dựng các văn bản. Có thể khẳng định rằng, trong lĩnh vực này, công tác nghiên cứu và triển khai ứng dụng của ta còn rất chậm, chưa hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới.

Thứ sáu, một nguyên nhân khác là do chính lề lối làm việc thiếu khoa học còn tồn tại trong nhiều cơ quan. Khi làm việc chủ yếu còn theo kinh nghiệm, ít dựa vào thông tin, coi nhẹ vai trò của văn bản, văn bản cũng không được quan tâm như là một phương tiện giáo dục pháp luật nhằm nâng cao trình độ văn hóa quản lý của cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan, đơn vị.

Thứ bảy, công tác bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ không được thực hành thống nhất và thường xuyên cũng là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng soạn thảo văn bản kém chất lượng, sử dụng văn bản tùy tiện trong công việc.

Thứ tám, cần nhấn mạnh là do chế độ kiểm tra không thường xuyên, có nơi, có lúc còn lỏng lẻo của chúng ta. Chính việc kiểm tra thiếu chặt chẽ và không xử lý kịp thời, nghiêm khắc đã làm cho những thiếu sót trong các văn bản ở nhiều cấp, ngành có điều kiện tồn tại lâu dài.

Thứ chín, một số văn bản của các bộ, ngành trung ương ban hành còn có sự chồng chéo, thiếu linh hoạt, thiếu tính kịp thời…, điều đó ít nhiều gây ảnh hưởng tới quá trình ban hành văn bản thực thi của tỉnh.

4. Một số giải pháp nâng cao chất lượng ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn trong thời gian tới

Một là, các cơ quan chức năng trung ương và các cơ quan chức năng của tỉnh Lạng Sơn cần ban hành các văn bản điều chỉnh những bất cập trong một số văn bản đã ban hành, trong chỉ đạo cần chặt chẽ, thực tế, kịp thời, tránh chồng chéo để công tác ban hành văn bản đạt hiệu quả.

Hai là, hàng năm các cấp, các ngành cần xây dựng kế hoạch, văn bản chỉ đạo để việc triển khai thực hiện kiểm tra, xử lý văn bản pháp luật, công tác theo dõi thi hành pháp luật kịp thời, thống nhất và đồng bộ từ trung ương đến địa phương.

Ba là, cần coi trọng công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, từ đó góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, nhân dân trong việc chấp hành các văn bản pháp luật của các cơ quan nhà nước các cấp trên địa bàn tỉnh. Bên cạnh đó, việc đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất cho công tác xây dựng, ban hành văn bản, phổ biến, giáo dục pháp luật cũng cần được coi trọng.

Bốn là, tích cực đẩy mạnh việc cải cách bộ máy nhà nước đối với các cơ quan hành chính địa phương với các biện pháp cụ thể. Trong đó, có việc rà soát chức năng, quyền hạn của các cơ quan, rà soát lại đội ngũ cán bộ từng cấp và thực hiện chế độ trách nhiệm rõ ràng. Trong thời gian qua, trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã thực hiện rất tốt, song các biện pháp tiến hành vẫn còn đâu đó có sự thiếu đồng bộ và chưa kiên quyết nên vẫn còn tình trạng chồng lấn thẩm quyền giữa một số cơ quan chức năng nhất là đối với cấp huyện.

Năm là, phải thực hiện công tác rà soát văn bản thường xuyên và bảo đảm tính hệ thống. Khi đệ trình VBQPPL, bắt buộc phải theo quy trình và đúng quy định.

Sáu là, biện pháp có tính bắt buộc vẫn là công tác kiểm tra, giám sát, công tác này cần được đổi mới cách làm, đồng thời cần chỉ đạo xây dựng các quy chế kiểm tra, xử lý VBQPPL, quy chế phối hợp rà soát, hệ thống hóa văn bản, quy chế theo dõi thi hành pháp luật, đảm bảo cho công tác này không chồng chéo nhau, nhưng cũng không buông lỏng. Kiểm tra phải đi đôi với xử lý nghiêm các vi phạm đã được phát hiện thì mới mang lại hiệu quả thiết thực.

Bảy là, chất lượng đội ngũ công chức làm công tác theo dõi thi hành pháp luật, tham mưu xây dựng văn bản pháp luật cũng cần được quan tâm, bảo đảm yêu cầu là trung thành với Tổ quốc, tận tụy, trách nhiệm với công việc, có bản lĩnh, tư tưởng chính trị vững vàng, có lối sống lành mạnh. Bên cạnh đó, cũng đòi hỏi cần có trình độ chuyên môn giỏi, có kỹ năng, được tập huấn, bồi dưỡng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để đáp ứng được công việc một cách hiệu quả.

Văn bản quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn nói riêng và các địa phương trên địa bàn cả nước nói chung đều là công cụ để quản lý, điều hành, chuyển tải thông tin… phục vụ cho công tác quản lý nhà nước và thi hành pháp luật. Trên thực tế, công tác ban hành và quản lý văn bản trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn trong thời gian qua đã có những tiến bộ, chuyển biến, không ngừng phát huy hiệu quả và có những tác động tích cực trong các mặt đời sống xã hội của địa phương. Tuy nhiên, so với yêu cầu mới, đặc biệt là các yêu cầu của quản lý nhà nước trong tình hình đất nước ta đang trên đà phát triển, hội nhập quốc tế, thì vai trò của văn bản quản lý nhà nước ngày càng trở nên quan trọng và hết sức cần thiết trong việc quản lý, điều hành đất nước.

Nguyễn Thanh Tú

Tài liệu tham khảo:

[1] Báo cáo của tỉnh Lạng Sơn tổng kết 10 năm thực Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: