Chủ nhật 18/01/2026 20:02
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao chế độ trách nhiệm của cán bộ, công chức, chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự nhằm bảo đảm quyền con người khi tiến hành kê biên tài sản

Vấn đề đảm bảo quyền con người trong các hoạt động thi hành án dân sự mà cụ thể là khi kê biên tài sản thi hành án dân sự vẫn còn nhiều bất cập. Vì vậy, tác giả đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả của việc bảo đảm quyền con người khi kê biên tài sản trong thi hành án dân sự hiện nay.

Trong giai đoạn hiện nay, thi hành án dân sự là một vấn đề bức xúc, bởi trong quá trình thực thi pháp luật về thi hành án dân sự đã nảy sinh rất nhiều vấn đề mới cần phải giải quyết, cũng như phải chịu áp lực từ nhiều phía, nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho việc thi hành án dân sự gặp nhiều khó khăn. Trong đó, việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế nói chung và biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản nói riêng cũng có không ít những trở ngại cả về mặt pháp lý cũng như thực tiễn vì ảnh hưởng trực tiếp đến quyền con người của các bên đương sự bao gồm bên phải thi hành án, bên được thi hành án và bên có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Vì vậy, vấn đề đảm bảo quyền con người trong các hoạt động thi hành án dân sự mà cụ thể là khi kê biên tài sản thi hành án dân sự vẫn còn nhiều bất cập, đòi hỏi cần được khắc phục kịp thời. Trong đó, không thể thiếu giải pháp xây dựng chế độ trách nhiệm của chấp hành viên, cán bộ thi hành án dân sự, nâng cao năng lực chuyên môn... hoàn thiện cơ chế kiểm tra giám sát hoạt động thi hành án dân sự theo đúng quy định của pháp luật.


Trước mắt và trong thời gian tới, đối với cán bộ, công chức cơ quan thi hành án dân sự trong mối quan hệ với nhân dân (quan hệ cá nhân và Nhà nước) đòi hỏi xây dựng chế độ trách nhiệm bảo đảm mỗi cán bộ, công chức đặc biệt là chấp hành viên có thể phát huy tối đa năng lực cá nhân; đồng thời, xác định cụ thể trách nhiệm cá nhân của mỗi cán bộ, công chức, chấp hành viên trong quá trình thực thi công vụ, giảm thiểu nguy cơ có thể xâm phạm quyền của công dân, xâm hại đến quyền con người của các bên đương sự. Theo đó, pháp luật thi hành án dân sự đã cụ thể hóa mối quan hệ giữa các bên đương sự với cơ quan thi hành án dân sự là đại diện cho quyền lực nhà nước. Mỗi cán bộ, công chức, chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự phải xác định mình là đại diện của tổ chức công quyền, nghĩa là người làm công, mang quyền lực được ủy quyền từ nhân dân, do đó, xác định cụ thể các bên đương sự có quyền được làm tất cả những gì luật pháp không cấm, còn bản thân chỉ được phép làm những gì mà luật pháp quy định. Đồng thời, trách nhiệm của mỗi cán bộ, công chức, chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự là phải tôn trọng, bảo đảm thực hiện quyền con người và công dân cũng phải làm tròn những nghĩa vụ phát sinh từ việc hưởng thụ các quyền do Hiến pháp và pháp luật quy định.

Quyền và nghĩa vụ qua lại giữa cơ quan thi hành án dân sự và các bên đương sự bảo đảm tính ràng buộc hai chiều, trước hết, cần xác định việc nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức, chấp hành viên là phục vụ nhân dân, tăng cường tính trách nhiệm của cán bộ trong thực thi công vụ, đòi hỏi xác định cho bằng được cơ chế tự chịu trách nhiệm, “cá thể hoá trách nhiệm cá nhân”; xác định rõ giữa quyền hạn được giao và trách nhiệm, nghĩa vụ tương ứng; tránh, giảm thiểu tình trạng chịu trách nhiệm tập thể, cuối cùng hậu quả xảy ra nhưng không ai chịu trách nhiệm.

Bên cạnh đó, phát huy dân chủ, bảo đảm quyền con người một cách tối đa trong các hoạt động của lĩnh vực thi hành án dân sự và tạo điều kiện để các bên đương sự được tham gia vào việc kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự, hoạt động của cán bộ, công chức, chấp hành viên đòi hỏi phải có sự công khai, minh bạch trong mọi hoạt động, bảo đảm quyền được cung cấp thông tin một cách chân thực và chính xác từ phía cơ quan thi hành án dân sự.

Hơn nữa, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với cán bộ, công chức cơ quan thi hành án dân sự, đặc biệt là với chấp hành viên. Trước khi tiến hành kê biên tài sản ít nhất 05 ngày làm việc, phải cung cấp đầy đủ hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân nghiên cứu để kiểm sát cưỡng chế. Hiện nay, theo quy chế phối hợp hai ngành, nội dung yêu cầu này đã được đưa vào quy chế để thực hiện, đảm bảo không để xảy ra sai sót, xâm phạm quyền con người của các bên đương sự khi tiến hành kê biên tài sản. Cụ thể như, xác định tài sản tiến hành cưỡng chế, kê biên có phải là của người phải thi hành án không, tài sản có thuộc loại được kê biên không, còn liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của ai, nghĩa vụ phải thi hành án của người phải thi hành án và tài sản được xác định sẽ cưỡng chế, kê biên có đảm bảo điều kiện để được đăng ký quyền sử dụng cho người mua đấu giá thành không, nghĩa vụ phải thi hành án của người phải thi hành án và tài sản được xác định sẽ cưỡng chế, kê biên có giá trị có tương ứng không, kiểm tra toàn bộ thủ tục giao nhận giấy tờ về thi hành án đã đảm bảo đầy đủ chưa, có còn người nào bị tước quyền lợi do không được giao nhận thủ tục thi hành án không? Nếu là trường hợp phải niêm yết thông báo về thi hành án thì xác định trường hợp đó có đủ điều kiện để buộc phải niêm yết không, thời gian niêm yết đã đảm bảo chưa. Trên cơ sở đó nhằm đánh giá hồ sơ có đủ điều kiện để cơ quan thi hành án dân sự đưa ra cưỡng chế, kê biên hay không, nếu phát hiện có vi phạm, chưa đảm bảo thì có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án phải dừng việc cưỡng chế, kê biên để bổ sung các thiếu sót cho đảm bảo rồi mới được tiến hành.

Ngoài ra, cần có cơ chế bổ sung kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ công chức, chấp hành viên thi hành án dân sự. Thực hiện tiêu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ cơ quan thi hành án, xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên về chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác thi hành án, đảm bảo các chấp hành viên trước khi bổ nhiệm phải qua đào tạo nghề. Trên thực tế, hiện nay, nguồn này còn nhiều hạn chế, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu nâng cao trình độ nghiệp vụ, chuyên môn cho nguồn nhân lực trong lĩnh vực thi hành án dân sự. Mở nhiều lớp tập huấn về nghiệp vụ kê biên tài sản thi hành án, cập nhật kiến thức cho chấp hành viên về những quy định của pháp luật trong các lĩnh vực khác như: Nhà đất, xây dựng, sở hữu trí tuệ, ngân hàng… để từ đó, có thêm kinh nghiệm giải quyết, xử lý những khó khăn trong quá trình tác nghiệp. Bên cạnh đó, cũng cần có chế độ chính sách đãi ngộ với cán bộ, chấp hành viên một cách hợp lý, giúp họ có thể yên tâm về đời sống để tận tâm phục vụ cho công tác thi hành án dân sự.

Nguyễn Ngọc Sơn

Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông, Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: