Thứ ba 22/09/2026 09:25
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả công tác xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông đường bộ của lực lượng Cảnh sát giao thông Công an Thành phố Hồ Chí Minh

Trong phạm vi bài viết này, tác giả đề cập đến thực trạng xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông đường bộ của lực lượng Cảnh sát giao thông Công an Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời chỉ ra một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác này trong thời gian tới.

1. Thực trạng công tác xử phạt vi phạm hành chính về trật tự an, toàn giao thông đường bộ của lực lượng Cảnh sát giao thông Công an Thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục và khoa học kỹ thuật quan trọng của cả nước. Với vị trí địa lý đặc biệt và là cửa ngỏ để tập trung lượng lớn hàng hóa để sản xuất, xuất khẩu và trung chuyển hàng hóa đi các tỉnh, thành trong cả nước, giao thông ở đây đang giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội. Thành phố có 05 bến xe lớn là: Bến xe Miền Đông, bến xe Miền Tây, bến xe Chợ Lớn, bến xe quận 8, bến xe An Sương và nhiều tuyến đường chính có tầm quan trọng như Quốc lộ 1A, tuyến đường xuyên Á. Mạng lưới đường bộ của Thành phố được cấu trúc theo kiểu hình xuyên tâm và hình ô bàn cờ. Toàn Thành phố có khoảng 3.232 tuyến đường với chiều dài khoảng 3.981 km, tổng diện tích mặt đường vào khoảng 63,1 triệu m2. Các tuyến đường đều bố trí lưu thông hỗn hợp nhiều loại xe, lưu thông hai chiều có dải phân cách hoặc vạch sơn phân cách hai chiều lưu thông ngược nhau. Theo số liệu thống kê, Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt Công an Thành phố Hồ Chí Minh hiện đang quản lý 7.420.395 phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. Trong đó, có 556.688 xe ôtô và 6.863.707 xe mô tô, gắn máy các loại[1], đó là chưa tính đến các phương tiện xe mô tô, gắn máy mang biển số tỉnh và các loại xe máy điện và xe dành cho người tàn tật chưa được thống kê đầy đủ đang lưu thông trên địa bàn.

Với tình hình đặc điểm trên, thời gian qua, lực lượng Cảnh sát giao thông Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã chủ động tích cực tham mưu cho Giám đốc Công an Thành phố cấp ủy, chính quyền các cấp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực trật tự, an toàn giao thông có gắn với bảo đảm công tác xử lý vi phạm hành chính như: Tham mưu, đề xuất cấp ủy, chính quyền, các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, trường học, bệnh viện, đơn vị lực lượng vũ trang...; quán triệt và triển khai Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 04/9/2012 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và khắc phục ùn tắc giao thông, Chiến lược quốc gia bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 (ban hành theo Quyết định số 1586/QĐ-TTg ngày 14/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ) và củng cố Ban Chỉ đạo An toàn giao thông, Quyết định số 25/2011/QĐ-UBND ngày 14/5/2011 về ban hành Chương trình giảm ùn tắc giao thông giai đoạn 2011 - 2015, tầm nhìn đến năm 2020; phối hợp với các ngành, đoàn thể đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tham gia giữ gìn trật tự, an toàn giao thông, phát động mạnh mẽ phong trào “Toàn dân tham gia bảo đảm trật tự, an toàn giao thông”, gắn với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, xây dựng “Văn hóa giao thông”, tích cực phối hợp với các nhà trường mở các lớp giáo dục pháp luật về trật tự, an toàn giao thông cho học sinh, sinh viên, phối hợp với các phương tiện thông tin đại chúng mở các chuyên mục an toàn giao thông nhằm phản ánh kịp thời tình hình trật tự, an toàn giao thông trên toàn địa bàn Thành phố.

Trong gần 05 năm (từ năm 2019 đến tháng 6/2023), lực lượng Cảnh sát giao thông Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã phát hiện và tiến hành lập biên bản xử lý khoảng 5.350.460 trường hợp vi phạm, đã thi hành 4.756.537 quyết định xử phạt; tổng số tiền nộp phạt là 1.385,1 tỷ đồng (từ năm 2019 đến tháng 6/2023 đã thu được 338,450 tỷ đồng); tổng số tiền thu được nộp kho bạc Nhà nước đạt tỷ lệ 88,89% trên tổng số tiền thể hiện trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính; hình thức phạt bổ sung: Tạm giữ 439.508 phương tiện, tước giấy phép lái xe 478.327 trường hợp. Trung bình mỗi năm phát hiện và xử lý 1.337.615 trường hợp vi phạm[2]. Qua nghiên cứu các hồ sơ xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông cho thấy, mô tô hai bánh vi phạm chiếm tỷ lệ nhiều nhất lên đến 84,76% tổng số vụ vi phạm, số ô tô vi phạm chiếm trung bình 15,02% và các phương tiện khác không đáng kể là 0,22%; thời gian xảy ra vi phạm nhiều nhất thường tập trung vào các tháng có ngày nghỉ lễ kéo dài, các tháng trước, sau Tết Nguyên Đán và vào dịp nghỉ hè từ tháng 5 đến tháng 7 (bình quân khoảng từ 15 - 20% so với các tháng khác); trình độ nhận thức của chủ thể vi phạm: 8% tốt nghiệp tiểu học, 56% tốt nghiệp trung học cơ sở, 28% tốt nghiệp trung học phổ thông, 6% tốt nghiệp cao đẳng, đại học hoặc sau đại học, cá biệt có 02% người vi phạm không biết chữ. Các hành vi vi phạm chủ yếu gồm: Chạy xe quá tốc độ quy định, không đội mũ bảo hiểm; lưu thông ngược chiều; không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu, dừng và đỗ không đúng quy định; lưu thông không đúng phần đường, làn đường; điều khiển xe khi đã uống rượu, bia; lưu thông đường cấm, giờ cấm; xe chở quá số người quy định; lạng lách, đánh võng; không có giấy phép lái xe; xe chưa đăng ký, xe gắn biển số giả; xe không kiểm định an toàn kỹ thuật; xe chở quá tải, quá khổ; tránh, vượt không đúng quy định; hệ thống giảm thanh không bảo đảm; chuyển hướng sai quy định…

Có thể nói, vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn giao thông đường bộ là nguyên nhân cơ bản và chủ yếu dẫn đến tình trạng gia tăng tai nạn giao thông, ùn tắc giao thông. Do đó, công tác phát hiện và xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật các hành vi vi phạm về trật tự, an toàn giao thông đường bộ là yêu cầu thường xuyên, bức thiết nhằm bảo đảm trật tự an, toàn giao thông trên toàn địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, mang lại niềm tin của người dân đối với lực lượng Cảnh sát giao thông Thành phố.

2. Một số khó khăn, hạn chế trong công tác xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông đường bộ của lực lượng Cảnh sát giao thông Công an Thành phố Hồ Chí Minh

Một là, hiện nay, chưa có chế tài xử lý đối với các chủ phương tiện vi phạm giao thông đường bộ trốn tránh khi bị phát hiện vi phạm giao thông qua hệ thống camera giám sát (chưa lập biên bản), bởi lẽ, sau thời gian xác minh nguồn gốc phương tiện, đối chiếu, gửi thư mời nhiều lần mà đối tượng vẫn cố tình không đến trụ sở cơ quan công an để giải quyết và chấp hành quyết định xử phạt dẫn đến hồ sơ xử phạt tồn đọng, chờ giải quyết còn quá nhiều (trung bình mỗi năm, chiếm khoảng 17,53% trong tổng hồ sơ quản lý).

Hai là, theo quy định tại khoản 2 Điều 39 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) thì Trạm trưởng, Đội trưởng của chiến sỹ Công an nhân dân không có quyền áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. Vì vậy, trên thực tế, khi phát hiện vi phạm thì những người này không thể ra quyết định khắc phục hậu quả như: Buộc phải hạ tải ngay phần quá tải, dỡ phần quá khổ... Sau khi lập biên bản vi phạm xong, các đối tượng vẫn tiếp tục chở quá tải hoặc quá khổ, như vậy chưa bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật.

Ba là, biên chế lực lượng xử lý vi phạm hành chính, lực lượng Cảnh sát giao thông Công an Thành phố Hồ Chí Minh còn thiếu về số lượng và có phần hạn chế về chất lượng: Trong các ngày lễ, tết, lực lượng xử lý vi phạm hành chính vẫn phải đi tuần tra, một bộ phận cán bộ, chiến sỹ được luân chuyển từ các đơn vị, bộ phận nghiệp vụ khác hoặc tuyển từ ngành ngoài vào được bố trí làm công tác xử lý vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông nhưng chưa được tập huấn hoặc đào tạo cụ thể về trình tự, thủ tục xử lý vi phạm hành chính nên đã phần nào ảnh hưởng đến hiệu quả công việc. Một bộ phận cán bộ, chiến sỹ trong quá trình tiếp xúc với người vi phạm tại trụ sở cơ quan, đơn vị có thái độ, ứng xử chưa đúng mực hoặc khi người dân có thắc mắc thì giải thích chưa rõ ràng, cụ thể, khiến người vi phạm cho rằng lực lượng Cảnh sát giao thông hạch sách, nhũng nhiễu, buộc người dân phải đi lại nhiều lần, gây nhiều phiền hà cho họ. Điều này đã gây ra sự phản ứng tiêu cực của người vi phạm tại trụ sở cơ quan, ảnh hưởng ít nhiều đến hình ảnh của lực lượng Cảnh sát giao thông.

Bốn là, do thường xuyên bị quá tải bởi một khối lượng công việc quá lớn, cán bộ xử lý vi phạm hành chính khi ra quyết định xử phạt thường đề xuất lãnh đạo hoặc ra quyết định xử phạt ở mức trung bình của khung phạt tiền mà ít chú ý đến việc xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để quyết định hình thức và mức phạt cho phù hợp, dẫn đến một số trường hợp cần phạt nặng và áp dụng các biện pháp xử phạt bổ sung để răn đe thì lại không được áp dụng, khiến cho công tác xử lý vi phạm mới chỉ “chạy” theo số lượng, chưa đi vào chiều sâu. Do đó, hiệu quả ngăn ngừa vi phạm và tái vi phạm còn hạn chế.

Năm là, việc thực hiện sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm đối với công tác xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông đường bộ chưa được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục. Do đó, cán bộ, chiến sỹ chưa biết được những hạn chế, tồn tại trong công tác để có hướng đề xuất phù hợp.

3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông đường bộ của lực lượng Cảnh sát giao thông Công an Thành phố Hồ Chí Minh

Thứ nhất, bổ sung chế tài xử lý vi phạm hành chính đối với trường hợp không chấp hành văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực giao thông đường bộ nhằm bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và hình thức xử phạt phải ngang bằng hoặc gấp đôi so với lỗi đã vi phạm.

Bên cạnh đó, bổ sung tại khoản 2 Điều 39 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) quy định cho Trạm trưởng, Đội trưởng của chiến sỹ Công an nhân dân đang thi hành nhiệm vụ được áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả như: Buộc phải hạ tải ngay phần quá tải, dỡ phần quá khổ...

Thứ hai, Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt Công an Thành phố Hồ Chí Minh cần tăng cường công tác quản lý, lưu trữ hồ sơ, các loại biểu mẫu, giấy tờ trong xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật. Rà soát lại những hồ sơ xử lý đã lập biên bản nhưng chưa xử lý để kịp thời báo cáo Ban Giám đốc có hướng giải quyết, tránh tình trạng tồn đọng hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính trong thời gian dài dẫn đến hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính. Đồng thời, tổ chức đánh giá quy trình xử lý vi phạm hành chính, đối với những hồ sơ chưa bảo đảm đúng theo quy định thì phải bổ sung hoặc làm lại. Ngoài ra, Ban Chỉ huy Đội cần trực tiếp nghiên cứu hồ sơ xử lý và chỉ đạo cán bộ, chiến sỹ khi tham mưu ra quyết định xử phạt phải chú ý đến các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ để trình lãnh đạo ra quyết định xử phạt phù hợp theo từng đối tượng và đúng quy định của pháp luật. Qua đó, rút ra những ưu điểm để tiếp tục phát huy, đồng thời chấn chỉnh kịp thời những mặt còn hạn chế và đề ra yêu cầu để cán bộ, chiến sỹ thực hiện.

Thứ ba, thường xuyên phối hợp với Công an quận (huyện), cụ thể là lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Cảnh sát khu vực để xác minh thông tin về người vi phạm và chủ phương tiện vi phạm. Khi yêu cầu Cảnh sát khu vực tiến hành gửi giấy mời cho các đối tượng vi phạm giao thông phải bảo đảm rằng, người vi phạm nhận được giấy mời để làm cơ sở xử lý nếu họ cố tình trốn tránh. Ngoài ra, cần tăng cường mối quan hệ phối hợp với cơ quan Cảnh sát điều tra trong phát hiện, mở rộng điều tra các vụ án có liên quan.

Thứ tư, tăng cường biên chế hợp lý về cơ cấu tổ chức của lực lượng làm công tác xử lý vi phạm giao thông kết hợp nâng cao trình độ nhận thức, kiến thức pháp luật cho cán bộ, chiến sỹ làm công tác xử lý (nhất là đối với cán bộ, chiến sỹ vừa được luân chuyển hoặc từ ngành ngoài tuyển vào Ngành Công an). Khi tiến hành xử lý vi phạm, nếu có phát sinh các vấn đề pháp lý bất cập trong các văn bản quy phạm pháp luật, phải kịp thời tập hợp và báo cáo với lãnh đạo cấp trên có thẩm quyền giải quyết.

Ngoài ra, Phòng Pháp chế Công an Thành phố Hồ Chí Minh cần tổ chức các buổi tập huấn chuyên sâu về công tác xử lý vi phạm hành chính cho lực lượng Cảnh sát giao thông và giải đáp những thắc mắc của cán bộ, chiến sỹ trong thực tiễn áp dụng pháp luật.

Thứ năm, tăng cường công tác quản lý, giáo dục, phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, phẩm chất, đạo đức, lối sống trong cán bộ, chiến sỹ; khắc phục tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho tổ chức, cá nhân, vi phạm điều lệnh, quy trình xử lý, kỷ luật công tác và các biểu hiện tiêu cực khác trong công tác, sinh hoạt. Tích cực tổ chức thực hiện các cuộc vận động xây dựng lực lượng trong sạch, vững mạnh, nhất là cuộc vận động “Công an nhân dân chấp hành nghiêm điều lệnh, xây dựng nếp sống vì nhân dân phục vụ”, xây dựng văn hóa ứng xử trong lực lượng Cảnh sát giao thông theo khẩu hiệu hành động “Chủ động - Kỷ cương - Trách nhiệm - Hiệu quả”.

Bên cạnh đó, cần chú trọng công tác tổng kết, rút kinh nghiệm trong thực tiễn tiến hành xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ để đề ra các phương hướng cụ thể. Qua đó, kịp thời khen thưởng, biểu dương cán bộ, chiến sỹ có thành tích tốt trong công tác xử lý vi phạm nhằm khích lệ, động viên cán bộ, chiến sỹ hoàn thành tốt nhiệm vụ.

ThS. Lê Văn Có

Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

[1]. Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh (2022), Báo cáo sơ kết 03 năm thực hiện “Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 04/9/2012 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và khắc phục ùn tắc giao thông” trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

[2]. Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Báo cáo tổng kết công tác 05 năm (từ năm 2019 đến tháng 6/2023).

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 386), tháng 8/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định hướng nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý tại Lạng Sơn đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Định hướng nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý tại Lạng Sơn đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Trong bối cảnh đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc với những bước chuyển dịch mang tính chiến lược, yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật gắn liền với việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân ngày càng trở nên cấp bách. Trong tiến trình đó, hoạt động trợ giúp pháp lý (TGPL) giữ vai trò nền tảng trong việc hiện thực hóa công bằng xã hội và bảo đảm quyền tiếp cận công lý bình đẳng cho mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là các đối tượng yếu thế. Để cung cấp kịp thời dịch vụ pháp lý chất lượng cho người nghèo, người thuộc diện chính sách trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh Lạng Sơn đã ban các hành kế hoạch và tổ chức triển khai các nội dung của Luật Trợ giúp pháp lý, góp phần thực hiện quyền con người, quyền công dân. Trong 06 tháng đầu năm 2026, công tác TGPL tại Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh Lạng Sơn đã đạt được những kết quả đáng kể.
Công tác phối hợp giữa Tòa án nhân dân và cơ quan thi hành án dân sự trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Công tác phối hợp giữa Tòa án nhân dân và cơ quan thi hành án dân sự trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Kỷ niệm 80 năm Ngày Truyền thống thi hành án dân sự Việt Nam (19/7/1946 - 19/7/2026) là dịp để nhìn lại chặng đường hình thành, xây dựng và phát triển của Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) - bộ phận cấu thành không thể tách rời của nền tư pháp Việt Nam. Trải qua 80 năm, Hệ thống THADS không ngừng được củng cố, hoàn thiện tổ chức bộ máy, cơ chế pháp lý, đóng góp quan trọng vào công cuộc bảo vệ công lý, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong tiến trình đó, mối quan hệ phối hợp giữa Tòa án nhân dân và các cơ quan THADS luôn giữ vai trò trung tâm, là “sợi chỉ đỏ” kết nối hoạt động xét xử với hoạt động thi hành án, bảo đảm mỗi bản án, quyết định của Tòa án không chỉ dừng lại trên văn bản mà thực sự đi vào cuộc sống, phát huy giá trị, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Đặc biệt, trong bối cảnh yêu cầu cải cách tư pháp, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế đang đặt ra ngày càng cấp thiết, việc tổng kết, phân tích công tác phối hợp giữa hai thiết chế này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc.
Đổi mới tư duy, quy trình, nâng cao chất lượng công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ thi hành án dân sự phục vụ hiệu quả cho việc hoàn thành chỉ tiêu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới

Đổi mới tư duy, quy trình, nâng cao chất lượng công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ thi hành án dân sự phục vụ hiệu quả cho việc hoàn thành chỉ tiêu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới

Trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp, chuyển đổi số và sắp xếp, tinh, gọn tổ chức bộ máy đặt ra yêu cầu và nhiệm vụ mới đối với Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS). Theo đó, công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ không chỉ giải đáp khó khăn, vướng mắc trong từng vụ việc cụ thể mà còn phải bảo đảm thống nhất nhận thức, áp dụng pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý, chỉ đạo, điều hành trong toàn Hệ thống THADS. Thực tiễn cho thấy, chất lượng công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ có tác động trực tiếp đến chất lượng tổ chức thi hành án và kết quả thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao. Vì vậy, việc đổi mới tư duy, quy trình và nâng cao chất lượng công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ THADS là yêu cầu cấp thiết, góp phần đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Giám định tư pháp đối với dữ liệu điện tử trong tư pháp hình sự Việt Nam

Giám định tư pháp đối với dữ liệu điện tử trong tư pháp hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật Việt Nam ghi nhận dữ liệu điện tử là một nguồn chứng cứ trong tố tụng hình sự, đồng thời, thiết lập cơ chế giám định tư pháp nhằm phục vụ hoạt động tố tụng. Tuy nhiên, thực tiễn giám định tư pháp đối với dữ liệu điện tử trong tư pháp hình sự còn bộc lộ nhiều hạn chế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng, nghiên cứu làm rõ những bất cập, hạn chế trong hoạt động giám định tư pháp đối với dữ liệu điện tử trong tư pháp hình sự Việt Nam, từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.
Hoàn thiện cơ chế bảo đảm nguồn lực trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 3 tỉnh Vĩnh Long

Hoàn thiện cơ chế bảo đảm nguồn lực trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 3 tỉnh Vĩnh Long

Trong giai đoạn đất nước bước vào kỷ nguyên mới, việc tăng cường nguồn lực thực hiện trợ giúp pháp lý, đặc biệt, cho đồng bào dân tộc thiểu số là nhiệm vụ quan trọng.
Truyền thông trợ giúp pháp lý cho trẻ em qua hình thức phiên tòa giả định từ thực trạng hoạt động của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 3 tỉnh Vĩnh Long

Truyền thông trợ giúp pháp lý cho trẻ em qua hình thức phiên tòa giả định từ thực trạng hoạt động của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 3 tỉnh Vĩnh Long

Phiên tòa giả định được kỳ vọng sẽ trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho công tác tuyên truyền pháp luật về trợ giúp pháp lý cho trẻ em nói riêng và chính sách của Đảng, Nhà nước nói chung, góp phần xây dựng đất nước công bằng, xã hội văn minh trong kỷ nguyên mới.
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Bộ Tư pháp vững bước trong kỷ nguyên mới

Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Bộ Tư pháp vững bước trong kỷ nguyên mới

Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh Bộ Tư pháp là tổ chức cơ sở đoàn trực thuộc Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh Chính phủ, nơi hội tụ, tập hợp đội ngũ cán bộ trẻ đầy nhiệt huyết, có trình độ chuyên môn cao, hoạt động trong lĩnh vực pháp luật. Lĩnh vực pháp luật được xác định là một trong những nền tảng vững chắc để khởi tạo xã hội thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị Việt Nam trong sạch, vững mạnh, toàn diện. Qua đó, cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị làm “nòng cốt” để Nhân dân làm chủ được vận hành thông suốt, góp phần hiện thực hóa khát vọng đi lên chủ nghĩa xã hội của Nhân dân.
Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Trong suốt tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, ngành Tư pháp luôn song hành cùng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ những ngày đầu thành lập Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1945) đến nay, trải qua 80 năm xây dựng và trưởng thành, ngành Tư pháp luôn khẳng định vị thế là cơ quan tham mưu nòng cốt trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, trước yêu cầu đột phá về thể chế để đất nước phát triển bền vững, vai trò của công tác tư pháp tại địa phương càng quan trọng, đặc biệt, trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Chuyển đổi số công tác tư pháp ở Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và kiến nghị

Chuyển đổi số công tác tư pháp ở Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và kiến nghị

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với sự phát triển mạnh mẽ của dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây, công nghệ chuỗi khối (blockchain)… làm thay đổi sâu sắc phương thức quản trị nhà nước và cung cấp dịch vụ công.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Công an xã ở khu vực biên giới

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Công an xã ở khu vực biên giới

Tóm tắt: Phổ biến, giáo dục pháp luật là một trong những nhiệm vụ cơ bản của quản lý nhà nước và là cầu nối giữa pháp luật với người dân. Trong giai đoạn hiện nay, khi yêu cầu về xây dựng Nhà nước pháp quyền và phát huy vai trò quản lý xã hội bằng pháp luật ngày càng cao, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của lực lượng Công an xã càng đóng vai trò quan trọng. Bài viết nghiên cứu thực trạng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của lực lượng Công an xã ở khu vực biên giới, xác định những kết quả đạt được và khó khăn, vướng mắc gặp phải. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của lực lượng Công an xã ở khu vực biên giới trong thời gian tới.
Ngành Tư pháp thành phố Huế và những đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Ngành Tư pháp thành phố Huế và những đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Trải qua 35 năm xây dựng và phát triển, cùng với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Tư pháp, Thành ủy, Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố và tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, sáng tạo, nỗ lực, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, toàn ngành Tư pháp thành phố Huế đã triển khai thực hiện các mục tiêu với tinh thần vào cuộc “từ sớm, từ xa”, tập trung giải quyết, xử lý kịp thời những vấn đề mới phát sinh, thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ “hàng rào kỹ thuật” về các vấn đề pháp lý, nhất là lĩnh vực trực tiếp gắn liền với người dân, doanh nghiệp; góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng, phát triển của thành phố Huế, ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh đóng góp quan trọng trong hành trình phát triển kinh tế - xã hội

Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh đóng góp quan trọng trong hành trình phát triển kinh tế - xã hội

Trong bức tranh tổng thể phát triển của tỉnh Hà Tĩnh, Sở Tư pháp ngày càng thể hiện rõ vai trò nòng cốt trong tham mưu xây dựng thể chế, kiến tạo hành lang pháp lý vững chắc thông qua những hoạt động chuyên môn sâu, rộng và tinh thần đổi mới sáng tạo không ngừng, góp phần quan trọng vào sự phát triển toàn diện, bền vững của địa phương.
Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của người giám định tư pháp và tổ chức giám định tư pháp đáp ứng yêu cầu thực tiễn của hoạt động tố tụng

Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của người giám định tư pháp và tổ chức giám định tư pháp đáp ứng yêu cầu thực tiễn của hoạt động tố tụng

Tóm tắt: Kết luận giám định tư pháp là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng, được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án, vụ việc, giúp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chứng minh tội phạm. Bài viết phân tích quy định của pháp luật và thực trạng tổ chức, hoạt động của đội ngũ giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng của đối tượng này nhằm bảo đảm tính chính xác, khách quan và hiệu quả trong hoạt động tố tụng.
Nguyên tắc áp dụng có đi có lại trong pháp luật tương trợ tư pháp và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam

Nguyên tắc áp dụng có đi có lại trong pháp luật tương trợ tư pháp và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam

Việc tương trợ tư pháp được cơ quan chức năng triển khai và áp dụng theo các điều ước quốc tế (song phương và đa phương) mà Việt Nam là thành viên, trường hợp giữa Việt Nam và nước ngoài chưa có điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp thì thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại.
Luật áp dụng trong hoạt động tương trợ tư pháp

Luật áp dụng trong hoạt động tương trợ tư pháp

Trong hoạt động tương trợ tư pháp (TTTP) giữa các quốc gia, cơ quan nhà nước có thẩm quyền (được yêu cầu) ngoài việc áp dụng pháp luật nước mình, có phải áp dụng pháp luật nước ngoài hay không và điều kiện áp dụng ra sao là vấn đề luôn được đặt ra dưới khía cạnh tư pháp quốc tế, cũng như trong hoạt động tố tụng dân sự quốc tế nói chung.

Theo dõi chúng tôi trên: