Thứ sáu 12/06/2026 21:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả hoạt động chất vấn - hình thức giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Chất vấn là công cụ giám sát trực tiếp nhằm tăng cường hiệu lực và hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân. Hoạt động chất vấn hướng đến mục tiêu xây dựng, làm cho các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện ngày càng tốt hơn chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ của mình, bảo đảm sự minh bạch và chế độ trách nhiệm thực thi công vụ. Bài viết dưới đây nêu những hạn chế còn tồn tại trong hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân và đề xuất những giải pháp khắc phục.

Abstract: Questioning is a direct supervision tool of improving operation validity, effect of people's councils. Questioning is aimed at setting up, enabling state organs to better perform their function, powers, duties and to ensure the transparency and public duty responsibility mechanism. The following article raises shortcomings still existed in questioning activities of people's council delegates and some overcoming solutions.

1. Hoạt động chất vấn - hình thức giám sát hiệu quả của đại biểu Hội đồng nhân dân

Hiện nay, Nhà nước ta đã ban hành khá đầy đủ cơ sở pháp lý thực hiện quyền chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) thông qua Hiến pháp năm 2013 và các luật như Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, các luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước… Theo quy định của pháp luật hiện hành, chất vấn là một hình thức giám sát của đại biểu HĐND, được tổ chức công khai tại kỳ họp hoặc giữa hai kỳ họp HĐND, đại biểu HĐND nêu vấn đề thuộc trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND); thành viên khác của UBND; Chánh án Tòa án nhân dân; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân; Thủ trưởng cơ quan thuộc UBND và yêu cầu những người này trả lời nhằm giải đáp, làm rõ trách nhiệm của họ trong quá trình thực thi nhiệm vụ theo thẩm quyền được phân công. Hoạt động chất vấn thể hiện quyền lực của cơ quan dân cử và trách nhiệm của các đại biểu dân cử với cử tri, đồng thời cũng xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan công quyền.

Chất vấn của đại biểu HĐND nhằm tìm kiếm sự thật, quy kết trách nhiệm, đòi hỏi biện pháp giải quyết mà không chỉ là tìm hiểu thông tin và người bị chất vấn buộc phải trả lời. Chất vấn của đại biểu HĐND xuất phát từ nhu cầu kiểm soát, giám sát quyền lực. Chất vấn là công cụ giám sát quan trọng và hiệu quả của đại biểu HĐND vì nó quy trách nhiệm chính trị cá nhân và khi đã quy vào trách nhiệm cá nhân (không phải là trách nhiệm của tập thể) trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ thì cá nhân có thẩm quyền phải hành động theo đúng Hiến pháp và pháp luật, theo lương tâm và trách nhiệm. Chất vấn là một biện pháp không thể thiếu nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước phù hợp với nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.

Có thể thấy, qua chất vấn của đại biểu HĐND, nhiều vấn đề nổi cộm, bức xúc ở địa phương đã được giải quyết, sự băn khoăn, thắc mắc của cử tri phần nào được giải tỏa, góp phần thể hiện rõ tính chất của HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, làm tăng vai trò đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên của đại biểu HĐND; hoàn thành tốt chức năng giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của HĐND của đại biểu HĐND.

Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 đã quy định chi tiết thêm về trình tự, thủ tục hoạt động chất vấn của đại biểu HĐND, bảo đảm tính chủ động, có kế hoạch của hoạt động chất vấn, bảo đảm chất vấn có trọng tâm, sát thực; quy định rõ hơn về Thường trực HĐND xem xét việc trả lời chất vấn của người bị chất vấn trong thời gian giữa hai kỳ họp HĐND (phiên họp Thường trực HĐND cũng tiến hành chất vấn trực tiếp mà không chỉ yêu cầu người bị chất vấn trả lời bằng văn bản như quy định tại Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003); xác định rõ hơn hình thức chất vấn và trả lời chất vấn, chất vấn lại, quy kết trách nhiệm; chi tiết các trường hợp cho trả lời bằng văn bản và quy định rõ trình tự, thủ tục của việc trả lời bằng văn bản... Điều này cho thấy, các quy định pháp luật trong vấn đề này đã được quan tâm hoàn thiện, thể hiện tinh thần, thái độ coi trọng vai trò, ý nghĩa của quy trình, trình tự, thủ tục chất vấn nói riêng và hoạt động chất vấn của đại biểu HĐND nói chung, tránh được sự tùy tiện trong quá trình triển khai nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể tham gia hoạt động chất vấn.

2. Một số hạn chế của hoạt động chất vấn cần khắc phục

Có thể thấy, trong quá trình thực hiện hoạt động chất vấn, vẫn còn hiện tượng đại biểu HĐND chất vấn hời hợt, không thực tế, không trúng và đúng những vấn đề xã hội và dư luận quan tâm, hiện tượng đại biểu HĐND ngại va chạm, né tránh, nhiều vấn đề xã hội quan tâm bị chất vấn nhiều lần nhưng không được giải quyết triệt để khiến cử tri không hài lòng. Phần lớn đại biểu HĐND hoạt động không chuyên trách, không chuyên nghiệp, không thường xuyên, lại biến động sau mỗi nhiệm kỳ bầu cử; đại biểu được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, trình độ khác nhau và điều kiện tham gia vào hoạt động HĐND cũng không giống nhau trong khi hoạt động của đại biểu HĐND đòi hỏi nhiều kỹ năng như: Tiếp xúc cử tri; chất vấn; thu thập, phân tích và xử lý thông tin; giám sát; đánh giá; xây dựng chương trình hoạt động. Do vậy, người đại biểu phải lựa chọn câu hỏi chất vấn hết sức thận trọng, câu hỏi đúng trọng tâm, khúc chiết và dứt khoát, những bằng chứng, thông tin, dữ liệu trong câu chất vấn phải mang tính xác thực, có địa chỉ rõ ràng, đúng với đối tượng bị chất vấn. Trước khi chất vấn vấn đề gì, nội dung gì, người đại biểu phải tìm hiểu thật kỹ vấn đề, nội dung cần chất vấn, thu thập các thông tin, các bằng chứng xác thực. Câu hỏi, chất vấn của đại biểu thường gắn với hệ quả pháp lý, buộc đối tượng bị chất vấn phải giải trình rõ ràng cái đúng, cái sai và xác định rõ hệ quả pháp lý trước HĐND, trước cử tri và trước đại biểu.

Hoạt động chất vấn chỉ đạt được mục tiêu và hiệu quả giám sát khi các đại biểu HĐND ý thức được đầy đủ vai trò, trách nhiệm của mình, có khả năng sử dụng đúng và tối đa thẩm quyền mà mình được trao, có kỹ năng chất vấn và có thái độ kiên quyết trong quá trình thực hiện hoạt động chất vấn. Đây cũng chính là thước đo khả năng đại diện và mức độ thực hiện chức năng đại diện của đại biểu HĐND với cử tri. Từ một khía cạnh khác có thể thấy, chính hoạt động chất vấn đến lượt nó tác động trở lại tới đại biểu HĐND ở chỗ nếu câu hỏi chất vấn thể hiện đại biểu HĐND đã sâu sát vấn đề, tìm hiểu kỹ càng vấn đề, đưa ra được những câu hỏi buộc người bị chất vấn phải giải trình làm rõ, phải có biện pháp giải quyết để tạo sự chuyển biến cho vấn đề trên thực tế, thỏa mãn yêu cầu của cử tri thì khi đó đại biểu HĐND đã thể hiện rõ được vai trò, trách nhiệm của mình trước nhân dân, mới được coi là hoàn thành trọng trách được cử tri giao phó và giành được sự tín nhiệm của nhân dân.

Hoạt động của các đại biểu không đơn thuần chỉ dự các kỳ họp, tiếp xúc cử tri, mà cần có quỹ thời gian nhất định để nghiên cứu chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nắm tình hình kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân, các yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân để hoạt động của mỗi vị đại biểu tại các kỳ họp, tại các buổi tiếp xúc cử tri và nhất là trong hoạt động chất vấn đạt chất lượng cao hơn, bảo đảm thực hiện tốt chức năng quyết định các vấn đề quan trọng về kinh tế - xã hội của địa phương và chức năng giám sát hoạt động của các cơ quan, người đứng đầu các cơ quan nhà nước ở địa phương.

Số lượng đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách chiếm tỷ lệ thấp, còn có nhiều đại biểu trong khối cơ quan hành chính (như UBND, các sở, ngành) mà chưa có nhiều đại biểu thuộc các khối Đảng, đoàn thể, dẫn đến trong nhiều trường hợp, các đại biểu chưa thực hiện nhiệm vụ một cách công tâm, trách nhiệm cao. Chưa có quy định cụ thể đại biểu HĐND phải dành bao nhiêu thời gian trong tháng/quý cho hoạt động đại biểu dân cử; không có chế độ sinh hoạt định kỳ để nhận xét đánh giá hoạt động của Tổ đại biểu và đại biểu HĐND. Nguyên nhân một phần là do việc xác định cơ cấu đại biểu chưa hợp lý, trọng cơ cấu mà ít chú trọng vào tiêu chuẩn. Phần khác là do các đại biểu HĐND, nhất là các đại biểu ở cơ sở năng lực hạn chế, nặng về nhiệm vụ chuyên môn ở cơ quan, kiến thức pháp luật chưa đáp ứng yêu cầu để có thể phân tích, đánh giá, nghiên cứu chính sách, pháp luật, nghị quyết. Các đại biểu cũng không có nhiều điều kiện và thời gian tiếp cận với các nguồn thông tin cần thiết để phục vụ hoạt động.

3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân

Một là, quy định cách thức thực hiện thẩm quyền này theo hướng không xác định nội dung chất vấn mà để đại biểu HĐND trực tiếp hỏi về những nội dung mà đại biểu quan tâm. Chỉ quy định quyền của Thường trực HĐND trong việc xác định thời gian tiến hành phiên họp chất vấn tại mỗi kỳ họp HĐND. Khi đại biểu HĐND được trực tiếp chọn vấn đề chất vấn tức là đại biểu HĐND cũng được quyền chọn người trả lời chất vấn.

Hai là, ra nghị quyết về chất vấn (nghị quyết của HĐND có thể là đồng ý với trả lời chất vấn, có thể là đưa ra những biện pháp khắc phục, thời gian khắc phục hoặc quy kết trách nhiệm của cơ quan hay cá nhân bị chất vấn) để quy kết rõ ràng trách nhiệm của cơ quan, người trả lời chất vấn, tạo ra áp lực mang tính quy phạm buộc người trả lời chất vấn phải thực hiện nghiêm túc lời hứa của mình, làm cơ sở cho HĐND, các đại biểu HĐND và đông đảo cử tri theo dõi, giám sát việc thực hiện lời hứa tại phiên chất vấn của người bị chất vấn. Đồng thời cần nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi quy định liên quan đến hậu quả pháp lý của hoạt động chất vấn để có cơ chế xử lý phù hợp trong trường hợp người trả lời chất vấn đã đưa ra những lời hứa khắc phục, chấn chỉnh tình hình hoặc ban hành văn bản để điều chỉnh nhưng không thực hiện.

Ba là, việc pháp luật quy định cử tri có quyền bãi nhiệm đại biểu HĐND khi đại biểu HĐND không đáp ứng đủ các tiêu chuẩn của đại biểu HĐND, không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân (Điều 102 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015) là chưa thực sự phù hợp, bởi có thể sẽ tạo ra áp lực cho đại biểu HĐND trong việc bằng mọi cách phải bảo vệ lợi ích của cử tri, cho dù đó chỉ là lợi ích của một nhóm người mà không phải là lợi ích chung của cộng đồng hoặc trong trường hợp lợi ích của nhóm cử tri đi ngược lại lợi ích của địa phương. Do đó, để bảo vệ đại biểu HĐND trước áp lực của quyền bãi nhiệm đại biểu HĐND của cử tri, để bảo đảm tính độc lập và quyền tự do phát biểu ý kiến, phản ánh đầy đủ tâm tư, nguyện vọng của cử tri, của đại biểu HĐND, cần bổ sung quyền miễn trừ trách nhiệm pháp lý đối với phát biểu của đại biểu HĐND ở các phiên chất vấn. Quyền miễn trừ của đại biểu cần được bắt đầu từ khi người trúng cử đại biểu HĐND chính thức được phê chuẩn tư cách đại biểu bởi Ủy ban bầu cử cấp tỉnh và kết thúc khi cuộc bầu cử đại biểu HĐND khóa mới tiếp theo được tiến hành mà đại biểu không tiếp tục tham gia ứng cử.

Bốn là, trong quá trình lãnh đạo, các cấp ủy Đảng có cơ chế để Thường trực HĐND, các Ban của HĐND tham gia những vấn đề liên quan. Định kỳ hàng quý, Thường trực cấp ủy cùng cấp cần có chế độ giao ban với Thường trực HĐND, UBND để bàn bạc, thống nhất các chủ trương, chính sách lớn của địa phương, thông qua hoạt động này, định hướng, cơ sở, phương pháp, chất liệu cho hoạt động chất vấn được xác định. Xây dựng cơ chế, mối quan hệ làm việc giữa các cấp ủy Đảng với HĐND và UBND ở các cấp, bảo đảm cho mọi hoạt động của HĐND, đại biểu HĐND theo sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng.

Năm là, đổi mới về nhận thức của xã hội, của đại biểu HĐND về nhận thức của các đại biểu HĐND, vẫn còn có những đại biểu chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của HĐND và của cá nhân đại biểu, e ngại, thiếu tự tin, ngại va chạm trên diễn đàn trong hoạt động giám sát, chất vấn, cũng như trong tiếp xúc cử tri. Đại biểu HĐND chưa sử dụng tối đa thẩm quyền mà mình được trao như có đại biểu trong cả nhiệm kỳ chưa một lần tham gia phát biểu tại các kỳ họp.

Sáu là, nâng cao trình độ, năng lực đại biểu HĐND là yếu tố quan trọng hàng đầu để nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan dân cử. Vì vậy, trong công tác bầu cử đại biểu HĐND, cần thực sự coi trọng việc lựa chọn các ứng cử viên để bầu; việc xây dựng cơ cấu đại biểu cần cân nhắc làm thế nào vừa đảm bảo tính cơ cấu (vùng miền, dân tộc, tôn giáo, các lĩnh vực kinh tế - xã hội quan trọng…), vừa đảm bảo chất lượng đại biểu, không nên nặng về cơ cấu mà xem nhẹ tiêu chuẩn năng lực. Tập huấn, bồi dưỡng nâng cao năng lực của đại biểu theo như quy định của pháp luật, có thể tổ chức tập huấn theo chuyên đề, tổ chức giao ban, hội thảo trao đổi rút kinh nghiệm cho các đại biểu, thường xuyên tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng hoạt động cho các đại biểu bằng nhiều hình thức. Bồi dưỡng các kiến thức về quản lý nhà nước, pháp luật và kỹ năng có tính đặc thù trong hoạt động chất vấn như: Kỹ năng nghiên cứu tài liệu, thu thập thông tin, tiếp xúc cử tri, giám sát tại kỳ họp, giám sát thường xuyên, thẩm tra, chất vấn, phản biện... Tạo điều kiện thuận lợi về thời gian cho các đại biểu kiêm nhiệm để giúp đại biểu cân đối thời gian thỏa đáng cho các công việc thuộc trách nhiệm, vai trò của mình.

Bảy là, tuyên truyền, phổ biến pháp luật để các cấp, các ngành và toàn xã hội nhận thức đầy đủ, đúng đắn về vai trò, vị trí, quyền hạn trách nhiệm của HĐND và đại biểu HĐND. Đây cũng là cách tạo ra áp lực của dư luận xã hội đối với đại biểu HĐND, buộc mỗi đại biểu phải hoạt động tốt hơn, có trách nhiệm hơn trước xã hội và cử tri. Đồng thời, mỗi đại biểu HĐND phải xác định đúng vị trí, vai trò và nhiệm vụ là “người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương”. Từ đó chủ động, tích cực tham gia các hoạt động thuộc trách nhiệm của người đại biểu, thể hiện đầy đủ quyền hạn của mình trên các lĩnh vực hoạt động của Thường trực HĐND, các Ban của HĐND, Tổ đại biểu HĐND và nhiệm vụ của người đại biểu HĐND. Tập thể HĐND và cử tri cần tăng cường giám sát, đánh giá kết quả hoạt động của đại biểu HĐND nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm của đại biểu trước cử tri. Cần quy định cụ thể thời gian đại biểu HĐND phải dành cho hoạt động dân cử trong từng tháng hoặc quý; quy định chế độ sinh hoạt định kỳ để nhận xét đánh giá hoạt động của Tổ đại biểu và đại biểu HĐND. Hằng năm, mỗi đại biểu HĐND phải xây dựng chương trình công tác, đăng ký với Thường trực HĐND và báo cáo kết quả thực hiện với cử tri nơi mình được bầu. Có quy định cụ thể về thời gian tối thiểu đại biểu HĐND kiêm nhiệm phải dành cho hoạt động của HĐND; thực hiện cơ chế tự kiểm điểm đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động của mỗi đại biểu.

Tám là, cần tăng số lượng đại biểu HĐND chuyên trách; nâng cao kỹ năng chất vấn, tăng cường công tác thi hành, giám sát việc thực hiện nghị quyết về chất vấn. Bởi lẽ, hoạt động chất vấn có chất lượng và hiệu quả chỉ có ý nghĩa khi việc thực hiện nghị quyết về chất vấn, việc thực hiện lời hứa của người bị chất vấn được thực hiện và thực hiện có kết quả trên thực tế. Thường trực HĐND cần phân công các Ban HĐND theo dõi quá trình chỉ đạo của UBND cũng như tiến độ và kết quả giải quyết của các sở, ngành, địa phương đối với nghị quyết về chất vấn, các lời hứa trước cử tri, qua đó kịp thời có văn bản đôn đốc, nhắc nhở cũng như có thể kịp thời nắm tình hình thông tin, những khó khăn, vướng mắc cần được hỗ trợ tháo gỡ để giải quyết vấn đề của các sở, ngành.

Để hoạt động chất vấn của đại biểu HĐND có hiệu quả, có thể cung cấp thêm những điều kiện như: Đổi mới công tác thông tin phục vụ hoạt động của đại biểu, cần thường xuyên cung cấp đầy đủ tài liệu, nhất là các chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước, các đạo luật mới được ban hành, các thông tin về tình hình kinh tế - xã hội của địa phương cho đại biểu HĐND. Thực tế đã chứng minh, thông tin có vai trò quan trọng, quyết định chất lượng và hiệu quả công tác chất vấn. Vì vậy, để phục vụ hoạt động chất vấn, mỗi người đại biểu phải chủ động, tích cực nắm bắt thông tin, nắm tình hình thực tế của địa phương để có những cơ sở, cứ liệu cho chất vấn có chiều sâu và hiệu quả. Các tài liệu, báo cáo thẩm tra của các đoàn giám sát, báo cáo công tác của các cơ quan nhà nước tại địa phương cần chuyển đến đại biểu bảo đảm đúng và đủ thời gian cho đại biểu nghiên cứu, tìm hiểu. Mặt khác, cần nghiên cứu để có một mạng lưới cộng tác viên cho đại biểu HÐND dưới dạng hợp đồng theo công việc. Theo đó, khi đại biểu HÐND thực hiện nhiệm vụ của mình trong một lĩnh vực chuyên ngành nào đó mà cần đến những chuyên gia có am hiểu sâu sắc về lĩnh vực liên quan, thì đại biểu HÐND có quyền trưng tập hoặc thuê những người này giúp đại biểu trong thời gian làm nhiệm vụ.

TS. Trần Thị Diệu Oanh

Học viện Hành chính Quốc gia

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: